Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 14: Chúc Lụy

10/10/201015:00(Xem: 888)
Chương 14: Chúc Lụy

Chương 14
CHÚC LỤY

Bấy giờ Phậtnói với Bồ tát Di Lặc:

“Này Di Lặc,nay ta đem Pháp giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác đã tập thành trong vôlượng kiếp phó chúc cho ngươi. Vào thời mạt thế,[1] sau khi Phật diệt độ, ngươinên dùng năng lực thần thông để giảng truyền rộng rãi những kinh như vầy nơicõi Diêm-phù-đề, chớ để bị đoạn tuyệt. Vì sao? Vì sau này sẽ có những thiệnnam, tín nữ cũng như chư thiên long, quỷ thần, Càn-thát-bà, La-sát phát tâm cầugiác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, hâm mộ đại Pháp. Nếu để cho họ khôngđược nghe những kinh như vầy, sẽ mất nhiều lợi ích. Những hạng người như vậy,khi nghe kinh điển như vậy, tất sẽ nhiều tín thọ, sinh tâm hy hữ, vì họ yêuthích và tin tưởng các kinh này, thành kính đội lên đầu mà thọ nhận, rồi tùytheo chỗ thích ứng của chúng sinh, vì sự ích lợi mà quảng diễn.

“Này Di Lặc,nên biết có hai dấu hiệu của Bồ tát:[2] thứ nhất, ưa thích trang sức văn từ hoamỹ. Thứ hai, không e sợ diệu nghĩa thậm thâm, mà có thể thâm nhập một cách nhưthực. Hạng ưa thích trang sức văn từ hoa mỹ, nên biết, đó là hàng Bồ tát tânhọc. Nếu được nghe kinh điển vô nhiễm, vô trước, thậm thâm như vậy mà khôngkinh sợ; sau khi nghe rồi bằng tịnh tâm mà thọ trì, đọc tụng, như thuyết tuhành, nên biết, đó là hạng Bồ tát tu tập đạo hạnh đã lâu.

“Di Lặc, lạicó hai pháp mà hàng Bồ tát gọi là tân học chẳng thể quyết đinh nơi Pháp sâuxa.[3] Hai pháp đó là gì? Một là, pháp chưa từng được nghe, mà khi nghe rồi lạikinh sợ, sinh nghi ngờ, không thể tùy thuận, sanh tâm hủy báng, cho rằng ‘Trướcđây tôi chưa từng nghe Pháp ấy; chẳng biết Pháp ấy ở đâu ra?’[4] Thứ hai, Nếucó người hộ trì, giải thuyết kinh điển sâu xa như vậy, lại không khứng thâncận, cúng dường, cung kính, hoặc có khi bới móc tìm lỗi người.[5] Ai có haipháp này, nên biết, đó là Bồ tát tân học, chỉ tự làm hại mình, không thể điềuphục được tâm mình ở trong thâm Pháp.

“Này Di Lặc,lại có hai pháp,[6] mà Bồ tát tuy có tín giải thâm pháp nhưng vẫn tự làm tổnthương mình nên không thể chứng đắc vô sinh pháp nhẫn. Hai pháp gì? Một là,khinh mạn Bồ tát tân học mà không chịu chỉ dạy.[7] Hai là, và loại dù tin, hiểudiệu Pháp mà vẫn còn phân biệt chấp thủ tướng.”[8]

Bồ tát Di Lặcnghe Phật thuyết giảng xong, liền nói: “Bạch Thế Tôn, thật hy hữu chưa từngđược nghe. Như lời Phật dạy, con sẽ lìa xa các sự xấu ác này để phụng trì Phápgiác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai đã kết tập từ vô lượngkiếp. Trong đời tương lai, nếu có người thiện nam tín nữ nào cầu học Đại thừa, consẽ khiến họ có được kinh này trong tay, giúp cho niệm lực khiến thọ trì, đọctụng và giảng giải rộng khắp cho mọi người.

“Bạch ThếTôn, trong thời mạt thế sau này, nếu có ai thọ trì, đọc tụng và quảng diễn kinhnày, nên biết người đó sẽ được xác lập bởi thần lực của Di-lặc.”

Phậtnói:

“Lành thay,Di Lặc, lành thay! Như lời ông nói, Phật tán thán sự tùy hỷ của ông.”

Lúc bấy giờtất cả Bồ tát đồng chắp tay bạch Phật:

“Sau khi ThếTôn diệt độ, chúng con[9] sẽ truyền giảng Pháp giác ngộ tối thượng này rộngkhắp mười phương quốc độ, và chỉ dẫn những người thuyết Pháp thấu hiểu nghĩakinh.”[10]

Bốn vị Thiênvương cũng đồng bạch Phật:

“Bạch ThếTôn, bất cứ ở đâu, thành thị hay thôn quê, núi rừng hay hoang mạc, mà có kinhnày và có người đọc tụng, thuyết giảng, thì chúng con nguyện đưa hết thảy quanquân đến nghe và ủng hộ người đó sao cho trong vòng một trăm do-tuần không aidám đến quấy phá.”

Khi ấy, Phậtbảo A-nan-:

“Này A-nan,hãy thọ trì và truyền bá rộng rãi kinh này.”

A-nan đáp:“Vâng, bạch Thế Tôn, con đã ghi nhớ pháp yếu này. Thế Tôn, nên gọi tên kinh làgì?”

Phậtdạy:

“A-nan, kinhnày được gọi là ‘Duy-ma-cật thuyết sở’, cũng ‘Pháp môn giải thoát bất khả tưnghị’, hãy như vậy mà thọ trì.”[11]

Phật nói kinhnày xong, trưởng giả Duy-ma-cật, Văn-thù-sư-lợi, Xá-lợi-phất, A-nan, chư thiên,loài người, a-tu-la và hết thảy đại chúng nghe những điều Phật dạy, thảy đềuđại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

[1] VCX: “Vàođời ngũ trược ác thế.”

[2] Bồ táttướng 菩薩相; VCX: bồ tát tướngấn 菩薩相印, dấu hiệu để nhậnbiết Bồ tát.

[3] VCX: “Cóbốn pháp khiến Bồ tát sơ học tự tổn thương, không thể chứng đắc pháp nhẫn thậmthâm.”

[4] VCX phânthành hai pháp: kinh sợ nghi ngờ, và sinh tâm huỷ báng.

[5] Pháp thứba và tư trong VCX: không cung kính và sau đó chê bai.

[6] VCX: bốnduyên.

[7] VCX phânthành hai duyên: khinh mạn và không chỉ dạy.

[8] Được thaytrong bản VCX: thứ ba, không không kính trọng học xứ (tức giới) thậm thâm quảngđại; thứ tư, chỉ thích bố thí bằng tài sản thế gian.

[9] VCX: “...từ nhiều phương khác, từ các thế giới khác...”

[10] VCX:“khiến cho không gặp chướng nạn.”

[11] VCX gộpthành một tên: Thuyết Vô Cấu Xứng bất tư nghị giải thoát thần biến phápmôn 說無垢稱不可思議自在神變解脫法門.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn