Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

15-Trì Kinh Công Ðức

24/10/201008:50(Xem: 3872)
15-Trì Kinh Công Ðức

KINH KIM CANG
GIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ

ÐOẠN 15

ÂM:

TRÌ KINH CÔNG ÐỨC.

Tu-bồ-đề! Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, sơ nhật phần, dĩ Hằng hàsa đẳng thân bố thí, trung nhật phần phục dĩ Hằng hà sa đẳng thân bố thí, hậunhật phần diệc dĩ Hằng hà sa đẳng thân bố thí. Như thị vô lượng bách thiên vạn ứckiếp dĩ thân bố thí. Nhược phục hữu nhân văn thử kinh điển, tín tâm bất nghịch,kỳ phước thắng bỉ, hà huống thư tả, thọ trì độc tụng vị nhân giải thuyết. Tu-bồ-đề!Dĩ yếu ngôn chi, thị kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả xứng lượng, vô biên côngđức, Như Lai vị phát Ðại thừa giả thuyết, vị phát Tối thượng thừa giả thuyết. Nhượchữu nhân năng thọ trì độc tụng, quảng vị nhân thuyết, Như Lai tất tri thị nhân,tất kiến thị nhân, giai đắc thành tựu bất khả lượng, bất khả xứng, vô hữu biên,bất khả tư nghị công đức. Như thị nhân đẳng tắc vi hà đảm Như Lai A-nậu-đa-latam-miệu tam-bồ-đề. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược nhạo tiểu pháp giả, trước ngã kiến,nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức ư thử kinh bất năng thính thọ độctụng, vị nhân giải thuyết. Tu-bồ-đề! Tại tại xứ xứ, nhược hữu thử kinh, nhất thiếtthế gian thiên, nhân, a-tu-la sở ưng cúng dường. Ðương tri thử xứ tắc vi thịtháp, giai ưng cung kính tác lễ vi nhiễu, dĩ chư hoa hương nhi tán kỳ xứ.

DỊCH :

CÔNG ÐỨC TRÌ KINH.

Tu-bồ-đề! Nếu có người thiện nam thiện nữ, buổi sáng đem thân mạng bằngsố cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằngra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, nhưthế vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp đem thân mạng bố thí. Nếu lại có người nghekinh điển này, lòng tin không nghịch, phước của người này hơn phước của ngườikia, huống là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người giải nói.

Này Tu-bồ-đề! Tóm tắt mà nói, kinh này có công đức vô biên không thểnghĩ, không thể lường. Như Lai vì những người phát tâm Ðại thừa mà nói, vìnhững người phát tâm Tối thượng thừa mà nói. Nếu có người hay thọ trì đọc tụng,rộng vì người nói, Như Lai ắt biết người ấy, ắt thấy người ấy đều được thànhtựu công đức không thể lường, không thể tính, không có bờ mé, không thể nghĩbàn. Những người như thế tức là gánh vác pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giáccủa Phật. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Nếu người thích pháp nhỏ tức chấp ngã, chấpnhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả tức là đối với kinh này không thể lắng nghe,thọ trì, đọc tụng vì người giải nói. Này Tu-bồ-đề! Ở nơi nào nếu có kinh nàythì tất cả thế gian trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường, nên biết chỗ nàytức là tháp, đều nên cung kính làm lễ vây quanh, dùng các thứ hương hoa mà rảicúng nơi ấy.

GIẢNG:

Trong đoạn này đức Phật nói về công đức trì kinh Kim Cang. Quí vị nhớtrong đoạn trước đức Phật đã từng nói, giả sử như đem bảy báu đầy cả tam thiênđại thiên thế giới bằng số cát sông Hằng ra bố thí, cũng không bằng công đức trìkinh này. Ở đây Ngài lại nói nếu có người buổi sáng đem thân của mình nhiềubằng số cát sông Hằng để bố thí, buổi trưa đem thân nhiều bằng số cát sông Hằngbố thí, buổi chiều cũng như vậy thì một ngày bố thí chừng bao nhiêu thân? Chỉbuổi sáng cũng tính không hết! Lại không phải chỉ một ngày mà trải vô lượngtrăm ngàn muôn kiếp thì bố thí chừng bao nhiêu thân? Ðem thân bố thí nhiều như vậymà nếu có người nghe kinh Kim Cang, lòng tin không nghịch thì phước của ngườinày còn hơn phước của người đó, quí vị tin nổi không? Giả sử có ai nói: Ngườiđem thân bố thí, ai cần mũi thì cho mũi, ai cần tai thì cho tai, cần phần nàotrong thân thể đều cho hết không tiếc, với người nghe kinh này tin nhận, thọtrì thì phước của người thọ trì kinh hơn phước của người bố thí, điều đó chúngta còn chưa tin thay! Cho cái mũi đâu phải dễ, cho cái tai đâu phải dễ, vậy tạisao cái khó làm có phước ít hơn cái dễ làm? Phần nhiều nếu so sánh thì cái khólàm phải có công đức nhiều hơn cái dễ làm. Tại sao ở đây Phật bảo cái dễ côngđức nhiều, cái khó công đức ít? Chỉ bố thí một thân thôi mà còn không làm nổi,huống nữa là vô lượng thân trong vô lượng kiếp, thế mà phước lại thua người trìkinh, thật là khó hiểu! Cho nên nói: Phật nếu nói đủ, người ta sẽ hoang mang,hồ nghi, không tin. Thật ra nếu chúng ta, ai ai cũng đều thấy thân này là thậtthì chắc chắn không bao giờ tin nổi kinh này. Trái lại nếu chúng ta biết rõthân này như hạt sương buổi sáng, như đám mây chiều, không có gì lâu bền thìngười đem những vật tạm bợ bố thí sánh với người biết trở về pháp thân bất sanhbất diệt, người nào hơn? Pháp thân bất sanh bất diệt mới là hơn chứ? Xả mộttriệu, một muôn, một ức cái thân bèo bọt này để được cái bất sanh bất diệt mới làquí chứ! Nhưng chắc là chúng ta không chịu. Vì chúng ta thấy không phải là bèobọt. Tuy nghe Phật nói như thế song trên thực tế chúng ta còn thấy thân làthật, cho nên bảo xả nó chúng ta thấy thật là khó. Bởi thấy nó thật nên khinghe Phật bảo xả bao nhiêu thân cũng không sánh được người trì kinh này, chúngta không thể tin nổi. Chỉ có hàng Bồ-tát thấy thân như huyễn như hóa, khi nghePhật nói, các Ngài cười và tin ngay. Thế nên đức Phật bảo rằng "Lòng tinkhông nghịch thì phước còn nhiều hơn người kia", huống nữa là cố gắng biênchép ra, thọ trì, đọc tụng, vì người giải nói thì phước vô kể. Như vậy tronghai việc bố thí thân và trì kinh, quí vị chọn việc nào? Tại sao chúng ta chọntrì kinh? Có phải vì chúng ta biết thân này là giả nên trì kinh để trở về cáichân thật, hay vì chúng ta sợ đau không dám bố thí thân? Như vậy để thấy rằngchúng ta trì kinh với cái niệm xem thân là quí, chớ không phải vì biết thân làgiả và việc trì kinh chánh đáng hơn. Tuy còn cho thân là quí nhưng biết hướngvề trì kinh để ứng dụng tu thì từ từ rồi cũng thấm, thân lần lần cũng hết quí,như vậy cũng có công đức lớn.

Ở đây chúng ta thuộc về hạng Tối thượng thừa hay hạng Ðại thừa? Hay làhạng gì? Hạng Nhân thừa. Vì còn thấy thân là quí, muốn bỏ thân này được thânkhác tốt hơn đó là thuộc Nhân thừa, chớ không phải Ðại thừa, huống nữa là Tốithượng thừa! Trong kinh này, Phật vì người Ðại thừa, vì người cầu Tối thượngthừa mà nói, nên nhiều khi chúng ta thấy khó hiểu. Nếu thật chúng ta thuộc haihạng trên thì nghe kinh này, trì tụng và ứng dụng tu hành không có gì khó, vìchuyện đó dễ tin quá. Tất cả chúng ta không biết mê lầm từ thuở nào mà hiện giờai cũng đều thấy thân mình là thật. Nhưng ngày nay không bảo đảm được ngày mai,lấy gì gọi là thật? Nếu thật thì có bảo đảm. Trái lại không bảo đảm được mộtngày, huống nữa đến một năm! Pháp thân là cái chưa từng sanh chưa từng diệt, làbảo đảm, nghĩa là sống được với cái đó rồi thì muôn kiếp ngàn đời không hoại.Còn sống với thân này thì không bảo đảm ngày mai. Như vậy đem cái không bảo đảmđổi cái bảo đảm mà tiếc không muốn đổi. Bố thí gồm có tài thí và pháp thí.Trong tài thí có chia hai phần: ngoại tài và nội tài. Ngoại tài là của cải, nộitài là thân mạng. Trong đoạn trước Phật nói về bố thí ngoại tài, đoạn này đứcPhật nói đến bố thí nội tài. Ðem thân này bố thí thì ngã không còn, ngã khôngcòn thì niềm tin đối với phápnày không lui sụt. Thế nên đức Phật bảo rằng: Nếungười nào hay thọ trì, đọc tụng kinh này, rộng vì người nói thì Như Lai ắt biếtngười ấy, ắt thấy người ấy đều được thành tựu công đức không thể nghĩ, khôngthể lường, không thể suy tính được, người ấy ắt là hay gánhvác pháp Vôthượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai. Người nào hiểu đúng kinh này, ứngdụng để sống, lại vì người giảng nói thì Phật biết chắc người đó là người gánhvác pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức pháp thành Phật, người đó xứng đáng kế thừa Phật.

Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, nếu người ưa pháp nhỏ là chấp ngã, chấp nhân,chấp chúng sanh, chấp thọ giả.Ưa pháp nhỏ là pháp gì? Tỉ dụ chúng ta đem bốthí chừng năm, mười đồng bạc thì chúng ta nghĩ với số tiền bố thí này đời saumình sẽ được giàu có. Như vậy chúng ta chỉ thích được giàu sang, sung sướng ởđời sau mà sự giàu sang đó nhiều lắm chỉ là năm, sáu chục năm thôi, đó là tướngsanh diệt, mà mình thích cái sanh diệt thì không phải ưa pháp nhỏ là gì? Ngườiưa pháp nhỏ là còn nghĩ đời sau mình hưởng đó là ngã kiến, người giúp cho mình đượchưởng đó là nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến đầy đủ. Vì thế đối vớikinh này, người đó khó mà nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người giải nói.Người chấpngã đối với kinh Kim Cang thì khó nghe, khó nhận, khó thọ trì đọc tụng tại vìkhông tin. Kinh Kim Cang chỉ thẳng ngã là tướng hư dối, các pháp hiện tại làtướng hư dối, chỉ sống trở về với trí tuệ Bát-nhã, sống trở lại với pháp thân,cái đó mới chân thật. Vậy người biết rõ thân và cảnh giả dối, đó là hiểu kinhKim Cang (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng) và biết ngay nơi mình có cái trítuệ Bát-nhã bất sanh bất diệt, đó là trì kinh Kim Cang. Biết rõ cảnh khôngthật, thân không thật mới nhận ra mình có cái chân thật, trong người giả cólồng cái chân thật, nhận được như thế mới tin kinh Kim Cang. Như vậy được baonhiêu người tin? Lời Phật dạy, ai cũng tin cả. Nói thì nói thế, nhưng tin đượclẽ đó là lẽ thật thì hơi khó, vì thấy mình thật mà Phật nói giả, thấy cảnh thậtmà Phật nói giả thì làm sao mình chịu, còn cái Phật nói là thật thì mình lạikhông thấy, thế nên nói kinh này rất khó tin. Nhưng nếu tin được thì người đókhông còn bốn tướng ngã nhân chúng sanh thọ giả, còn người chưa tin là cònnguyên bốn tướng. Người ấy không làm sao tu pháp cao siêu giải thoát được, họchỉ thích những pháp nhỏ, nghĩa là đời này tu đời sau hưởng, hoặc bây giờ làmmai mốt hưởng.

Kết luận Phật nói rằng kinh này ở nơi nào thì tất cả thế gian trời,người, a-tu-la đều nên cúng dường như là cúng dường tháp, đi nhiễu chung quanh,đem hương hoa dâng cúng. Ðây là đức Phật chỉ pháp này cao siêu tối thượng vượt hơntất cả pháp thế gian, ai hiểu được pháp đó đều nên cung kính cúng dường.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn