Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 9: Pháp Môn Bất Nhị

10/10/201015:00(Xem: 969)
Chương 9: Pháp Môn Bất Nhị

Chương 9
PHÁP MÔN BẤT NHỊ
[1]

Bấy giờ,Duy-ma-cật nói với các Bồ tát hiện diện: «Thưa các nhân giả, thế nào là Bồ tátvào Pháp môn bất nhị? Mong các vị hãy tùy chỗ sở thích của mình mà trình bày.»

1. Tronghội có Bồ tát Pháp Tự Tại[2] nói: « Thưa chư nhân giả, sanh và diệt là hai.Pháp trước vốn không sanh, nay tất không diệt. Lãnh hội pháp nhẫn vô sanh nàylà vào Pháp môn bất nhị.»

2. Bồ tát ĐứcThủ[3] nói: «Ngã và ngã sở là hai. Nhân bởi có ngã nên có ngã sở. Nếu không cóngã thì không có ngã sở. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

3. Bồtát Bất Huyến[4] nói: «Thọ và bất thọ[5] là hai. Nếu không thọ các pháp thìkhông khả đắc.[6] Vì không khả đắc cho nên không thủ, không xả, không tác,không hành. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

4. Bồ tát ĐứcĐỉnh[7] nói: «Cáu bẩn và thanh tịnh là hai. Thấy được tánh của cáu bẩn thìkhông còn tướng tịnh, thuận theo tướng tịch diệt. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

5. ThiệnTú[8] Bồ tát nói: «Động và niệm[9] là hai. Không động thì không niệm. Khôngniệm thì không phân biệt. Đạt đến chỗ này là vào Pháp môn bất nhị.»

6. Bồ tátThiện Nhãn[10] nói: «Nhất tướng với vô tướng là hai. Hiểu được nhất tướng rốtráo là vô tướng, không chấp vào vô tướng để thành tựu bình đẳng, đó là vào Phápmôn bất nhị.»

7. Bồ tátDiệu Tý[11] nói: «Tâm Bồ tát với tâm Thanh-văn là hai. Quán tướng của tâm vốnrỗng không, hư ảo, thì chẳng có tâm nào là tâm Bồ tát hay tâm Thanh-văn. Đó làvào Pháp môn bất nhị.»

8. Bồ tátPhất-sa[12] nói: «Thiện và bất thiện là hai. Nếu không khởi thiện hay bất thiệnlà nhận chân thật tế của vô tướng. Thông suốt như vậy là vào Pháp môn bất nhị.»

9. Bồ tát SưTử nói: «Tội, phước[13] là. Hiểu được tánh của tội chẳng khác tánh của phước.Lấy trí tuệ kim cang mà quyết rõ tướng này, không ràng buộc, chẳng giải mở; đólà vào Pháp môn bất nhị.»

10. Bồ tát SưTử Ý[14] nói: «Hữu lậu và vô lậu là hai. Nếu chứng các pháp là bình đẳng thìchẳng khởi tưởng hữu lậu hay vô lậu, không vướng vào tướng, không trụ vô tướng;đó là vào Pháp môn bất nhị.”

11. Bồ tátTịnh Giải[15] nói: «Hữu vi, vô vi là hai. Nhưng nếu lìa các số[16] thì tâm nhưhư không,[17] trí tuệ thanh thịnh, chẳng còn chỗ trở ngại; đó là vào Pháp mônbất nhị.»

12. Bồ tátNa-la-diên[18] nói: «Thế gian và xuất thế gian là hai nhưng tánh của thế gianlà không thì cũng là xuất thế gian. Ở trong đó không vào, không ra, khôngđầy,[19] không tan; đó là vào Pháp môn bất nhị.»

13. Bồ tátThiện Ý[20] nói: «Sinh tử và Niết bàn là hai. Nếu thấy được tánh của sinh tửthì chẳng còn sinh tử, không trói buộc, không cởi mở, không bùng cháy, khôngdập tắt.[21] Hiểu được vậy là vào Pháp môn bất nhị.»

14. Bồ tátHiện Kiến[22] nói: «Tận và bất tận là hai. Trong cứu cánh, pháp tận cũng nhưbất tận đều chính là tướng vô tận.[23] Tướng vô tận tức là không.[24] Không thìkhông có tướng tận hay bất tận. Vào chỗ đó là vào Pháp môn bất nhị.»

15. Bồ tátPhổ Thủ[25] nói: «Ngã và vô ngã là hai. Ngã còn không thể nắm bắt được, phi ngãlàm sao nắm bắt? Nhìn ra thật tánh này của ngã thì không khởi nhị nguyên nữa;đó là vào Pháp môn bất nhị.»

16. Bồ tát ĐiệnThiên[26] nói: «Minh, vô minh là hai. Nhưng thật tánh của vô minh chính làminh. Minh cũng không thể thủ, lìa hết thảy số.[27] Ở trong đó mà bình đẳngkhông hai; đó là vào Pháp môn bất nhị.»

17. Bồ tát HỷKiến[28] nói: «Sắc và Sắc Không là hai. Sắc chính là Không, không phải do sắcdiệt mà không, nhưng tính của Sắc tự nó là Không. Thọ, Tưởng, Hành và Thức cũngvậy. Thức và Không là hai. Thức cũng chính là Không, không phải do Thức diệt màkhông, vì tánh của Thức chính là Không vậy. Thông đạt chỗ này là vào Pháp mônbất nhị.»

18. Bồ tátMinh Tướng[29] nói: «Bốn đại chủng và không đại chủng[30] là hai. Tánh của bốnđại chủng chính là không đại chủng. Cũng như tiền tế[31] và hậu tế đều làkhông, cho nên trung tế cũng là không. Thấu suốt tánh này của bốn đại chủng làvào Pháp môn bất nhị.»

19. Bồ tátDiệu Ý[32] nói: «Con mắt, và sắc là hai. Nếu biết tánh của con mắt ở nơi sắcchẳng khởi tham, sân, si, đó là tịch diệt. Cũng vậy, tai với âm thanh, mũi vớimùi, lưỡi với vị, thân với cảm xúc, ý với các pháp là hai. Nếu biết thật tánhcủa ý ở nơi pháp chẳng khởi tham, sân, si, đó là tịch diệt. An trụ trong đây làvào Pháp môn bất nhị.»

20. Bồ tát VôTận Ý[33] nói: «Bố thí và hồi hướng đến nhất thiết trí là hai. Nhưng tánh củabố thí chính là sự hồi hướng đến nhất thiết trí. Cũng vậy, trì giới , nhẫnnhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ với hồi hướng nhất thiết trí là hai. Nhưngtánh của trí tuệ là tánh của hồi hướng nhất thiết trí. Ở trong đây mà thâm nhậpnhất tướng, là vào Pháp môn bất nhị.»

21. Bồ tátThâm Huệ[34] nói: «Đây là không, đây là vô tướng, đây là vô tác, là hai.[35]Nhưng không tức là vô tướng. Vô tướng tức là vô tác. Không, vô tướng, vô táctức không tâm, không ý, cũng không thức.[36] Ở trong một giải thoát môn cũngchính trong cả ba giải thoát môn. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

22. Bồ tátTịch Căn[37] nói: “Phật, Pháp, Chúng là hai. Phật tức là Pháp. Pháp tức làChúng. Tam bảo này tướng vô vi, bình đẳng với hư không, hết thảy các pháp cũngvậy. Thấu suốt Pháp này là vào Pháp môn bất nhị.”

23. Bồ tátTâm Vô Ngại[38] nói: «Thân với thân diệt[39] là hai. Thân cũng chính là thândiệt. Vì sao? Vì thấu rõ thật tánh của thân thì không còn khởi ý niệm về thânhay thân diệt, vì cả hai rốt ráo là bất nhị, không khác. Ở trong đó mà khôngkinh, không sợ, là vào Pháp môn bất nhị.»

24. Bồ tátThượng Thiện[40] nói: «Thân, khẩu, ý thiện[41] là hai. Tướng của ba nghiệp nàylà vô tác. Tướng vô tác của thân tức là tướng vô tác của miệng. Tướng vô táccủa miệng tức là tướng vô tác của ý. Tướng vô tác của ba nghiệp này tức làtướng vô tác của hết thảy pháp. Nếu có thể tùy theo trí tuệ vô tác như vậy làvào Pháp môn bất nhị.»

25. Bồ tát Bồtát Phước Điền[42] nói: «Phước hành, tội hành và bất động hành[43] là hai. Thậttánh của ba hành là không. Không bố thí, không phước hành, không tội hành,không bất động hành. Không khởi ba hành này là vào Pháp môn bất nhị.»

26. Bồ tátHoa Nghiêm[44] nói: «Từ ngã mà khởi nhị nguyên, đó là hai. Thấy thật tướng củangã, nhị nguyên này sẽ không khởi. Nếu không trụ nơi pháp nhị nguyên thì khôngcó thức. Không có gì được nhận thức, đó là vào Pháp môn bất nhị.»

27. Bồ tát Bồtát Đức Tạng[45] nói: «Sự có sở đắc là phân hai. Nếu không sở đắc thì không thủcũng không xả. Không thủ, không xả là vào Pháp môn bất nhị.»

28. Bồ tátNguyệt Thượng[46] nói: «Tối, sáng là hai. Không tối, không sáng thì không hai.Vì sao? Như nhập diệt tận định thì chẳng còn tối hay sáng. Tướng của hết thảycác pháp cũng như vậy. Ở trong đó bình đẳng mà vào. đó là vào Pháp môn bấtnhị.»

29. Bồ tátBảo Ấn Thủ[47] nói: «Vui thích Niết bàn, không vui thích thế gian là sự hai.Nếu không vui thích Niết bàn, không chán ghét thế gian, thế thì không có hai.Vì sao? Nếu có buộc mới có cởi. Nhưng nếu chẳng có buộc ràng thì ai mong cầucởi trói? Không ràng buộc, không cởi mở, tức không thích cũng không chán; đó làvào Pháp môn bất nhị.»

30. Bồ tátChâu Đỉnh Vương[48] nói: «Chính đạo và tà đạo là hai. Người trụ ở chính đạo tấtkhông phân biệt chính, tà.[49] Lìa hai thái cực này là vào Pháp môn bất nhị.»

31. Bồ tátLạc Thật[50] nói: «Thật, bất thật là hai. Người thấy sự thật còn không cho đólà thật, huống gì là cái bất thật. Vì sao? Đó là cái mà mắt thịt không thểthấy, chỉ có con mắt huệ mới nhìn ra. Nhưng con mắt huệ thì không có sự thấy,cũng không có sự không thấy. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

Chư Bồ tát đãlần lượt từng vị trình bày xong, liền hỏi Văn-thù-sư-lợi:

«Thế nào làBồ tát vào Pháp môn bất nhị?»

Văn-thù-sư-lợinói:

«Theo ý tôi,đối với hết thảy pháp không nói, không thuyết, không chỉ thị, không nhậnthức;[51] vượt ngoài vấn đáp. Đó là vào bất nhị pháp môn.»

Đoạn Văn-thùhỏi Duy-ma-cật:

«Chúng tôimỗi người đã nói rồi, xin nhân giả cho biết thế nào là Bồ tát vào Pháp môn bấtnhị?»

Bấy giờ,Duy-ma-cật lặng im không nói.

Văn-thù-sư-lợitán thán:

«Tuyệt, tuyệtthay; cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết, ấy mới thật là vào Pháp môn bấtnhị.»

Khi thuyết phẩmPháp môn bất nhị này, năm ngàn Bồ tát trong hội đều vào Pháp môn bất nhị, đắcvô sanh pháp nhẫn.

[1] ChiKhiêm: Bất nhị nhập 不二入品第九.

[2] Pháp TựTại 法自在.

[3] ĐứcThủ 德守. VCX. Thắng Mật 勝密. Skt. Śrīgupta . Chi Khiêm: Thủ Bế 首閉.

[4] BấtHuyến 不眴. VCX. Vô Thuấn 無瞬.

[5] Thọ bấtthọ 受不受. VCX. hữu thủ vôthủ 有取無取. La thập: «Thọ và bấtthọ, tức chấp thủ tướng và không chấp thủ tướng.»

[6] VCX:«Không chấp thủ thì không có gì là sở đắc. Không sở đắc nên không tăng khônggiảm.»

[7] ĐứcĐỉnh 德頂; VCX: ThắngPhong 勝峰. Skt. Śrīkūṭa.

[8] ThiệnTúc 善宿; VCX: Diệu Tinh 妙星. Sunakṣatra.

[9] VCX: tánđộng và tư duy 散動思惟.

[10] ThiệnNhãn 善眼; VCX: Diệu Nhãn 妙眼. Skt. Sunetra.

[11] DiệuTý 妙臂. Skt. Subāhu. ChiKhiêm: Thiện Đa 善多.

[12]Phất-sa 弗沙; La-thập nói: «Đây làsao Quỷ trong 28 tinh tú. Tức Skt. Puṣya(nakṣatra). VCX: Dục Dưỡng 育養 . Theo đây thì Skt. là Poṣa (nuôi lớn)., sự thịnh vượng, phát đạt. ChiKhiêm: Phụng Dưỡng 奉養.

[13] VCX: «Cótội và không tội.»

[14] Sư TửÝ 師子意; VCX: Sư Tử Tuệ 師子慧. Skt. Siṃhamati. Chi Khiêm: Dũng Ý 勇意.

[15] TịnhGiải 淨解; VCX: Tịnh ThắngGiải 淨勝解. Śuddhādhimukta.

[16] Ly nhấtthiết số 離一切數 . VCX: viễn ly cáchành 遠離諸行 . Trong bản La-thập, Skt. đọc là abhisaṃkhyā, con số, sự tínhđếm. Trong bản VCX, Skt. abhisaṃskāra, hành, tác hành. Khuy Cơ (T38n1782_p1092a12): «Viễn ly hếtthảy các hành hữu vi.»

[17] VCX:giác tuệ như không 覺慧如空. VCS(T38n1782_p1092a11): «Khởi giác tuệ, tức trí quán vô vi như không.»

[18]Na-la-diên 那羅延. Skt. Nārāyaṇa, con người nguyênthuỷ, Kim cang lực sĩ. Chi Khiêm: Nhân Thừa 人乘 (Skt. Narayāna).

[19] Bấtdật 不溢. La-thập: “Bản Phạnnói là lưu 流 .” VCX: vô lưu 無流. VCS (T38n1782, p1092a16): «Cựu dịch là dật, có nghĩa là lưudật 流溢 (chảy tràn).»

[20] ThiệnÝ 善意. VCX: Điều ThuậnTuệ 調順慧. Skt. Suvinitamati.

[21] VCX:«Liễu tri sinh tử tự tính vốn không; không lưu chuyển, cũng không tịch diệt.»

[22] Hiệnkiến 現見. Chi Khiêm: Mục Kiến 目見.

[23] La-thập:«Pháp bị huỷ diệt mà không hoàn toàn diệt tận, nên nói là bất tận.» VCX(T38n1782, p1092b02): «Cựu dịch...không còn cái gì để có thể tận cùng hơn nữa,cho nên cái hữu tận chính là cái vô tận.»

[24] Nhảy mộtđoạn trong bản của La-thập. VCX: «Lại nữa, hữu tận, là trong từng sát na, từngsát na, không có cái hữu tận thì đó là vô tận. Không có cái hữu tận, nên cái vôtận cũng không. Thấu hiểu tự tính của hữu tận và vô tận vốn không, đó là nhậpbất nhị pháp môn.»

[25] PhổThủ 普守. VCX: Phổ Mật 普密. Skt. Samantagupta. Chi Khiêm: Phổ Bế 普閉.

[26] ĐiệnThiên 電天. Chi Khiêm: Minh Thiên 明天.

[27] VCX:«Minh và vô minh đều bất khả đắc. Không thể tính toán; siêu việt con đường tínhtoán.»

[28] Hỷ Kiến 喜見. Chiêm Khiêm: Ái Cẩn 愛覲.

[29] Minh Tướng明相 . VCX: Quang Tràng 光幢 (Skt. Prabhādvaja).Chi Khiêm: Quang Tạo 光造 (Skt. Prabhākara).

[30] Tứ chủng四種 . La-thập, đây chỉ tứ đại tức bốn đại chủng(mahābhūtāni). VCX: «Bốn giới (dhātu) và không giới (ākāśa-dhātu) là hai.» XemCâu-xá i.12: đại chủng vị tứ giới 大種謂四界 .

[31] Tiền tế 前際 (Skt. pūrva-koṭi), biên tế tối sơ của thời gian.

[32] DiệuÝ 妙意. VCX: Diệu Huệ 妙慧. Skt. Sumati.

[33] Vô TậnÝ 無盡意. VCX: Vô TậnTuệ 無盡慧. Skt. Akṣayamati.

[34] ThâmTuệ 深慧. VCX: Thậm ThâmGiác 甚深覺. Chi Khiêm: Thâm Diệu深妙.

[35] VCX:không, vô tướng, vô nguyện.

[36] VCX:«(...) trong vô nguyện nay không có tâm, không có ý, không có thức để có thểđược vận chuyển.»

[37] TịchCăn 寂根. VCX: Tịch tĩnhcăn 寂靜根. Skt. Śāntendiya (Cf.Gaṇḍ., Rāstr., Śikṣ.)

[38] Tâm VôNgại 心無閡. VCX: Vô NgạiNhãn 無礙眼. Chi Khiêm: Bất HuỷCăn 不毀根.

[39] La-thập:«Thân là năm thủ uẩn. Thân diệt là Niết bàn.» VCX: tát-ca-da 薩迦耶 và tát-ca-da diệt 薩迦耶滅 . Skt. satkāya,satkāya-nirodha.

[40] ThượngThiện 上善. VCX: Thiện ĐiềuThuận 善調順. Chi Khiêm: ThiệnĐoạn 善斷.

[41] VCX: baluật nghi (Skt. saṃvara, sự phòng hộ).

[42] PhướcĐiền 福田. Chi Khiêm: Phước Độ (Phúc Thổ) 福土.

[43] Tộihành 罪行, chỉ các nghiệp bấtthiện. Phước hành 福行: nghiệp thiện Dụcgiới. Bất động hành 不動行: nghiệp thuộc Sắc vàVô sắc giới.

[44] HoaNghiêm 華嚴.

[45] ĐứcTạng 德藏. VCX: ThắngTạng 勝藏. Skt. Śrīgarbha (Cf.Saddh., Mvyut.). Chi Khiêm: Thủ Hoài 首懷.

[46] NguyệtThượng 月上. Chi Khiêm: Nguyệt Thạnh 月盛.

[47] Bảo ẤnThủ 寶印手. Skt. Ratnamudrahasta; Mvyut.

[48] Châu ĐỉnhVương 珠頂王. VCX: Châu Kế Vương 珠髻王. Skt. Maṇicūḍarāja, cf. Mvyut..Lal.v. Chi Khiêm: Tâm Châu Lập 心珠立.

[49] VCX:«Người an trụ Cánh đạo thì cứu cánh không hành tà đạo. Vì không hành (không đi)cho nên không có hai tương tà đạo và chính đạo.»

[50] Lạc Thật 樂實. VCX: Đế Thật 諦實 . Chi Khiêm: ThànhLạc Ngưỡng 誠樂仰.

[51] La-thập:vô ngôn 無言, vô thuyết 無說, vô thị 無示, vô thức 無識. VCX: vô ngôn, vô thuyết, vô biểu, vô thị 無表無示.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn