Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 10: Phật Hương Tích

10/10/201015:00(Xem: 983)
Chương 10: Phật Hương Tích

Chương 10
PHẬT HƯƠNG TÍCH
[1]

Lúc bấy giờXá-lợi-phất tâm niệm, «Sắp đến giờ ăn. Các Bồ tát này sẽ ăn gì đây.» Duy-ma-cậtbiết ý đó, bèn nói:

«Phật đã dạytám pháp giải thoát.[1] Nhân giả đã thọ hành. Há lẫn lộn giữa sự muốn ăn vànghe Pháp sao? Nếu ngài muốn ăn, xin chờ giây lát, sẽ được bữa ăn hiếm có.»

Tức thì,Duy-ma-cật nhập định[2] và dùng thần thông lực chỉ cho hội chúng thấy ở phươngtrên, cách thế giới này vượt qua bốn mươi hai Hằng hà sa số cõi Phật, có mộtnước tên là Chúng hương,[3] có Phật hiệu Hương Tích[4] nay đang tại thế. Hươngthơm của quốc độ này át hẳn mọi hương thơm của chư thiên trong các quốc độ khắpmười phương. Trong quốc độ đó không có tên gọi Thanh-văn và Bích-chi-Phật[5] màchỉ có chúng đại Bồ tát thanh tịnh nghe Phật giảng Pháp. Ở đó hương thơm tạo ramọi thứ như lầu các, đất đai, vườn tược và hoa viên khiến chúng tỏa mùi thơmngát. Còn thực phẩm thì có mùi thơm lan tỏa đến vô lượng thế giới khắp mườiphương. Ngay lúc bấy giờ Phật và chư Bồ tát ở đó vừa cùng ngồi lại để thọ thựcđược dâng cúng bởi những người con của chư thiên thảy đều có tên là HươngNghiêm,[6] đều đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Hết thảy hội chúng đềutrông thấy cảnh này.

Duy-ma-cậtnói với hội chúng:

«Trong chưtôn giả, ai có thể đến đó để xin phẩm thực của đức Thế Tôn?»

Nhưng do oaithần của Văn-thù-sư-lợi nên hết thảy chư Bồ tát đều im lặng. Thấy vậy,Duy-ma-cật nói:

«Nhân giả,đại chúng này há không thấy hỗ thẹn sao?»[7]

Văn-thù-sư-lợiđáp lại: «Phật có dạy, không nên khinh thường người chưa từng học.»

Khi ấy,Duy-ma-cật vẫn không rời chồ ngồi, ở ngay trước đại chúng, dùng thần lực tạo ramột vị hóa Bồ tát có thân tướng sáng ngời, oai nghiêm thù thắng bao trùm cảchúng hội, rồi nói với vị này:

«Ông hãy đilên phương trên, vượt qua bốn mươi hai Hắng hà sa cõi Phật, có quốc độ tên gọilà Chúng hương, có Phật hiệu Hương Tích, cùng với các Bồ tát vừa mới ngồi lạiđể thọ thực. Ông hãy đến chỗ đó, mang lời tôi mà thưa rằng, đảnh lễ Thế Tôn ởđó, thưa với ngài rằng: ‘Duy-ma-cật cúi đầu lễ dưới chân Thế Tôn, vô vàn tônkính, và thăm hỏi sức khoẻ Thế Tôn, ít bệnh, ít não, khí lực an ổn chăng?Nguyện xin chút thức ăn dư của Thế Tôn, mang về thế giới Ta-bà[8] để làm Phậtsự; để cho những ai hâm mộ Pháp nhỏ được mở rộng sang đường lớn, và cũng để chocho danh hiệu Như Lai được lan truyền khắp nơi.’»

Sau đó hếtthảy hội chúng đều nhìn thấy vị hóa Bồ tát ngay trước đại chúng bay lên phươngtrên, đến cõi Chúng hương, quỳ lạy dưới chân Phật ở đó, và lại nghe tiếng củahoá Bồ tát ấy nói, ‘Duy-ma-cật cúi đầu lễ dưới chân Thế Tôn, vô vàn tôn kính,và thăm hỏi sức khoẻ Thế Tôn, ít bệnh, ít não, khí lực an ổn chăng? Nguyện xinchút thức ăn dư của Thế Tôn, mang về thế giới Ta-bà để làm Phật sự; để chonhững ai hâm mộ Pháp nhỏ[9] được mở rộng sang Đường lớn, và cũng để cho danhhiệu Như Lai được lan truyền khắp nơi.’»

Chư Bồ tát ởcõi đó trông thấy vị hoá Bồ tát này, tán thán là chưa từng có, tự hỏi khôngbiết Thượng nhân này từ đâu đến? Thế giới Ta-bà ở chỗ nào? Thế nào gọi là nhữngngười hâm mộ pháp nhỏ? Các ngài liền hỏi Phật. Phật nói:

«Có một thếgiới tên là Ta-bà, nằm ở phương dưới cách đây vô số quốc độ bằng số cát của bốnmươi hai sông Hằng. Ở đó có đức Phật hiệu Thích-ca-mâu-ni hiện đang ở giữa cõiđời xấu xa đầy năm điều uế trược[10] mà phô diễn đạo giáo cho chúng sinh ưathích pháp nhỏ. Ở đó còn có vị Bồ tát tên là Duy-ma-cật đã an trụ giải thoátbất khả tư nghì đang giảng Pháp cho chư vị Bồ tát. Cho nên ông ấy đã tạo ra mộtvị hóa sứ giả để tán dương danh xưng và quốc độ này của Ta khiến các Bồ tát kiathêm phần công đức.»

Chư Bồ tátlại hỏi:

«Vị đó là aimà có thể biến hoa như vậy, có đức lực vô úy và thần túc lớn đến vậy?»

Đức Thế Tônđáp:

«Lớn laothay! Ông ấy thường gởi các hóa sứ giả đến khắp mười phương quốc độ để thi hànhPhật sự vì lợi ích của chúng sinh.»

Nói xong, đứcHương Tích Như lai lấy một cái bát làm bằng các loại hương chứa đầy cơm thơmrồi trao cho vị hoá Bồ tát. Khi ấy, chín triệu Bồ tát ở đó đều lên tiếng nói:

«Chúng conmuốn đến thế giới Ta-bà để đảnh lễ Phật Thích-ca, thăm Duy-ma-cật cùng chư vịBồ tát ở đó.»

Phật HươngTích dạy:

«Có thể đi.Nhưng hãy thu lại mùi hương nơi thân của các ông để chúng sinh ở đó không sanhmê hoặc tham đắm. Các ông cũng nên thay đổi hình tướng mình, chớ để cho nhữngngười cầu đạo Bồ tát ở quốc độ đó xấu hổ, tự ty. Các ông cũng chớ có ý nghĩkhinh thường họ mà gây chướng ngại. Vì sao? Vì mười phương quốc độ đều như hưkhông. Vả lại, hết thảy chư Phật vì muốn giáo hóa người hâm mộ pháp nhỏ nênchưa hoàn toàn hiển bày quốc độ thanh tịnh đó thôi.»

Lúc ấy, vịhóa Bồ tát nhận bát cơm thơm rồi cùng chín triệu Bồ tát kia, nương theo thầnlực của Phật và của Duy-ma-cật, biến mất khỏi cõi thế giới ấy, trong phút chốcđều về đến nhà Duy-ma-cật.

Duy-ma-cậtdùng thần lực biến hoá nên chín triệu tòa sư tử, trang nghiêm như đã nói trước.Các Bồ tát đều ngồi lên đó.

Bấy giới hóaBồ tát trao cho Duy-ma-cật bát cơm thơm mà mùi hương lan tỏa khắp thànhTỳ-da-ly, rồi lan khắp ba nghìn đại thiên thế giới.

Cácbà-la-môn, cư sỹ trong thành Tỳ-da-ly ngửi được mùi hương ấy đều thấy thân ýthơ thới, đồng ca ngợi sự hiếm có này. Lúc ấy, vị đứng đầu các trưởng giả tênlà Nguyệt Cái[11] liền dẫn tám mươi bốn ngàn người đến nhà Duy-ma-cật. Thấy córất nhiều Bồ tát ngự trên các tòa sư tử trang nghiêm, họ mừng rỡ, cung kínhđảnh lễ chư Bồ tát và các vị đại đệ tử của Phật, rồi đứng sang một bên. Chúngquỷ thần và chư thiên khắp các cõi trời thuộc Dục giới và Sắc giới ngửi đượcmùi hương cũng tìm đến.

Lúc ấy,Duy-ma-cật mới nói với Xá-lợi-phất và các vị Thanh-văn:

«Các Nhângiả, nay mời các vị dùng món cơm có hương vị cam lộ. Cơm này được xông ướp bằnghương Đại bi của Như Lai. Đừng ăn cơm bằng ý hữu hạn,[12] vì như vậy sẽ khó thểtiêu hóa được.»

Có một vịThanh-văn nghĩ rằng, «Cơm này ít; mà đại chúng thì đông. Mỗi người đều ăn, làmsao đủ?» Vị hóa Bồ tát liền nói:

«Đừng lấy đứcnhỏ và trí nhỏ của Thanh-văn đo lường phước huệ vô lượng của Như Lai. Nước củabốn đại dương còn có thể cạn, chứ cơm này vô tận. Nếu mọi người[13] đều vo cơmthành viên lớn như núi Tu-di, ăn cho đến một kiếp[14] vẫn chưa hết cơm. Tạisao? Vì đó là thức ăn còn dư của người[15] đã thành tựu công đức của vô tậngiới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến; do vậy, không bao giờ cùngtận.”

Bấy giờ, bátcơm này khiến cho cả đại chúng đều no đủ mà vẫn không vơi. Các Bồ tát,Thanh-văn, trời và người, những ai dùng cơm này đều cảm thấy an lạc như chư Bồtát ở hết thảy quốc độ Lạc trang nghiêm.[16] Từ chân lông họ tỏa ra mùi thơm vidiệu như mùi thơm các loài cây trên cõi Chúng hương.

Bấy giờDuy-ma-cật hỏi các Bồ tát từ Chúng hương đến:

«Hương TíchNhư lai giảng dạy bằng Pháp gì?»

Họ đáp:

«Như Lai ởquốc độ chúng tôi không dùng ngôn tự để giảng thuyết mà chỉ dùng các hương thơmkhiến cho trời và người có thể thâm nhập luật hành.[17] Mỗi mỗi Bồ tát ngồidưới những cội cây hương, cảm nhận mùi hương vi diệu của cây mà chứng tam-muộiđức tạng.»[18]

Đoạn các Bồtát lại hỏi Duy-ma-cật:

«Đức Thế TônThích-ca-mâu-ni Phật giảng Pháp như thế nào?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Chúng sinhtrên cõi này cang cường, khó chuyển hóa, nên Phật thuyết bằng ngôn ngữ cangcường để điều phục họ. Ngài nói răng, ‘Đây là địa ngục; đây là súc sinh; đây làngạ quỷ; đây là các nạn xứ;[19] đây là những nơi tái sinh cho kẻ ngu muội;[20]đây là tà hành của thân; đây là quả báo cho tà hành của thân; đây là tà hànhcủa miệng; đây là quả báo cho tà hành của miệng; đây là tà hành của ý; đây làquả báo cho tà hành của ý; đây là sát sinh; đây là quả báo của sát sinh; đây làsự lấy của không được cho; đây là quả báo của sự lấy của không được cho; đây làtà dâm; đây là quả báo của tà dâm; đây là vọng ngữ; đây là quả báo của vọngngữ; đây là nói hai lưỡi; đây là quả báo của sự nói hai lưỡi; đây là ác khẩu;đây là quả báo của ác khẩu; đây là sự nói lời vô nghĩa; đây là quả báo của sựnói lời vô nghĩa; đây là tham lam; đây là quả báo của sự tham lam; đây là thùhận; đây là quả báo của sự thù hận; đây là tà kiến; đây là quả báo của tà kiến;đây là sự keo kiệt; đây là quả báo của sự keo kiệt; đây là sự huỷ giới; đây làquả báo của sự huỷ giới; đây là sự sân hận; đây là quả báo của sự sân hận; đâylà sự lười biếng; đây là quả báo của sự lười biếng; đây là loạn ý; đây là quảbáo của sự loạn ý; đây là sự ngu si; đây là quả báo của sự ngu si; đây là kếtgiới;[21] đây là quả báo của kết giới; đây là trì giới;[22] đây là phạmgiới;[23] đây là điều nên làm; đây là điều không nên làm;[24] đây là sự chướngngại; đây là sự không chướng ngại; đây là đắc tội; đây là không đắc tội; đây làdứt tội; đây là tịnh; đây là cấu uế; đây là hữu lậu; đây là vô lậu; đây là tàđạo; đây là chánh đạo; đây là hữu vi; đây là vô vi; đây là thế gian; đây làniết-bàn. Vì tâm tánh người khó chuyển hóa giống như vượn khỉ nên phải bằngnhiều phương cách giáo hóa để điều phục họ. Cũng như voi ngựa nếu không đánh đauthì không chế ngự được, những người mê muội trong thế gian này chỉ có thể thâmnhập luật bằng tất cả những lời gay gắt.»

Nghe xong,các Bồ tát đều khen:

«Thật chưatừng nghe. Đức Thế Tôn Thích-ca-mâu-ni Phật đã ẩn đi vô lượng năng lực tự tại,hoá độ chúng sinh bằng pháp mà người nghe ưa thích. Các Bồ tát ở đây cũng nhẫnnại những khó nhọc, bằng vô lượng đại bi mà sinh nơi cõi Phật này.»

Duy-ma-cậtnói:

«Thật đúngnhư vậy. Chư Bồ tát ở cõi này có tâm đại bi kiên cố đối với chúng sinh. Việclàm lợi ích hết thảy chúng sinh của họ trong một đời hơn cả những người ở cáccõi khác đã làm trong hàng trăm ngàn kiếp. Vì sao vậy? Vì họ đã thực hành mườithiện pháp mà các cõi Tịnh độ khác không có. Mười thiện pháp đó là gì? Đó là:Lấy bố thí đối trị bần cùng. Lấy trì giới đối trị phạm giới. Lấy nhẫn nhục đốitrị sân nhuế. Lấy tinh tấn đối trị giải đãi. Lấy thiền định khắc phục loạn ý.Lấy trí tuệ dẹp tan vô minh. Nói pháp trừ nạn độ người khổ trong tám nạn. Dạypháp Đại thừa cho người còn chấp pháp Tiểu thừa. Lấy thiện căn giúp người vôđức. Thường dùng bốn nhiếp pháp để thành tựu chúng sinh. Đó chính là mười thiệnpháp.»

Chư Bồ tátlại hỏi:

«Bồ tát thànhtựu bao nhiêu pháp để ở trong thế giới này tu hành mà không ung nhọt, tái sanhtịnh độ?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Bồ tát thànhtựu tám pháp để ở trong thế giới này tu hành mà không ung nhọt, tái sanh tịnhđộ. Đó là: Làm lợi ích chúng sinh không cầu báo đáp. Chịu thay chúng sinh hếtthảy khổ não, và hồi hướng công đức đã làm cho chúng sinh. Tâm bình đẳng vớichúng sinh bình đẳng, khiêm hạ vô ngại. Tôn kính chư Bồ tát như đối với chưPhật.[25] Khi nghe kinh chưa từng nghe cũng không khởi nghi hoặc. Không đốinghịch với pháp của hàng Thanh-văn. Không ganh tị vì người được cúng dường,không tự cao lợi đắc của mình, trái lại ở đó tự chế ngự tâm mình. Thường tự xétkỗi mình,[26] không tranh tụng sở đoản của người, nhất tâm cầu thành tựu mọicông đức. Đó chính là tám pháp.»

Sau khiDuy-ma-cật và Văn-thù-sư-lợi thuyết các pháp như vậy, hàng trăm ngàn chư thiênđã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng, và mười ngàn vị Bồ tát đắc vô sanh phápnhẫn.

[1] VCS(T38n1782_p1094a04): «Tiểu thừa tám giải thoat trừ tham dục. Đại thừa tám giảithoát trừ định chướng.»

[2] Nhậptam-muội. VCX: nhập vi diệu tịch định 入微妙寂定.

[3] Chúng hương 眾香. VCX: Nhất thiết diệu hương 一切妙香.

[4] HươngTích 香積. VCX: Tối ThượngHương Đài 最上香臺.

[5] VCX:không có danh xưng của hai thừa.

[6] ChiKhiêm: Hương Tịnh 香淨.

[7] VCX:Duy-ma-cật nói nói Văn-thù, «Sao ngài không gia hộ đại chúng này, khiến chophải như vậy?» (để cho đại chúng phải im lặng)

[8] Ta-bà thếgiới 娑婆世界. VCX: Kham nhẫn thếgiới 堪忍世界. Skt.Saha-loka-dhātu.

[9] Lạc tiểupháp giả 樂小法者; La-thập: «Biệt bảnnói, lạc thiểu chi nhân 樂少之人.»

[10] Ngũtrược ác thế 五濁惡世. Skt. pañca kaṣāyāḥ: āyus-kaṣāyaḥ (mạng trược), dṛṣṭi-kaṣāyaḥ (kiến trược),kleśa-kaṣāyaḥ (phiền não trược),sattva-kaṣāyaḥ (chúng sanh trược),kalpa-kaṣāyaḥ (kiếp trược).

[11] Trưởnggiả chủ Nguyệt Cái 長者主月蓋. La-thập: «Nước nàykhông có Vua. Chỉ có 500 cư sỹ cùng trị nước.» Theo tài liệu Pali, bộ tộcLicchavī, mà thủ phủ là Vesāli (Tỳ-da-ly), tổ chức chính quyền của họ theo chếđộ Cộng hoà thị tộc. Các thủ lĩnh của họ đều được gọi là rājā (vương). VCX:Ly-chiêm-tỳ vương Nguyệt Cái 離呫毘王月蓋 .

[12] Hạn ý 限意 . VCX: thiểu phần hạ liệt tâm hành 少分下劣心行 , tâm tư thấp kém hạn hẹp.

[13] VCX:«Nếu hết thảy hữu tình trong vô lượng đại thiên thế giới.»

[14] VCX:«Một kiếp hoặc một trăm kiếp.»

[15] VCX:«Thức ăn còn dư của Như lai, xuất sinh từ vô tận giới, định, tuệ, giải thoát,giải thoát tri kiến.»

[16] Lạctrang nghiêm quốc 樂莊嚴國. Skt.Sukhāvati-vyūha, tức Thế giới Cực lạc. VCS (T38n1782_p1096a27): “Đây không chỉriêng thế giới Cực lạc ở Tây phương, mà chỉ tất cả thế giới an lạc trong mườiphương.”

[17] Đắc nhậpluật hành 得入律行 . VCX: giai tất điềuphục 皆悉調伏, thảy đều được chế ngự .

[18] Nhấtthiết đức tạng tam muội 一切德藏三昧. VCX: Nhất thiết đứctrang nghiêm định 一切德莊嚴定.Skt. sarvaguṇavyūha-samādhi. ChiKhiêm: Nhất thiết hương đức định 一切香德定.

[19] Nạnxứ 難處. VCX: Vô hàsanh 無暇生. Đây chỉ 8 trường hợpkhông sinh gạp thời có Phật, không thể tu tập phạm hạnh.

[20] VCX: đâylà căn khuyết (khuyết tật).

[21] VCX:những điều sở học và vi phạm sở học.

[22] VCX: trìbiệt giải thoát.

[23] VCX:phạm biệt giải thoát.

[24] Có nhảysót trong bản La-thập; VCX: «Đây là du già; đây là phi du già; đây là sự vĩnhviễn đoạn trừ; đây là phi vĩnh viễn đoạn trừ.»

[25] VCX: «Tựchế ngự tâm kiêu mạn, kính trọng chúng sinh như kính trọng Phật.»

[26] VCX:điều 7: «Bồ tát chế ngự tự tâm, thường xét lỗi mình, không chê bai vi phạm củangười.» Điều 8: «Bồ tát luôn luôn không buông lung ở trong pháp thiện; thườngvui thú tầm cầu tinh tấn tu hành pháp Bồ đề phần.»
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn