Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 7: Quán Chúng Sanh

10/10/201015:00(Xem: 917)
Chương 7: Quán Chúng Sanh

Chương 7
QUÁN CHÚNG SINH
[1]

Văn-thù hỏi Duy-ma-cật:

«Bồ tát nênquán sát chúng sinh như thế nào?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Như nhà ảothuật quán sát ảo vật mình tạo ra; Bồ tát nên quán sát chúng sinh cũng như vậy.Cũng như bậc trí giả nhìn trăng nơi đáy nước; nhìn bóng mình trong gương; nhìnánh lửa khi nhiệt bốc;[2] như tiếng vọng của lời gọi; như mây nổi trong bầutrời;[3] như đám bọt nước;[4] như bong bóng trên mặt nước;[5] như lõi chuốirỗng; như ánh chớp lóe kéo dài;[6] như đại thứ năm;[7] như uẩn thứ sáu;[8] nhưtình thứ bảy[9] như nhập thứ mười ba;[10] như giới thứ mười chín;[11] Bồ tátnên quán sát chúng sinh cũng như vậy. Cũng như sắc trong vô sắc giới; như mầmcủa hạt giống hư;[12] như thân kiến[13] của Tu-đà-hoàn;[14] như sự nhập thaicủa A-na-hàm;[15] như ba độc của La hán; như tham, sân, phá giới của Bồ tát đãchẳng đắc pháp nhẫn;[16] như tập khí phiền não nơi Phật;[17] như sắc được thấy bởingười mù; như hơi thở ra vào của vị đang nhập diệt tận định;[18] như dấu chânchim trong hư không;[19] như đứa con của người đàn bà vô sinh;[20] như phiềnnão của người được biến hoá;[21] như những điều thấy trong chiêm bao khi đãthức; như sự thọ thân của vị đã diệt độ;[22] như ngọn lửa không khói;[23] Bồtát nên quán sát chúng sinh cũng như vậy.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Bồ tát quánnhư thế thì làm sao thực hành lòng từ?»[24]

Duy-ma-cậtđáp:

«Bồ tát saukhi quán như vậy, lại suy nghĩ, ‹Ta sẽ thuyết pháp như vậy cho chúng sinh.› Đóchính là lòng từ chân chánh. Ngài nên tu hành từ tịch diệt,[25] vì không có gìsanh;[26] hành từ không nóng bức,[27] vì không có phiền não; hành từ bìnhđẳng,[28] vì bình đẳng với ba thời; hành từ vô tranh,[29] vì không có gìkhởi;[30] hành từ bất nhị, vì trong ngoài không kết hợp; hành từ bất hoại, vìrốt ráo diệt tận;[31] hành từ kiên cố, vì tâm không huỷ;[32] hành từ thanhtịnh, vì các pháp tánh tịnh;[33] hành từ vô biên,[34] vì như hư không; hành từcủa A-la-hán, vì diệt giặc kết sử;[35] hành từ của Bồ tát,[36] vì an ổn chúngsinh;[37] hành từ Như Lai, vì được như tướng;[38] hành từ của Phật, vì thức tỉnhchúng sinh;[39] hành từ tự nhiên, vì không do nhân mà được;[40] hành từ bồ-đề,vì một vị bình đẳng; hành từ không thể sánh, vì đã đoạn trừ các ái;[41] hành từcủa đại bi, vì hướng dẫn bởi Đại thừa;[42] hành từ không mệt mỏi vì quán không,vô ngã;[43] hành từ của pháp thí không còn nuối tiếc;[44] hành từ của trì giới,vì chuyển hóa người phạm giới; hành từ[45] nhẫn nhục, vì hộ vệ mình lẫn người;hành từ của tinh tấn, vì gánh vác chúng sinh; hành từ của thiền định, vì khôngcảm thọ vị ngọt;[46] hành từ của trí tuệ, vì mọi sự đều đúng thời;[47] hành từcủa phương tiện, vì thị hiện tất cả;[48] hành từ không ẩn dấu, vì trực tâmthanh tịnh; hành từ của thâm tâm, vì không tạp hành;[49] hành từ không dốitrá[50] nên chẳng còn việc hư giả; hành từ an lạc, vì khiến cho đạt được an lạccủa Phật.[51]

«Đó là nhữnghạnh từ của Bồ tát.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Bồ tát hànhbi[52] như thế nào?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Tất cả côngđức mà Bồ tát làm đều được chia sẻ cho cho hết thảy chúng sinh.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Thế nào làhỷ?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Hoan hỷkhông hối tiếc những lợi ích gì.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Thế nào làxả ?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Gia ân[53]mà mà không mong cầu tri đáp trả.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Sợ sinh tử,Bồ tát nên nương tựa vào đâu?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Bồ tát,trong khi sợ hãi sinh tử, nương tựa vào sức mạnh của công đức Như Lai.»[54]

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Bồ tát muốnnương nhờ sức mạnh của công đức Như Lai thì cần phải an trụ như thế nào?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Bồ tát muốnnương nhờ sức mạnh của công đức Như Lai thì cần phải an trụ nơi chỗ độ thoáthết thảy chúng sinh.»[55]

Văn-thù-sư-lợihỏi

«Bồ tát nêntiêu trừ cái gì để độ thoát chúng sinh?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Muốn độthoát chúng sinh phải tiêu trừ phiền não của họ.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Làm sao đểtiêu trừ phiền não?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Nên thựchành chánh niệm.» [56]

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Làm sao đểthực hành chánh niệm?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Hãy hành bấtsinh và bất diệt.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Pháp gì bấtsinh? Pháp gì bất diệt ?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Bất thiệnthì bất sinh; pháp thiện thì bất diệt.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Đâu là nguồngốc của thiện và bất thiện?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Thân lànguồn gốc của thiện và bất thiện.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Đâu là nguồngốc của thân?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Dục tham làgốc.»[57]

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Đâu là nguồngốc của dục tham?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Hư vọng phânbiệt là gốc.»[58]

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Đâu là nguồngốc của hư vọng phân biệt?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Tưởng đảo điênlà gốc.»

Văn-thù-sư-lợihỏi:

«Đâu là nguồngốc của tưởng đảo điên?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Vô-trụ làgốc.»

Văn-thù-sư-lợihỏi: «Đâu là nguồn gốc của vô-trụ?»

Duy-ma-cậtđáp:

«Vô-trụ chẳngcó gốc. Thưa ngài Văn-thù-sư-lợi, từ gốc vô-trụ này mà các pháp được kiếnlập.»[59]

Bấy giờ trongthất của Duy-ma-cật có một Thiên nữ[60] thấy các trời, người đến nghe Pháp,[61]liền hiện thân xuống rải hoa trời lên các Bồ tát và Đại đệ tử.[62] Hoa rắc trênthân các Bồ tát tức thì rơi xuống đất, nhưng rắc trên thân các Đệ tử thì bámvào. Tất cả các vị Đệ tử dùng thần lực phủi hoa, nhưng hoa không đi.

Thấy vậy,Thiên nữ hỏi Xá-lợi-phất:

«Sao ngàiphủi hoa đi?»

Xá-lợi-phấtđáp:

«Hoa nàykhông như pháp, nên phải phủi đi.»

Thiên nữnói:

«Đừng bảo hoanày không như pháp. Vì sao? Vì chúng không có gì phân biệt,[63] mà chính ngàiđang khởi tâm phân biệt. Nếu người xuất gia trong Phật pháp mà còn có cái phânbiệt, cái đó mới là không như pháp. Nếu không khởi phân biệt nữa, đó là nhưpháp. Nhìn chư Bồ tát xem, hoa không bám được vào thân vì các ngài đã đoạn trừhết thảy tưởng phân biệt. Cũng như người khi đang run sợ thì bị Ma[64] lunglạc. Đệ tử vì sợ sinh tử[65] nên bị sắc, thinh, hương, vị, xúc lung lạc. Ngườikhông còn sợ hãi, thì tất cả năm dục không làm gì được. Vì tập khí của kếtsử[66] vẫn còn nên hoa bám được thân đó thôi. Nếu tập khí của kết sử trừ sạch,hoa không bám được.»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Cô ở nhà nàybao lâu rồi?»

Thiên nữđáp:

«Tôi ở đâycũng lâu như sự giải thoát của bậc kỳ niên.»[67]

Xá-lợi-phất hỏi:

«Ở đây lâuchừng ấy sao?»

Thiên nữ hỏilại:

«Giải thoátcủa kỳ niên thì lâu bằng chừng nào?»

Xá-lợi-phất lặngim không đáp. Thiên nữ lại hỏi:

«Sao bậc Đạitrí kỳ cựu im lặng?»

Xá-lợi-phấtnói:

«Sự giảithoát không thể diễn giải bằng lời. Vì vậy, tôi không biết nói gì.»

Thiên nữnói:

«Ngôn thuyếtvà văn tự đều là biểu lộ của giải thoát.[68] Vì sao? Vì giải thoát không ởtrong, không ở ngoài, không ở giữa; văn tự cũng không ở trong, không ở ngoài,không ở giữa. Vì vậy, thưa ngài Xá-lợi-phất, không có việc lìa văn tự mà diễnthuyết giải thoát. Tại sao? Tất cả pháp đều là biểu hiện của giải thoát.»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Vậy cô hákhông muốn nói rằng dâm, nộ, si cũng là giải thoát?»

Thiên nữđáp:

«Phật vìngười tăng thượng mạn[69] mà nói rằng xa lìa dâm, nộ, si là giải thoát đó thôi.Với người không còn tăng thượng mạn, Phật nói tự tánh dâm, si đồng nhất vớigiải thoát.»

Xá-lợi-phất cangợi:

«Lành thay,lành thay, Thiên nữ! Cô đã sở đắc gì, chứng nghiệm cái gì mà biện tài xuấtchúng như vậy?»

Thiên nữđáp:

«Tôi không sởđắc gì cũng không chứng nghiệm gì mà được biện tài như vậy. Vì sao? Nếu có sởđắc, sở chứng, thì đối với Phật pháp[70] đó là tăng thượng mạn.»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Trong bathừa, cô chí hướng thừa nào?»

Thiên nữđáp:
«Khi cần giảngpháp Thanh-văn để chuyển hóa chúng sinh, tôi là Thanh-văn. Khi cần giảng phápnhân duyên để chuyển hóa chúng sinh, tôi là Bích-chi-phật. Khi cần pháp đại biđể chuyển hóa chúng sinh, tôi là Đại thừa. Thưa Xá-lợi-phất, như người bước vàorừng hoa chiêm-bặc chỉ ngửi thấy mùi hương chiêm-bặc[71] thơm át hẳn các mùikhác; cũng vậy, người bước vào nhà này chỉ ngửi thấy mùi hương công đức Phật vàchẳng còn thiết mùi hương Thanh-văn hay Bích-chi-phật. Thưa Xá-lợi-phất, khi màĐế Thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương, các trời, rồng, quỷ thần vào nhà này vàđược nghe vị Thượng nhân này giảng thuyết Chánh Pháp, hết thảy đều hâm mộ mùihương công đức Phật mà phát tâm Đại thừa trước khi ra khỏi nhà này. ThưaXá-lợi-phất, tôi ở đây mười hai năm,[72] chưa từng nghe Pháp Thanh-văn hayBích-chi-phật, mà chỉ nghe pháp của chư Phật bất khả tư nghị, đại từ, đại bi.

«Thưa Xá-lợi-phấtnhà này luôn hiện tám pháp chưa từng có, rất khó gặp. Những gì là tám?

«Thứ nhất,nhà này được rọi sáng bằng ánh kim quang suốt cả ngày đêm không khác nhau;chẳng cần đến mặt trời hay mặt trăng mới sáng.

«Thứ hai,những ai[73] bước vào nhà này không bị bức rức bởi những cáu bẩn.[74]»

«Thứ ba, nhànày thường có Đế Thích, Phạm thiên, bốn Thiên vương và các Bồ tát ở phương khácđến đây hội họp không dứt.

«Thứ tư, sáuBa-la-mật và các pháp bất thối chuyển[75] luôn được giảng dạy trong nhà này.

«Thứ năm,trong nhà này thường được nghe nhạc trời huyền diệu tấu diễn vô lượng âm thanhcủa của sự giáo hoá bằng chánh pháp.

«Thứ sáu, nhànày chứa bốn kho tàng tích trữ đầy tràn nhiều bảo vật chu cấp cho người cùngkhổ mà không hề kiệt tận.

«Thứ bảy, khivị Thượng nhân nhà này nghĩ tưởng đến Phật Thích-ca, Phật A-di-đà, Phật A-súc,Bảo Đức, Bảo Viêm, Bảo Nguyệt, Bảo Nghiêm, Nan Thắng, Sư Tử Hưởng, Nhất Thiết LợiThành,[76] cùng vô lượng chư Phật khắp mười phương thế giới, thì các Ngài liềnđến giảng thuyết rộng rãi pháp tạng bí yếu của chư Phật. Thuyết xong rồi mớitrở về.

«Thứ tám, hếtthảy mọi thiên cung trang nghiêm và đất Phật thanh tịnh đều ánh hiện trong nhànày.

«Thưa ngàiXá-lợi-phất, nhà này thường hiện tám pháp chưa từng có, rất khó gặp này. Khi đãchứng kiến tám sự kiện bất khả tư nghị như vậy, ai còn vui thích nơi phápThanh-văn làm gì?»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Sao cô khôngchuyển đổi thân nữ này đi?»

Thiên nữđáp:

«Mười hai nămnay tôi tìm kiếm tướng người nữ,[77] mà không thể tìm thấy được. Vậy tôi phảichuyển cái gì đổi cái gì? Cũng như nhà ảo thuật làm trò tạo nên một thân nữhuyễn. Nếu có người hỏi, ‹Sao không chuyển đổi thân nữ?›Người này hỏi có chínhxác không? »

Xá-lợi-phấtđáp:

«Không chínhxác. Sự huyễn không có tướng cố định, làm sao chuyển?»

Thiên nữnói:

«Hết thảy cácpháp cũng đều như thế, không có tướng cố định,[78] sao ngài hỏi tôi khôngchuyển đổi nữ thân?»

Nói đoạn,Thiên nữ dùng thần lực biến Xá-lợi-phất thành như Thiên nữ và nàng tự hoá thânthành như Xá-lợi-phất, rồi hỏi:

«Sao ngàikhông chuyển đổi thân nữ đó đi?»

Xá-lợi-phất, tronghình tượng Thiên nữ, đáp:

«Tôi ở đâykhông biết do chuyển biến gì mà biến thành thân nữ.»

Thiên nữđáp:

«Thưa Xá-lợi-phất,nếu ngài có thể chuyển đổi thân nữ đó, thì hết thảy người nữ cũng có thểchuyển. Cũng như Xá-lợi-phất chẳng phải nữ mà hiện thân nữ. Tất cả người nữcũng vậy, dù họ hiện thân nữ nhưng không phải nữ. Cho nên Phật dạy: ‘Hết thảypháp đều phi nam phi nữ.’ »

Nói xong,Thiên nữ rút lại dùng phép thần thông khiến Xá-lợi-phất trở lại tướng ban đầu,và hỏi:

«Sắc tướngthân nữ nay đâu rồi?»

Xá-lợi-phấtđáp:

«Sắc tướngthân nữ không tại đó, cũng không không tại đó.»[79]

Thiên nữ mớinói:

«Cũng vậy,hết thảy pháp không ở tại đó, nhưng không hề không ở tại đó. Và này, không tạiđó, cũng không không tại đó, đó là Phật thuyết vậy.»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Chết ở đây,cô sẽ sinh về đâu?»

Thiên nữđáp:

«Hoá thân bởiPhật[80] sinh như thế nào, tôi cũng sẽ sinh như vậy.»

Xá-lợi-phấtnói:

«Hoá thân bởiPhật không chết, không sinh.»

Thiên nữđáp:

«Chúng sinhcũng vậy, không chết, cũng không sinh.»

Xá-lợi-phất hỏi:

«Chừng baolâu cô sẽ chứng đắc giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác?»

Thiên nữđáp:

«Chừng nàoXá-lợi-phất trở lại làm phàm phu,[81] khi ấy tôi sẽ chứng đắc giác ngộ vôthượng chánh đẳng chánh giác.»

Xá-lợi-phấtnói:

«Tôi trởthành phàm phu; không có trường hợp đó.»

Thiên nữnói:

«Cũng khôngcó chuyện tôi chứng đắc giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì sao? Vìbồ-đề không có trú xứ, nên không có người chứng đắc.»

Xá-lợi-phấtnói:

«Có vô lượngchư Phật nhiều như số cát sông Hằng nay đang chứng đắc vô thượng chánh đẳngchánh giác; đã chứng đắc, sẽ chứng đắc; thế là nghĩa thế nào?»

Thiên nữđáp:

«Do văn tựthế tục mà nói có ba đời, chứ không phải bồ-đề có quá khứ, hiện tại, hay vịlai.»

Thiên nữ lạinói:

«Thưa Xá-lợi-phất,ngài có chứng A-la-hán đạo chăng?»[82]

Xá-lợi-phấtđáp:

«Không có gìchứng đắc nên chứng đắc.»

Thiên nữnói:

«Cũng vậy,chư Phật và đại Bồ tát do không có gì chứng đắc nên chứng đắc.»

Bấy giờ,Duy-ma-cật nói với Xá-lợi-phất:

«Thiên nữ nàyđã cúng dường chín mươi hai ức Phật.[83] Nàng có thể du hý với thần thông lựccủa Bồ tát, đã hoàn thành mọi ước nguyện, đã chứng vô sanh pháp nhẫn và đắcpháp Bồ tát bất thối chuyển. Do bản nguyện mà nàng tùy thời hiển hiện để giáohóa chúng sinh.»

[1] VCX:«Phẩm 7.Quán hữu tình 觀有情品第七 .» Chi Khiêm: Quán nhânvật 觀人物品第七.

[2] Nhiệtthời viêm 熱時炎 . VCX: dương diệmthuỷ 陽焰水, bóng nước trongquáng nắng.

[3] Khôngtrung vân 空中雲. VCX: hư không trungvân thành đài các 虛空中雲城臺閣 , thành quách, đài các trong mây trongbầu trời; Skt. gandharava-nagara, thành phố gandharva, thành phố càn-thát-bà,chỉ thành phố nhìn thấy trong biển do phản chiếu của mây và hơi nước bốc từbiển, thành ngữ Hán nói là «thận lâu hải thị 蜃樓海市,» lầu sò, chợ biển.

[4] DMC: thuỷtụ mạt 水聚沫. (Skt. phenapiṇḍa). VCX: thuỷ tụ mạtsở hữu tiền tế 水聚沫所有前際 , tiền tế của đám bọtnước; VCS giải thích: «tiền tế vốn không hiện hữu, vì nguyên lai là không.»Nghĩa là, không thể xác định điểm xuất phát của bọt nước. Cf. Pali, Dhp. 46:pheṇūpamaṃ kāyaṃ viditvā, biết rõ thânnày như bọt nước.

[5] DMC: thủythượng bào 水上泡. (Skt. udaka-budbuda)VCX: thủy phù bào hoặc khởi hoặc diệt 水浮泡或起或滅 . bong bóng trên mặtnước chợt nổi chợt chìm. Cf. Trung A-hàm 12 (Đại 1, tr. 503b). Cf. A. iv. 137:udaka-bubbuḷūpamaṃ jīvitaṃ manussānaṃ, sinh mạng của conngười như bong bóng nước (không bền chắc).

[6] Điện cửutrú 電久住. VCX không có thí dụnày.

[7] Phậtthuyết chỉ có 4 đại.

[8] DMC: ấm 陰. Phật thuyết chỉ có 5 uẩn.

[9] Tình 情. VCX: căn 根. Phật thuyết chỉ có 6căn. VCS (T38n1782, tr. 1081b24): «Tiếng Phạn tát-đỏa 薩 埵 (sattva), đây nói là hữu tình, tức là6 căn. Bản dịch cũ vì vậy nói là như tình thứ bảy.»

[10] DMC:nhập 入 . VCX: xứ 處. Phật thuyết chỉ có12 xứ.

[11] Phậtthuyết chỉ có 18 giới 界.

[12] VCX thêmhai thí dụ: y phục được dệt bằng lông rùa; sự hưởng thụ dục lạc của trẻ sơ sinhmà yểu mạng.

[13] Thânkiến 身見; VCX: tát-ca-da kiến 薩迦耶見 (= hữu thân kiến); Skt. satkāya-dṛṣṭi, cf. Câu-xá 9 (Đại 29, tr.99b25, 100a1,156c18): Đoạn trừ ba kết (thân kiến, nghi, giới cấm thủ), chứng quả Dự-lưu(=Tu-đà-hoàn); cf. A. 1. 231: so tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ (=sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbata-parāmāso) parikkhayāsotāpanno hoti.

[14] VCX:«như sự tái sinh lần thứ ba của Nhất lai.» Vị Nhất lai (Skt. skṛd-āgāmin) một lần táisinh thiên giới và một lần tái sinh nhân gian rồi nhập Niết-bàn, khong có táisinh lần thứ ba. Cf. Câu-xá 24, Đại 29, tr. 123c21, 124a19.

[15] A-na-hàm,hay Bất lai (Skt. anāgāmin) không còn tái sinh Dục giới nên không nhập thai(Skt. garbhāvakrānti). Cf. Câu-xá 24, Đại 29, tr. 124b1.

[16] Đắc nhẫnBồ-tát 得忍菩薩. CDM (Đại 38,tr.384a13) Triệu nói, «Trụ (= Bồ-tát địa) thứ bảy chắng đắc pháp nhần vô sinh(Skt. anutpattika-dharma-kṣānti), vĩnh viễn đoạn trừ các kết sử của tâm.» VCS (T38n1782,tr.1081c4), «Bồ-tát địa thứ tám trở lên gọi là đắc nhẫn.» (Skt. kṣānti-pratilabdha).

[17] Phậtphiền não tập 佛煩惱習, tàn dư của của phiềnnão còn tiềm phục (Skt. kleśa-vāsanānuśayitā) VCX: Như lai tập khí tươngtục 如來習氣相續 (Skt.vāsanā-santana).

[18] VCS: «Tứthiền trở lên không còn hơi thở ra vào nữa, huống là nhập diệt tận định.»

[19] VCXthêm: «Như căn của bán-trạch-ca 半擇迦 mà có thế dụng.» Skt.paṇḍaka, bất năng nam, đànông bất lực hay bị thiến.

[20] Hán:thạch nữ 石女. VCX: «như hành vicủa con của thạch nữ.»

[21] Hoánhân 化人 (Skt. nirmitaka).VCX: «Như sự trói buộc của người được Phật biến hoá ra.» Và thêm một thí dụ nữa:«Như phiền não cứu cánh không sinh khởi (atyantānutpanna-kleśa).» Giải thích,VCS: «Địa thứ tám trở lên, tuy hạt giống của phiền não chưa hoàn toàn bị tiêudiệt nhưng do tác động liên tục của vô lậu khiến cho chúng không có điều kiện đểsinh khởi, nên nói là phiền nào tuyệt đối không còn sinh khởi.»

[22] VCX:«Như thân đời sau (hậu hữu tương tục, Skt. bhava-prati-saṃdhāna) của A-la-hán.»

[23] VCX:«Như sự thiêu đốt của ngọn lửa không sinh.»

[24] VCX: tuđại từ (Skt. mahāmaitrī-bhāvanā).

[25] Hànhtịch diệt từ 行寂滅慈 . CDM, «Thâp nói:biết các pháp vốn vắng lặng (tịch diệt, Skt. upaśānta) và vô sanh (anutpanna),nhân đó mà khởi từ tâm nhưng vẫn không mất tịch diệt,»

[26] VCX: «vìkhông có các thủ.» Skt. anupādāna (không chấp thủ, tức không phiền não),La-thập đọc là anutpanna.

[27] Bấtnhiệt từ 不熱慈. CDM (Đại 38,tr.0384b23), «Triệu nói: phiền não khởi tư ái và kiến; từ tâm mà không ái vàkiến, cho nên không nóng bức (nhiệt não).

[28] VCX: «tutừ tâm như thực 如實慈 (Skt.yathābhūta-maitrī) , vì bình đẳng suốt cả ba đời.» Cũng có thể, Skt. trong VCXđược đọc là samyak-maitrī (từ tâm chánh trực), trong được đọc là sama-maitrī(từ tâm bình đẳng).

[29] Vô tránhtừ 無諍慈 ( Skt. araṇa, cf. cht. 57,Ch.iii).VCX: bất vi từ 不違慈. (Skt. avirodha/aviruddha: không đối địch, không mâu thuẫn). VCS (T38n1782_p1082a17): «vì phátxuất từ sự bình đẳng của nguyên nhân).»

[30] Vô sởkhởi 無所起. VCX: vô đẳngkhởi 無等起. Skt. asamutthāna,không có hành vi hiện khởi, không có nguyên động lực để hiện khởi.

[31] Tất cánhtận 畢竟盡 (Skt. atyanta-kṣaya); VCX: tất cánh trụ 畢竟住. (Skt. atyanta-ṣṭhita: vĩnh viễn an trụ; có lẽ trong DMC, đượcđọc là atyanta-niṣṭhita: đạt đến tận cùng cứư cánh).

[32] VCX: «vìtăng thượng ý lạc (Skt. adhyāśaya: ý hướng hay nguyện vọng) như kim cang.

[33] VCX: «vìbản tánh vốn tịnh (Skt. prakṛti-pariśuddha).

[34] Vô biêntừ 無邊慈 (Skt. ananta-maitrī).VCX: bình đẳng từ 平等慈 (Skt. sama-maitrī).

[35] Kếttặc 結賊. Cf. Đại tỳ-bà-sa 94(T27n1545, tr.487c3): « A-la 阿羅 (Skt. ari) chỉcho tất cả phiền não; hán 漢 (Skt. han) nghĩa làsát hại. Dùng gươm trí tuệ mà sất hại hết thảy phiền não nên gọi là A-ha-hán(Skt. arhan= ari+han). Cf., Pali, A. iv. 145, arīhatattā ariyo hoti, phá diệtkẻ thù là Thánh.

[36] DMC nhảymột đoạn; VCX: «Tu từ tâm của Độc giác (Pratyeka-buddha), vì không cần Thầydạy.»

[37] VCX: «Tutừ tâm của Bồ-tát, vì không nghỉ ngơi trong sự giáo hoá chúng sinh.»

[38] VCX: «Vìchứng ngộ tính chân như của các pháp (sarvadharma-tathatā).»

[39] VCX: «Vìđánh thức các chúng sanh đang ngủ say.»

[40] VCX: «Vìthể nghiệm pháp tính một cách tự nhiên.»

[41] Vô đẳngtừ 無等慈.VCX: «Tu từ tâm khôngthiên lệch, vì đã đạon trừ yêu và ghét.»

[42] DMC nhảymột đoạn; VCX: «tu từ tâm của vô tránh, vì quán vô ngã.» Xem cht. 28 trên.

[43] DMC cónhảy sót. Xem cht. 41 trên. VCX: «Vì quán tự tánh vốn không.»

[44] Di tích 遺惜 . VXX: sư quyển 師捲 (Skt. ācārya-muṣṭi) , làm thầy mà dấudiếm, không truyền dạy hết. Cf., Pali, D.ii. 100: na tattha … tathāgatassadhammesu ācariya-muṭṭhi, «ở đây, trong các pháp, Như lai không có bàn tay nắm chặtcủa người thầy.»

[45] Chú củaLa-thập (Đại 38, tr.385a17): «chữ hành 行 trên chữ từ 慈 trong đây, không có trong bản Phạn.»

[46] Thọvị 受味. VCX: ái vị 愛味 , vị ngọt của tham ái.

[47] VCX:«Hiện thực biết pháp trong mọi thời.»

[48] VCX:«Thị hiện cùng khắp trong hết thảy phương diện.»

[49] Sauphương tiện, VCX đề cập các ba-la-mật tiếp: nguyện, lực, trí; đủ 10 ba-la-mậttrong 10 địa Bồ tát. Tiếp theo, tu thần thông, tu nhiếp sự, tu vô trước, đoạnnày không tương đưong DMC.

[50] Vôcuống 無誑, không lường gạt. VCXtách thành hai: vô trá 無詐, không trá nguỵ, vì ýlạc (Skt. āśaya: xu hướng hay ý nguyện) thanh tịnh; vô siểm 無詐, không dua nịnh, vì không còn giả dối.

[51] CDM,«Thậpnói: trong Phạn bản, trú Niết-bàn lac.» Nghĩa là, La-thập dịch thoát ý. VCX:«Thiết lập cơ sở an lạc của chư Phật.» (Skt. sarvabuddha-sukhavastu-ṣṭhāpya)

[52] VCX: tuđại bi (Skt. mahākaruṇā-bhāvanā).

[53] VCX:«Làm lợi ích một cách bình đẳng.»

[54] VCX:«Nương tựa và an trú nơi Đại ngã của chư Phật.» Skt. Mahātman, môt trong bốnđức của Đại Niết-bàn (thường, lạc, ngã, tịnh). Khuy Cơ: (T38n1782_p1082c29):«Đại ngã của Chư Phật, tức Đại Niết-bàn.»

[55] VCX:«Muốn an trú Đại ngã thì hãy an trú trong sự độ thoát bình đẳng tất cả chúngsinh.»

[56] Hànhchánh niệm 行正念. VCX: tu tập tác ýquán sát một cách như lý (Skt. yoniśo-manas-kāra).

[57] Dụctham 欲貪; sự ham muốn tính dục.Cf. Câu-xá 8 (Đại 29, tr.41c16): « Trong các môi trường Dục giới, tham chưađược đoạn trừ; tham đó được gọi là dục tham (Skt. kāma-rāga).»

[58] Hư vọngphân biệt 虛妄分別. Skt. vikalpya.

[59] VCX:«Câu hỏi này phi lý. Vô trụ tức là không có gốc…do gốc vô sở trụ mà các phápđược kiến lập.» Cf. Vajracchedikā, yat pratiṣṭhitaṃ tad evāpratiṣṭhitam, «Cái gì được dựng đứng, cái đó khôngđứng vững.»

[60] VCX:«Thiên nữ sống ở đây từ trước.» VCS (T38n1782_p1083b13): «Thiên nữ này là Bồtát ở địa thứ tám.»

[61] VCX:«Nghe được pháp vốn chưa từng được nghe.»

[62] Tức cácĐại Thanh văn (Skt. Mahāśrāvaka).

[63] Vô sởphân biệt 無所分別. VCX: không phânbiệt, không khác phân biệt 無分別無異分別 .

[64] VCX: bịloài phi nhân. La-thập (Đại 38, tr.387b16) dẫn chuyện: Một con quỷ la-sát biếnlàm con ngựa. Một người đàn ông cỡi mà không nghi ngờ. Giữa đường, con quỷ hỏi,«Ngựa tốt không?» Người đàn ông rút gươm ra hỏi, «Gươm này có tốt không?» Quỷbiết người này không sợ, nên không làm hại được.

[65] VCX: «Sợsinh tử, nghiệp, phiền não.»

[66] Kếttập 結習. La-thập (ibid.) giảithích: «Có hai loại tập khí. Tập khí kết sử (=phiền não) và tập khí của sựthiên ái Phật pháp (dharma-tṛṣṇā-vāsana). Khi chứng vô sinh nhẫn thì hết thảy tập khí phiền nãođều trừ sạch; nhưng tập khí thiên ái Phật pháp vẫn còn.» (Skt. vāsana) VCX:phiền não tập 煩惱習. Skt. kleśa-vāsana .

[67] Kỳ niêngiải thoát 耆年解脫, chỉ vị Trưởng lão lớn tuổi; đây xưng hô ngài Xá-lợi-phất. VCX:«Như giải thoát mà Xá-lợi Tử an trú.»

[68] Giảithoát tướng 解脫相.

[69] CDM (Đại38, tr.388b11), Triệu nói: «Coi rẻ sinh tử, đề cao con đường của mình, đó làngười tăng thượng mạn.» VCS (T38n1782_p1084b15), «Chưa chứng qưả Phật, mà chosở chứng của mình là cao nhất, không mong cầu tu chứng thêm nữa; đó là ngườităng thượng mạn.» Một trong bảy mạn tùy miên (mānānuśaya), Câu-xá 9 (tr.101a13, 19): «Chưa chứng đắc công đức thù thắng mà cho là đã chứng đắc, đó làtăng thượng mạn.» Skt. adhimāna.

[70] VCX:«Trong Pháp và Luật (=tì-nại-da) được khéo trình bày (của Phật).»

[71] Chiêm-bặc 瞻蔔. VCX: chiêm-bác-ca 瞻博迦. Khuy Cơ nói: Trungquốc không có loại hoa này. Skt. campaka, loại hoa vàng, tên khoa học MichelliaCampaka.

[72] Khuy Cơ(T38n1782_p1084c27): 12 năm, chỉ 12 hai trụ của Bồ tát (Bodhisattva-vihāra):1. Chủng tánh trụ (gotra-vihāra). 2. Thắng giải hành trụ (adhimukti-cārya-vihāra). 3. Cực hỷ trụ (pramudita-vihāra). 4. Tăngthượng giới trụ (adhiśīla-vihāra). 5. Tăng thượng tâm trụ (adhicitta-vihāra). 6. Tăng thượng tuệ trụ (adhiprajñā-vihāra). 7. Giácphần tương ưng tăng thượng tuệ trụ (bodhi-pakṣa-pratisaṃyukto’dhiprajñā-vihāra). 8. Đế tương tăngthượng tuệ trụ (satya-pratisaṃyukto’dhiprajñā-vihāra . 9. Duyên khởi lưu chuyển chỉ tức tươngưng tăng thượng tuệ trụ (pratītya-samutpāda-pravṛtti-nivṛtti-pratisaṃyukto’dhiprajñā-vihāra . 10. Vô tướng hữu côngdụng trụ (nirmitta-sabhoga-vihāra). 11. Vô tướng vô công dụng trụ(nirmittānabhoga-vihāra). 12. Tối thượng bồ tát trụ (agra-bodhisattva-vihāra).Cf. Du-già sư-địa 47 (T30n1579, tr.552c25).

[73] VCX:loài người và loài phi nhân trong thế gian này.»

[74] VCX:«Không bị gây hại bởi phiền não.»

[75] Bất thốichuyển pháp 不退轉法. VCX: «thường nghenhững thảo luận về sáu ba-la-mật, về pháp luân không thối chuyển.»

[76] PhậtThích-ca 釋迦牟尼佛 , Phật A-di-đà 阿彌陀佛 , Phật A-súc 阿閦佛 , Bảo Đức 寶德, Bảo Viêm 寶炎, Bảo Nguyệt 寶月, Bảo Nghiêm 寶嚴, Nan Thắng 難勝, Sư Tử Hưởng 師子響, Nhất Thiết LợiThành 一切利成. VCX: Thích-ca Nhưlai 釋迦牟尼如來 (Śākya-tathāgata), VôLượng Thọ Như lai 無量壽如來 (Amitāyus-tathāgata),Nan Thắng Như lai 難勝如來 (Durjaya-tathāgata).VCX: Bất Đông Như lai不動如來 (Akṣobhya-tathāgata), BảoDiệm Như lai 寶焰 如來 (Ratnārcis-tathāgata), Bảo Nguyệt Như lai 寶月如來 (Ratnacandra-tathāgata), Bảo Nghiêm Như lai 寶嚴如來 (Ratnavyūha-tathāgata), Bảo Âm Thanh Như lai 寶 音 聲 如來 (Ratnaghoṣa-tathāgata), Sư Tử Hống Như lai 師子吼如來 (Siṃhanadā-tathāgata),Nhất Thiết Nghĩa Thành Như lai 一切義成如來 (Sarvārthasiddha-tathāgata).

[77] Nữ nhântướng 女人相. VCX: nữ nhấntánh 女人性. Skt. strī-liṅga.

[78] Chư pháp … vô hữu định tướng 諸法 無有定相 . VCX: «Tánh và tướngcủa các pháp đều không phải là chân thật.»

[79] Vô tạivô bất tại 無在無不在 ; CDM (Đại 38,tr.0389c18), «Triệu nói: muốn nói có ở đó thì nay thấy là vô tướng. Muốnnóikhông có ở đó thì lại thấy ngay là hữu tướng.» VCX: vô tại vô biến 無在無變 .VCS (T38n1782_p1085c18), «Y theo lý mà ứng đối, tướng nữ vốnkhông có, cho nên là bất tại. Nguyên lai thật không có nữ, thì cái gì đượcbiến? Vả, pháp tánh vốn không, cái gì tại, cái gì biến? Bản dịch cũ nói vô tạivô bất tại. Không thật có nữ mà xưa tại đó, nay không tại đó. Cũng khôngcó nữthật, thì cái gì tại, cái gì không tại?» Skt. na vyavasthito naiva nirmāṇaḥ, không nguyên trạngcũng không biến thái.

[80] Phậthoá 佛化. VCX: Như lai sởhoá 如來所化; VCS: con người đượcPhật biến hoá ra. Skt. buddha/tathāgata-nirmāṇa.

[81] VCX:«Trở lại dị sinh (Skt. pṛthagjana) với tất cả tính chất của dị sinh (Skt. pṛthagjana-dharma).»

[82] A-la-hánđạo 阿羅漢道 . Cf. Vajracchedikā: tat kiṃ manyase subhūte api nu arhata evaṃ bhavati – mayāarhattvaṃ prāptam iti? NàySubhūti, A-la-hán có nghĩ rằng, «Ta chứng đắc quả vị A-la-hán» chăng?»

[83] VCX: 92câu-chi na-dữu-đa 俱胝那庾多, Skt. koṭi-nayuta (~10 000 000x 100 000 000= 1015)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn