Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 8: Phật Đạo

10/10/201015:00(Xem: 974)
Chương 8: Phật Đạo

Chương 8
PHẬT ĐẠO
[1]

Văn-thù hỏiDuy-ma-cật:

«Bồ tát làmsao để thông đạt Phật đạo?»[2]

Duy-ma-cậtnói:

«Bồ tát đitrên phi đạo[3] là thông đạt Phật đạo.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Bồ tát đitrên phi đạo là thế nào?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Bồ tát hànhnăm vô gián[4] mà không thù không hại.[5] Đi đến địa ngục mà không có cáu bẩnnào của tội lỗi.[6] Đi đến súc sinh mà không có các lỗi lầm của vô minh, kiêu,mạn.[7] Đi đến ngạ quỷ[8] mà vẫn đầy đủ công đức. đi lên các cõi Sắc và vô Sắcgiới[9] mà không cho là hơn hết.[10] Thị hiện hành tham dục mà không nhiễmtrước. Thị hiện hành sân hận thù nghịch mà không có thù hận ác ý đối với cácchúng sinh. Thị hiện hành ngu si mà dùng trí tuệ để chế ngự tâm mình. Thị hiệnhành xan tham bủn xỉn mà không tiếc cái gì sở hữu trong ngoài, thân mạng. Thịhiện hành phá giới mà an trụ trong tịnh giới, cho đến dù đối với tội nhỏ vẫn ômlòng kinh sợ. Thị hiện hành sân nhuế mà thường hành từ, nhẫn nhịn. Thị hiệnhành biếng nhác mà lại siêng năng tu tập công đức. Thị hiện hành loạn ý màthường chánh niệm, tâm định. Thị hiện hành ngu si[11] mà thấu triệt tuệ thếgian và xuất thế gian. Thị hiện hành siểm ngụy mà khéo phương tiện tùy theonghĩa kinh.[12] Thị hiện hành kiêu mạn[13] mà đối với chúng sinh thì như mộtchiếc cầu.[14] Thị hiện hành các phiền não mà tâm thường thanh tịnh. Thị hiệnnhập bọn với Ma nhưng thuận với trí tuệ của Phật chứ không theo giáo thuyếtkhác.[15] Thị hiện nhập vào hàng Thanh văn, nhưng thường nói pháp chưa từngnghe cho chúng sinh. Thị hiện trong hàng Bích-chi-phật mà thành tựu đại bi giáohoá chúng sinh. Thị hiện hoà nhập trong giới cùng khổ nhưng có bàn tay châu báuvới công đức vô tận.[16] Thị hiện làm người khuyết tật mà thân tự trang nghiêmcác tướng tốt đẹp đẽ. Thị hiện ở giữa giai cấp hạ tiện mà sinh vào chủng tínhPhật, đủ các công đức. Thị hiện ở giữa người gầy xấu ốm yếu mà được thânNa-la-diên,[17] hết thảy chúng sinh đều ưa nhìn ngắm. Thị hiện người già yếu màkhông ốm đau, vượt qua nỗi sợ hãi sự chết. Thị hiện có mọi tiện nghi của cuộcsống[18] vẫn luôn thấy rõ tính vô thường, không tham cầu gì. Thị hiện có thêthiếp và nàng hầu mà vẫn thường xa rời bùn sình ngũ dục. Thị hiện người đầnđộn, nói lắp, nhưng lại thành tựu biện tài bằng lực tổng trì không hề quênlãng.[19] Thị hiện đi vào bến tà[20] nhưng vẫn đưa chúng sinh đi qua bằng bếnchánh. Hiện vào khắp các đạo mà đoạn trừ nhân duyên của chúng. Hiện ở niết bànvẫn không dứt lìa sinh tử.[21]

«Văn-thù-sư-lợi,Bồ tát đi trên phi đạo như vậy là Bồ tát thông đạt Phật đạo.»

ĐoạnDuy-ma-cật lại hỏi Văn-thù-sư-lợi:

«Thế nào làchủng tánh của Như Lai?»[22]

Văn-thù-sư-lợiđáp:
«Hữu thân[23] làchủng tánh; vô minh và hữu ái là chủng tánh; tham, sân, si là chủng tánh; bốnđiên đảo là chủng tánh; năm chướng cái[24] là chủng tánh; sáu nhập[25] là chủngtánh; bảy thức xứ[26] là chủng tánh; tám tà pháp[27] là chủng tánh; chín nãoxứ[28] là chủng tánh; mười bất thiện nghiệp đạo là chủng tánh. Nói tóm, sáumươi hai kiến và hết thảy phiền não đều là chủng tánh Phật.»

Duy-ma-cậthỏi Văn-thù-sư-lợi:

«Sao lại nhưvậy?»

Văn-thù-sư-lợiđáp:

«Vì ngườithấy pháp vô vi[29] rồi vào chánh vị[30] thì không còn phát tâm cầu vô thượngchánh đẳng chánh giác. Cũng như trên gò đất cao thì làm sao nảy nở hoa sen; chỉmọc nơi chỗ đầm lầy mới mọc hoa này. Cũng vậy, người thấy pháp vô vi rồi vàochánh vị thì cuối cùng không còn sinh nơi Phật Pháp.[31] Chỉ có chúng sinh ởchốn bùn lầy phiền não mới có thể phát khởi Phật pháp. Cũng như hạt giống đembỏ giữa hư không không bao giờ có thể nảy mầm; đem vùi trong đất phân mới cóthể tươi tốt. Do đó, người vào Chánh vị vô vi không phát sinh Pháp Phật; trongkhi người khởi lên ngã kiến[32] lớn như núi Tu-di còn có thể phát tâm cầu giácngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác mà phát huy Pháp Phật.

«Cho nên, nênbiết hết thảy phiền não đều là chủng tánh của Như Lai. Cũng như người không lặnxuống biển sâu thì không tìm được ngọc trai vô giá; cũng vậy người không lặnxuống biển phiền não sẽ không tìm được ngọc Nhất thiết trí.»

Lúc ấy Ma-haCa-diếp tán thán:

«Lành thay,Văn-thù-sư-lợi, lành thay, lời ông nói thật tuyệt. Đúng như những điều đượcnói, những đám trần lao đều là chủng tánh Như Lai. Chúng tôi nay thật chẳng thểphát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác.[33] Cho đến người phạm năm tội vôgián cũng còn có thể phát ý sanh nơi Phật pháp nhưng chúng tôi thì vĩnh viễnkhông thể phát. Cũng như người mà căn đã hư hoại thì chẳng còn hưởng lợi đượcgì nơi ngũ dục. Cũng vậy, hàng Thanh-văn đã đoạn các kết sử chẳng còn thu hoạchgì thêm nơi Phật pháp, vĩnh viễn không có chí nguyện. Cho nên, Văn-thù-sư-lợi,phàm phu còn quay trở lại với Phật pháp chứ Thanh-văn thì không. Vì sao? Vìphàm phu khi nghe Pháp thì có thể phát khởi đạo tâm[34] vô thượng, để cho Tambảo không gián đoạn. Giả sử Thanh-văn trọn đời nghe Pháp và thấy lực, vô úy củaPhật, v.v… nhưng vĩnh viễn không thể phát đạo tâm vô thượng.»

Lúc ấy,tronghội chúng có Bồ tát tên Phổ-hiện Sắc-thân hỏi Duy-ma-cật:

«Cư sĩ, ai làcha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc của ngài? Gia nhân tôi tớ của ngài, voingựa xe cộ của ngài ở đâu?»

Bấy giờDuy-ma-cật trả lời bằng bài kệ:

Trí độ,[35]mẹ Bồ tát;
Phương tiện,[36]cha Bồ tát.
Hết thảy bậc Đạosư
Đều từ đấy màsinh.
Lấy Pháp hỷ làmvợ;
Tâm từ bi, congái;
Tâm thànhthật,[37] là trai.
Nhà, rốt ráokhông-tịch;
Đệ tử là trầnlao,[38]
Tùy nghi màchuyển hoá.
Đạo phẩm,[39] làbạn hữu
Nhờ đây thànhchánh giác.
Các độ, bạn đồnghành;
Bốn nhiếp là kỹnữ;
Ca vịnh, tụngpháp ngôn,
Lấy đó làm âmnhạc.
Tổng trì là vườnhoa,
Vô lậu là rừngcây.
Giác ý,[40] hoatươi đẹp
Quả, trí tuệ,giải thoát.
Tám giải[41] làhồ tắm;
Nước định lắngtrong, đầy.
Rải bằng bảy hoatịnh,[42]
Tắm gội người vônhiễm.
Voi, ngựa: nămthần thông,
Kéo cổ xe Đạithừa;
Lấy nhất tâm[43]chế ngự
Dong ruổi támchánh đạo.
Tướng tốt đểnghiêm thân
Vẻ đẹp chuốt tưthái.
Tàm quý là trangphục
Thâm tâm[44] làtràng hoa.
Giàu có bảy tàibảo[45]
Dạy dỗ cho thêmích.
Theo giáo thuyếttu hành
Hồi hướng làmđại lợi.[46]
Bốn thiền làgiường chõng
Phát sinh từtịnh mạng.[47]
Học nhiều, tăngtrí tuệ,
Làm âm thanhthức tỉnh.[48]
Cam lộ là thức ăn;[49]
Vị giải thoát làtương;[50]
Tịnh tâm là tắmgội;
Giới phẩm làhương thoa.
Diệt trừ giặcphiền não,
Dũng mãnh khôngai hơn.
Hàng phục bốnthứ ma
Cờ thắng dựngĐạo tràng.[51]
Dù biết khôngkhởi, diệt
Vẫn thị hiện táisanh
Trên khắp cácquốc độ
Như mặt trời rọikhắp.
Cúng dường vôlượng Phật
Khắp mười phươngthế giới
Mà không hề phânbiệt
Có Phật và cóta.
Dù biết các cõiPhật
Cùng chúng sinhlà không
Vẫn thường tutịnh độ,
Để giáo hóachúng sinh.
Chúng sinh vô sốloại,
Sắc, thanh, vàoai nghi;
Bồ tát lực, vôuý,[52]
Khoảnh khắc thảyhiển hiện.
Biết rõ việcchúng ma
Vẫn thị hiệnhành theo,
Rồi bằng phươngtiện trí,
Tuỳ ý mà thểhiện.[53]
Hoặc hiện già,bịnh, chết,
Để thành tựuchúng sinh;
Biểt rõ là huyễnhoá,
Thông suốt khôngchướng ngại.
Hoặc hiện lửatận thế
Đốt cháy rực cõiđất;
Khiến ngườitưởng thường hằng
Hiểu rõ pháp vôthường.
Vô số ức chúngsinh
Cùng đến thỉnhBồ tát.
Một lúc chúngđến nhà,
Chỉ cho hướngPhật đạo.
Kinh sách và chúthuật,
Kỹ, mỹ nghệ đềutinh;
Lấy đó mà thịhiện,
Làm lợi ích quầnsinh.
Xuất gia khắpcác đạo,
Đạo pháp của thếgian;
Nhân đó trừ mêhoặc,
Chứ không đọa tàkiến.
Làm Vua mặtTrời, Trăng,
Phạm thiên, Thếgiới chủ,
Có khi là đất,nước,[54]
Hoặc gió, hoặclà lửa.
Hoặc taikiếp[55] tật dịch,
Thị hiện cây cỏthuốc;
Để cho ngườiđược uống,
Trị dứt các dịchbịnh.
Hoặc tai kiếpđói kém;
Hiện thân làmthức ăn;
Trước cứu ngườiđói khát
Sau dạy Phápgiải thoát.
Hoặc tai kiếpđao binh;
Khơi dậy tâm từbi
Gíáo hoá chúngsinh kia
Để sống khôngtranh chấp.
Hoăc khi gặp đạichiến,
Khiến hai bêncùng mạnh
Rồi dùng lực oainghiêm
Làm họ giảng hòanhau.
Trong khắp mọiquốc độ,
Chỗ nào còn địangục,
Liền thị hiệnchỗ ấy
Giúp người giảmbớt khổ.
Trong khắp mọiquốc độ,
Súc sinh ăn thịtnhau;
Người thị hiệnchỗ đó
Làm lợi ích chochúng.[56]
Thị hiện thọ ngũdục
Mà vẫn hiện hànhthiền,
Làm rối loạn cácma
Không cho chúngtự tiện.
Hy hữu như tronglửa
Nở một đóa senhồng;
Hành thiền trongngũ dục
Cũng hy hữu nhưvậy.
Hoặc hiện làmdâm nữ
Dẫn dụ người háosắc;
Trước lấy dụccâu móc,
Sau hướng vềPhật trí.
Hoặc là chủthành ấp;
Hoặc làm chủthương buôn;
Làm quốc sư, đạithần;
Cũng vì lợichúng sinh.
Có người nghèo,đói rách,
Hiện làm kho vôtận;
Rồi nhân đókhuyên dẫn,
Khiến phát Bồ-đềtâm.
Với kẻ tâm kiêumạn;
Hiện làm đại lựcsỹ
Khuất phục cáckiêu mạn,
Đưa về vô thượngđạo.[57]
Hoặc đám ngườikinh sợ,
Liền đến mà anủi.
Trước làm chohết sợ;
Sau khiến phátđạo tâm.
Hoặc hiện lìadâm dục,[58]
Làm tiên nhânnăm thông[59]
Để dắt dẫn quầnsanh,
Trụ ở giới,nhẫn, từ.
Với người cầnphục dịch,
Hiện thân làmtôi tớ
Khiến cho chủhài lòng
Mà phát khởi Đạotâm.
Tuỳ theo ngườinhu cầu,
Mà đưa vào Phậtđạo;
Liền dụng lựcphương tiện
Cấp cho đủ thứcần.
Như thế, đạo vôlượng,
Và sở hành khôngbờ;
Trí tuệ khôngbiên tế,
Người độ vô sốchúng.
Dù hết thảy chưPhật
Trải qua vôlượng kiếp
Tán thán côngđức này
Cũng không thểnói hết.
Pháp như vậy, ainghe
Mà không phátbồ-đề?
Chỉ trừ kẻ vôdụng,
Hoặc si ám, vôtri.

[1] DMC: Phậtđạo phẩm 佛道品 . VCX: Bồ đề phầnphẩm 菩提分品. Skt. Bodhi-pakṣa-varga. Chi Khiêm:Phẩm Như lai chủng tánh 如來種品第八.

[2] Thông đạtPhật đạo. VCX, chư Phật pháp đáo cứu cánh thú; «Làm thế nào để đạt đến chỗ quyhướng cứu cánh trong Phật pháp.» Skt. buddha-dharmeṣu niṣṭhita-gatiḥ.

[3] Phiđạo 非道; La-thập nói (Đại 38,tr.390b27): «Có ba thứ phi đạo. 1. Quả báo dẫn đến cõi xấu ác. 2. Hành nghiệpdẫn đến cõi xấu ác. 3. Nghiệp thiện thế tục, và quả báo của nghiệp thiện. VCX:phi thú 非趣; Khuy Cơ(T38n1782_p1086c10): «Chỗ mà phàm hướng đến để quay về gọi là thú 趣. Chỗ quay về của Thánh nhân không phải là chỗ quay về của phàmphu. Đi trên lối đi không thích hợp ấy gọi là hành phi thú 行非趣.»

[4] VCX: ngũvô gián thú 五無間趣 (Skt. pañcaānantaryārgatayaḥ= pañca ānantaryāṇi karmāni), chỉ năm nghiệp vô gián: giết cha(pitṛ-ghātaḥ), giết mẹ (mātṛ-ghātaḥ), hại A-la-hán(arhad-vadaḥ), phá hoà hiệp tăng(saṃgha-bhedaḥ), gây thương tích nơiPhật (tathāgatasyāntike duṣṭa-citta-rudhirotpādanaṃ).

[5] Nãonhuế 惱恚; VCX: nhuế não phẫnhại độc tâm 恚惱忿害毒心, tâm ác độc, thù hận,quấy nhiễu, phẫn nộ, ác hại.

[6] Tộicấu 罪垢. VCX: phiền não trầncấu 煩惱塵垢. Skt. kleśa-mala.

[7] Có thểDMC nhảy sót; VCX: «đi trên lối A-tố-lạc (Skt. āsura) mà không còn ngạo mạn,kiêu dật.»

[8] VCX: «Đitrên lối của Diệm-ma vương (Skt. Yama-rāja) mà chứa nhóm rộng rãi vô lượng tưlương của phước và huệ.»

[9] Hành sắcvô sắc giới đạo 行色無色界道 . VCX: hành ư vô sắcđịnh thú 無色定趣.(ārūpya-samāpatti-gati).

[10] VCX: «…mà không xu hướng cảm thọ lạc đối với định ấy.»

[11] VCX: áctuệ hành thú 惡慧行趣. Skt. pāpa-mati-gati; Cf. Câu-xá 10 (Đại 29, tr. 51c21): tuệ nhiễm ô được gọi là ác tuệ (Skt.kuprajñā/ kutsitā prajñā).

[12] Kinhnghĩa 經義; La-thập dùng từ Hán thư, chỉ đạo lý ghi trong kinh điển.VCX: thể hiện thành công phương tiện thiện xảo.

[13] VCX: mậtngữ phương tiện kiêu mạn 密語方便憍慢: kiêu mạn như làphương tiện của mật ngữ (Skt. sandhyopāyamāna?). VCS (T38n1782_p1087b11) giảithích: «Người đời chúc nhau ‘Không bệnh, sống lâu’; Bồ tát cũng nói theo… nhưlà phương tiện độ người.»

[14] La-thập(Đại 38, tr.0391a12): «Ý nói khiêm tốn như làm đồ vật cho người ta dẫm đạp lênmà vẫn nhẫn nhịn, không kiêu mạn.»

[15] VCX: bấttuỳ tha duyên 不隨他緣, không lệ thuộc điều kiện của người.

[16] La-thập(Đại 38, tr.0391a25) nói: «bảo vật từ bàn tay tuôn ra bất tận.»

[17]Na-la-diên thân 那羅延身; La-thập (ibid.) nói:«Thân thể đẹp đẽ, rắn chắc như lực sỹ nhà trời.» Skt. nārāyaṇa-bala (kāya).

[18] VCX: cầutài vị 求財位. Skt.bhogānārabhya-paryeṣṭi.

[19] Tổng trìvô thất 總持無失. VCX: đà-la-ni niệmtuệ vô thất 陀羅尼念慧無失.

[20] Tàtế 邪濟. VCX: tà đạo 邪 道.

[21] DMC nhảymột đoạn; VCX: «Tuy thị hiện chứng đắc diệu Bồ đề, chuyển đại pháp luân, nhậpNiết-bàn nhưng vẫn tinh cần tu tập Bồ tát hành, tiếp nối không dứt.»

[22] Như laichủng 如來種. La- thập (Đại 38,tr.0391b27) nói, «Chủng, và căn bản nhân duyên, cùng một nghĩa.» Đạo Sinh(ibid.) nói, «Mượn hạt giống lúa mà nói Như lai chủng.» Chủng ở đay đựơc hiểulà bīja. VCX: Như lai chủng tánh 如來種性; VCS (T38n1782,tr.p1087c22): «Chủng là nhân; tánh là loại.Thể loại của nhân của Phật gọi làPhật chủng tánh.» Skt. tathāgata-gotra: gia tộc hay dòng dõi. Cf. Du già sư địa35 (T30n1579, tr.478c12): «Có hai loại chủng tánh: 1. Bản tánh trụ (Skt. prakṛti-stha-gotra), chủngtánh tự nhiên có sẵn từ vô thủy của Bồ tát. 2. Tập sở thành (samudānīta-gotra),do tu tập các thiện căn mà thành… Chủng tánh này cũng có nghĩa là chủng tử(gotra = bīja).»

[23] Hữuthân 有身. La-thập, «Hữu thân,chỉ năm thọ ấm (=thủ uẩn, Skt. upādāna-skandha) thuộc hữu lậu.» VCX: ngụy thânchủng tánh 偽身種性. Khuy Cơ (T38n1782,tr.1088a19):«Tức thân năm uẩn làm đối tượng cho tát-ca-da kiến (Skt. satkāya-dṛṣṭi).»

[24] Ngũcái 五蓋. Skt. pañca nīvaraṇāni, ngăn che vàchướng ngại.

[25] VCX: lụcxứ chủng tánh 六處種性. Skt. ṣaḍ āyatanāni, sáu nội xứhay sáu căn.

[26] Thấtthức trụ 七識住. Skt. vijñāna-sthiti,bảy chỗ an trụ của thức. Cf. Câu-xá 8 (Đại 29, 42c)

[27] Tám tàpháp 八邪法; các bản không giải.Thường chí phần đối lập với tám chánh đạo.

[28] Chín nãoxứ; chín trường hợp thù oán: 1. Oan gia của người mà ta thương; 2. Thân hữu củangười mà ta ghét; 3. Gây phiền cho bản thân ta. Nhân với ba thời thành chín.Skt. āghāta-sthāna. Cf. Pali, Saṅgīti, D.iii.262, nava āghāta-paṭivinayā.

[29] Kiến vôvi 見無為 .La-thập nói (Đại 38, tr.0392b01): «Vô vi, tức tận đế (=diệt đế; Skt. nirodha-satya).

[30] Chánh vị正位 . La-thập (ibid.) nói: «Từ khổ pháp nhẫn cho đến vô sinhA-la-hán, cho đến Phật vị, đều gọi là chánh vị.» VCX: chánh tánh ly sanhvị 正性離生位. Khuy Cơ (T38n1782tr.1088b26): «Chánh tánh chỉ chân lý Thánh đế. Sanh, chỉ dị sanh (Skt. pṛthagjana: phàm phu).Ly sanh, tức vượt ngoài địa vị phàm phu… Đây chỉ địa vị Dự lưu trở lên.»

[31] VCX:«Không thể phát khởi tâm Nhất thiết trí 一切智心 (Skt.sarvajñatā-citta).»

[32] VCX:khởi thân kiến 身見. (Skt. satkāya-dṛṣṭi: hữu thân kiến).

[33] VCX:«Chúng tôi, trong dòng tương tục của tâm, hạt giống sanh tử đã mục nát, khôngcòn cơ hội để phát tâm…»

[34] Đạo ý 道意 : Bồ đề tâm.

[35] Giảithích của Khuy Cơ (T38n1782_p1089b25): trong bản Huyền Trang, chỉ ba-la-mật thứsáu tức Bát-nhã ba-la-mật (Skt. prajñāpāramitā) vốn là trí vô phân biệt (Skt.nirvikalpa-jñāna); trong bản La-thạp, trí độ chỉ ba-la-mật thứ mười(jñāna-pāramitā).

[36] Khuy Cơ,đây chỉ ba-la-mật thứ 7, mà tự thể là hậu đắc trí (pṛṣṭhalabdha-jñāna).

[37] Thiệntâm thành thật 善心誠實. Chân thật đế pháp 真實諦法 (Skt. satya-dharma).

[38] VCX:«Lấy phiền não nô lệ hèn mọn và kẻ giúp việc, tuỳ ý mà sử dụng .»

[39] Đạophẩm, La-thập nói: 37 phẩm chung cho cả ba thừa. Đạo phẩm của Bồ tát kiêm cảsáu ba-la-mật. VCX: Giác phần 覺分 (Skt. bodhi-pakṣa). Khuy Cơ: Nhân tốcủa Bồ đề nên gọi là giác phần, chứ không phải là 37 phần Bồ đề.

[40] Giácý 覺意, Đạo Sinh: chỉ 7 giácý; Skt. bodhyaṅga. VCX: giác phẩm 覺品; Khuy Cơ: chỉ 37 giácphẩm hay trợ đạo; Skt. bodhi-pakṣa.

[41] Tám giảithoát 八解脫 (Skt. aṣṭau vimokṣāḥ).

[42] Bảythanh tịnh 七清淨: 1. giới tịnh; 2. tâmtịnh; 3. kiến tịnh; 4. độ nghi tịnh; 5. phân biệt đoạ tịnh; 6. hành trí kiếntịnh; 7. hành đoạn trí kiến tịnh.

[43] La-thập:«Nhất tâm, trong bản phạm là hoà hiệp 和合 (Skt. samagrī?) .Trong đạo phẩm có ba tướng: phát động, nhiếp tâm và xả. Phát động quá thì tâmtán; do đó cần thâu nhiếp lại. Nhiếp quá thì chìm nên cần tinh tấn… Đông tĩnhthích hợp, khoan thai xử trung; đó là xả. Xả là đã được chế ngự. Được chế ngự,là hoà hiệp.» VCX: bồ-đề tâm (Stk. bodhicitta).

[44] VCX:thắng ý lạc 勝意樂 (Skt. adhyāśaya).

[45] Chỉ 7Thánh tài 七聖財 (Skt. sapta dhanāni):tín, giới, tàm, quý, đa văn, xả, tuệ.

[46] VCX: hồihướng đại Bồ đề.

[47] Tùng ưtịnh mạng sanh 從於淨命生 ; Khuy Cơ cho là văndịch này hơi tối nghĩa. VCX: lấy tịnh mạng (Skt. śuddhājīva) là chăn đệm.

[48] La-thập:«người sang quý ngoại quốc, khi mặt trời mọc, sai người tấu nhạc để đánh thức.»VCX: «Niệm, trí thường giác ngộ; tâm luôn luôn tại định.»

[49] VCX:«Thức ăn là pháp bất tử (Skt. amṛta-dharma)

[50] Tương 漿 , đây chỉ thức uống.

[51] VCX:«dựng cờ diệu Bồ đề.»

[52] Chỉ 10lực và 4 vô uý của Bồ tát.

[53] Khuy Cơdiễn ý: «Tuy biết rõ các nghiệp của Ma, nhưng thị hiện như là hành động theochúng. Cho đến giai đoạn cứu cánh, bằng vào tuệ phương tiện mà dứt sạch tấtcả.»

[54] La-thập(Đại 38, tr.0395c14): «Hoặc khi thấy có người ra biển mà thuyền sắp bị chìm, Bồtát biến mình thành đất liền để làm chỗ trú ẩn…»

[55] Trungkiếp 劫中 (Skt. antarkalpa),chỉ thời tận thế. Trong thời này, loài người chịu ba tai họa nhỏ, gọi là tiểutam tai: dịch bịnh, đói kém, chiến tranh. Cf. Câu-xá 12 (Đại 29, tr. 65c25).

[56] VCX:«Làm lợi lạc, đó gọi là bản sanh.» Khuy Cơ (T38n1782, tr.1090c14): «Những việclàm lợi lạc như vậy, khi đã thành Phật được gọi là bản sanh. Đó chính là Bảnsanh sự của Bồ tát.»

[57] VCX:khiến phát Bồ đề nguyện.

[58] VCX:thanh tịnh tu phạm hạnh.

[59] Ngũthông tiên nhân 五通仙人 (Skt. pañcābhijña ṛṣi).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn