Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 4: Bồ Tát

10/10/201015:00(Xem: 895)
Chương 4: Bồ Tát

Chương 4
BỒ TÁT
[1]

Rồi thì, Phậtnói với Bồ tát Di-lặc:[2]

«Ông hãy thayTa đến thăm bệnh Duy-ma-cật.»

Di-lặcđáp:

«Bạch ThếTôn, con không đủ năng lực đến thăm bịnh ông ấy. Vì sao? Nhớ lại xưa kia, cólần con đang giảng cho Thiên vương Đâu-suất[3] và quyến thuộc về sự thực hành ởđịa vị bất thối chuyển,[4] Duy-ma-cật bỗng đến và nói với con: ‘Thưa Di-lặc,khi đức Thế Tôn thọ ký[5] Nhân giả còn một đời nữa sẽ chứng đắcA-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Sự thọ ký ấy nhắm vào đời nào? Quá khứ chăng?Vị lai chăng? Hiện tại chăng? Nếu là quá khứ, thì quá khứ đã diệt. Nếu là vịlai thì vị lai chưa đến. Nếu ở hiện tại, thì hiện tại không đình trú. Như Phậtđã nói: ‘Này tì kheo, ngươi nay tức thời vừa sinh, vừa già, vừa diệt.’ Nếu bằngvô sinh mà được thọ ký, thì vô sinh là chính vị.[6] Mà trong chính vị thì khôngcó thọ ký, cũng không có sự chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề. Vậy làmsao Di-lặc được thọ ký còn một lần tái sinh[7]? Ấy là bằng Như[8] sinh mà đượcthọ ký, hay bằng Như diệt mà được thọ ký? Nếu bằng Như sinh mà được thọ ký, thìNhư vốn không sinh. Nếu bằng Như diệt mà được thọ ký, thì Như vốn không diệt.Vì hết thảy chúng sinh đều là Như tính vậy. Hết thảy pháp cũng là Như tính vậy.Các Hiền Thánh cũng là Như tính vậy. Di-lặc cũng là Như tính vậy. Như vậy, nếuDi-lặc được thọ ký, thì hết thảy chúng sinh cũng đều được thọ ký. Vì sao? VìNhư vốn không hai, không khác. Nếu Di-lặc chứng đắc giác ngộ tối thượng, thìhết thảy chúng sinh cũng chứng đắc giác ngộ tối thượng. Vì sao? Vì hết thảychúng sinh tức là hiện tướng của Bồ-đề.[9] Nếu Di-lặc mà diệt độ, thì hết thảychúng sinh cũng diệt độ.[10] Vì sao? Chư Phật biết rõ hết thảy chúng sinh rốtráo tịch diệt, tức là tướng bồ-đề, không còn gì để diệt nữa.[11] Thưa Di-lặc,vì thế không nên dụ[12] chư Thiên bằng pháp này; vì thật sự không có người pháttâm bồ-đề tối thượng cũng chẳng có người thối lui. Di-lặc hãy nên khiến cho họtránh xa những quan niệm phân biệt về bồ-đề. Vì sao? Vì bồ-đề không thể đượcchứng đắc bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch diệt là Bồ-đề, vìdiệt các tướng.[13] Chẳng quán là Bồ-đề vì nó lìa ngoài nhân duyên.[14] Chẳnghành là Bồ-đề vì nó dứt tuyệt nghĩ tưởng.[15] Đoạn là Bồ-đề, vì xả ly các kiến.Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng.[16] Chướng là Bồ-đề, vì chướng cácnguyện.[17] Chẳng nhập[18] là Bồ-đề vì không tham trước.[19] Tùy thuận[20] làBồ-đề vì thuận với Như[21]. Trụ là Bồ-đề vì trụ Pháp-tánh.[22] Đến là Bồ-đề, vìđi đến thực tế.[23] Bất nhị là Bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp.[24] Bình đẳng làBồ-đề, vì đồng đẳng với hư không.[25] Vô vi là Bồ-đề vì không sinh, trụ,diệt.[26] Tri[27] là Bồ-đề, vì liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh. Chẳnghội [28] là Bồ-đề vì các nhập[29] không hội.[30] Chẳng hiệp[31] là Bồ-đề, vìlìa tập quán phiền não.[32] Vô xứ là Bồ-đề, vì không hình sắc.[33] Giả danh[34]là Bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng không.[35] Như hoá[36] là Bồ-đề, vì không thủ xả.Không loạn là Bồ-đề, vì thường tịch tĩnh. Thiện tịch[37] là Bồ-đề vì tự tánhthuần tịnh. Vô thủ là Bồ-đề không thể vin nắm.[38] Vô dị[39] là Bồ, vì bìnhđẳng các pháp vốn bình đẳng.[40] Vô tỷ là Bồ-đề, vì không thể thí dụ.[41] Vidiệu là Bồ-đề, vì các pháp khó biết.’[42]

«Bạch ThếTôn, Duy-ma-cật giảng xong Pháp như vậy, hai trăm thiên tử chứng vô sanh phápnhẫn. Vì vậy con không đủ năng lực đến thăm bịnh ông.»

Phật nói vớiQuang Nghiêm Đồng tử:

«Ông hãy đithăm bệnh Duy-ma-cật.»

Quang-nghiêmđáp:

“Bạch ThếTôn, con không đủ năng lực đến thăm ông. Vì, nhớ lại, có lần con đang trongthành Tỳ-da-li đi ra, gặp Duy-ma-cật ở ngoài đi vào. Con cúi chào[43] ông vàhỏi: ‘Quý Cư sỹ đi đâu về?’ Ông đáp: ‘Từ đạo tràng[44] về.’ Con mới hỏi ông:‘Đạo tràng này ở đâu?’ Ông đáp: ‘Tâm chính trực là đạo tràng, vì không hư giả.Phát hành[45] là đạo tràng, vì có khả năng biện sự. Thâm tâm[46] là đạo tràng,vì tăng ích công đức.[47] Tâm bồ-đề là đạo tràng, vì không thể sai lầm. Bốthí[48] là đạo tràng, vì không cầu đáp trả. Trì giới là đạo tràng, vì giúp hoànthành tâm nguyện. Nhẫn nhục là đạo tràng, vì tâm vô ngại[49] đối với hết thảychúng sinh. Tinh tấn là đạo tràng, vì lìa xa biếng nhác. Thiền định là đạotràng, vì là tâm hài hòa dịu dàng. Trí tuệ là đạo tràng, vì thấy các pháp. Từlà đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh. Bi là đạo tràng, vìnhẫn nại các khổ nhọc. Hỷ là đạo tràng, vì là pháp an vui khoái lạc. Xả là đạotràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét. Thần thông là đạo tràng, vì thành tựu sáu thầnthông. Giải thoát là đạo tràng, vì hay dứt bỏ.[50] Phương tiện là đạo tràng, vìgiáo hóa chúng sinh. Bốn nhiếp pháp[51] là đạo tràng, vì nhiếp chúng sinh. Đavăn là đạo tràng, vì y như điẽu đã nghe mà thực hành. Tâm được chế ngự là đạotràng, vì chính quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo tràng, vì xả bỏ các pháphữu vi. Chân đế[52] là đạo tràng, vì không dối gạt thế gian. Duyên khởi[53] làđạo tràng, vì từ vô minh cho đến già-chết, thảy đều không cùng tận. Phiền nãolà đạo tràng, vì biết như thật.[54] Chúng sinh là đạo tràng, vì biết vôngã.[55] Tất cả pháp là đạo tràng, vì biết các pháp vốn không. Hàng phục chúngma là đạo tràng, vì không khuynh động. Ba cõi[56] là đạo tràng, vì không định hướngphải đến.[57] Tiếng sư tử hống là đạo tràng, vì là vôảơ úy. Lực, bốn vô sở úy,bất cộng[58] là đạo tràng, vì không khuyết điểm. Ba minh là đạo tràng, vì vôngại. Môt niệm[59] biết tất cả pháp là đạo tràng, vì thành nhất thiết trí. Nhưvậy, này Thiện nam tử, Bồ tát thích ứng theo các Ba-la-mật mà giáo hóa chúngsinh, thì mọi hành vi, cho đến từng bước chân đi, nên biết, đều từ đạo tràng màđến; an trú trong Pháp Phật vậy.’

«Duy-ma-cậtgiảng Pháp như vậy, năm trăm trời và người đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng.Vì thế con không đủ năng lực đến thăm bịnh ông.»

Phật bèn nói vớiTrì Thế Bồ tát:[60]

«Ông hãy đithăm bệnh Duy-ma-cật.»

Trì Thế đáp:

«Bạch ThếTôn, con không đủ năng lực để viếng thăm ông. Con còn nhớ có lần đang ở trongtĩnh thất, khi ấy Ma Ba-tuần,[61] hình trạng như Đế Thích, xuất hiện cùng vớimười hai ngàn Thiên nữ theo sau đàn hát, đi đến chỗ con. Sau khi cúi đầu đảnhlễ dưới chân con, họ chắp tay đứng sang một bên. Con tưởng đó là Đế-Thích nênnói: ‘Xin chào Kiều-thi-ca.[62] Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưngkhông nên phong túng. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để tim cầu gốc rễthiện. Hãy tìm cầu pháp chắc thật cho thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Maliền nói: ‘Thưa Đại Chánh sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn Thiên nữ này đểhầu hạ ngài, lo việc quét dọn.’ Con bảo: ‘Này Kiều-thi-ca, chớ đem cho Sa-mônhọ Thích món quà phi pháp như vậy. Nó không thích hợp với tôi.’ Con chưa dứtlời thì Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Nó đâu phải là Đế Thích. Nó là Ma đến quấynhiễu ngài đấy.’ Rồi ông quay sang bảo ma: ‘Hãy cho ta các cô gái này. Như tathì có thể nhận.’ Ma kinh sợ, nghĩ rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’Nó bèn muốn ẩn hình nhưng không được. Nó vận dụng hết thần lực cũng không thểbỏ đi được. Chợt trên không có tiếng vọng xuống: ‘Này Ba-tuần, hãy cho ông ấycác Thiên nữ thì mới có thể đi được.’ Sợ quá, Ma đành dâng hết các Thiên nữ choDuy-ma-cật. Ông mới nói với họ: ‘Ma đã đem các ngươi cho ta. Bây giờ các ngươihãy phát tâm cầu giác ngộ tối thượng.’

«Đoạn ông tùychỗ thích hợp giảng Pháp cho họ nghe, giúp họ phát đạo ý. Ông bảo: ‘Các ngươiđã phát đạo ý,[63] có thể tìm thấy niềm vui nơi Pháp[64] thay vì nơi ngũ dụcthế gian.’

«Họ hỏi ông:‘Vui nơi Pháp là thế nào?’

«Ông đáp: ‘Làvui vì niềm tin Phật; vui vì được nghe Pháp; vui khi cúng dường Tăng; và vuikhi bỏ được năm dục lạc trần thế;[65] vui khi thấy ra ngũ uẩn là kẻ thù, bốnđại[66] như rắn độc, các nội xứ như xóm hoang; vui khi theo đuổi và hộ trì đạoý[67]; vui khi thấy mình có lợi cho chúng sinh; vui khi kính dưỡng minh sư; vuikhi rộng rãi thực hành bố thí; vui khi kiên trì tịnh giới; vui khi nhẫn nhụckhoan hòa; vui khi siêng tu thiện căn; vui khi thiền định không loạn tưởng; vuikhi có tuệ sáng suốt sạch không cáu bẩn; vui khi trải rộng tâm bồ-đề; vui khivượt thắng tà ma; vui khi nhổ gốc phiền não; vui trong đất Phật thanh tịnh; vuikhi tu tập các công đức để thành tựu thân tướng tốt đẹp; vui khi làm đẹp bồ-đềđạo tràng; vui khi nghe Pháp thậm thâm mà không sợ hãi; vui trong ba cửa giảithoát;[68] không vui với phi thời tiết;[69] vui khi ngăn ngừa bằng hữu tri thứcxấu; vui khi ở gần thiện tri thức;[70] vui vì tâm hoan hỷ thanh tịnh;[71] vuikhi thực hành vô lượng pháp đạo phẩm. Đó là những niềm vui nơi Pháp của Bồtát.’

«Nghe vậy, Mabảo các Thiên nữ: ‘Ta muốn cùng các ngươi trở về chỗ của ta.’

«Các Thiên nữnói: ‘Hãy đem chúng tôi cho Cư sỹ. Chúng tôi thấy vui nơi Chánh Pháp, chẳng cònham muốn năm thú vui trần thế.’

«Ma nói vớiDuy-ma-cật: ‘Cư sỹ hãy buông thả những Thiên nữ này. Vì Bồ tát là người sẵnlòng ban cho tất cả.’

«Duy-ma-cậtnói: ‘Ta nay trả hết cho ngươi và ngươi có thể mang họ đi để hết thảy chúngsinh có thể thành tựu ước nguyện đắc pháp.’

«Các Thiên nữquay hỏi Duy-ma-cật: ‘Ở Ma cung, chúng tôi phải sống như thế nào?’

«Duy-ma-cậtđáp: Này các chị, có Pháp môn được gọi là Ngọn đèn vô tận;[72] các Chị nên học.Ví như, một ngọn đèn có thể được dùng để mồi sáng hàng trăm ngàn ngọn đèn khác,do đó bóng tối sẽ được soi sáng và ánh sáng này sẽ vô tận. Cũng vậy, các Chị,một Bồ tát hướng dẫn và chuyển hóa hàng trăm ngàn người khác khiến cho họ pháttâm cầu giác ngộ tối thượng; mà Đạo ý của Bồ tát không hề tắt ngúm. Cứ mỗi lầnthuyết pháp là mỗi lần tăng thêm tất cả pháp thiện cho mình. Cho nên gọi là Vôtận đăng. Dù các Chị có ở nơi cung điện của Ma, các Chị hãy nên dùng Pháp Vôtận đăng này để dẫn dắt vô lượng con trai, con gái của Trời khiến phát tâm cầugiác ngộ, vừa để báo Phật ân vừa làm lợi chúng sinh.’

«Khi ấy cácThiên nữ cúi đầu lễ dưới chân Duy-ma-cật rồi theo Ma về cung điện. Trong phútchốc, họ biến mất cả. Bạch Thế Tôn, Duy-ma-cật thần thông siêu việt, biện tàivà trí tuệ như vậy, con không đủ năng lực viếng thăm người.”

Phật bảo mộtngười con trai của trưởng giả tên Thiện Đức:[73]

«Ông hãy đithăm bệnh Duy-ma-cật.”

Thiện Đứcđáp:

«Bạch ThếTôn, con không đủ năng lực đến thăm bịnh ông ấy. Vì nhớ lại có lần con tổ chứcmột đại hội bố thí[74] tại nhà thân phụ để cúng dường hết thảy Sa-môn,Bà-la-môn, các ngoại đạo, các người bần cùng, hạ tiện, cho đến cả ăn mày. Đạihội kéo dài đến bảy ngày. Khi kết thúc, Duy-ma-cật đã đến nói với con: ‘Ồ, contrai nhà trưởng giả, đại hội bố thí không phải như ông đã tổ chức. Nó phải làđại hội bố thí pháp. Đại hội bố thí vật chất như vậy có ích gì.’

«Con hỏi: ‘ThưaCư sĩ, thế nào là Hội Pháp thí?’[75]

«Ông đáp:‘Pháp thí không có trước cũng không có sau.[76] Trong một lúc mà cùng dường hếtthảy chúng sinh. Đó là Đại hội Pháp thí.’

«Nghĩa làsao? - Con hỏi.

«Ông mới đáp:‘Nghĩa là, vì bồ-đề mà phát khởi từ tâm; vì cứu độ chúng sinh mà khởi bi tâm;vì để duy trì Chánh pháp mà khởi hỷ tâm;[77] vì để nhiếp trí tuệ[78] mà hành xảtâm; để vượt thắng lòng tham lam bủn xỉn[79] mà khởi bố thí ba-la-mật; để giáohoá người phạm giới mà tu giới ba-la-mật; vì vô ngã mà khởi nhẫn nhụcba-la-mật; vì lìa tướng thân tâm mà khởi tinh tấn ba-la-mật; vì Bồ-đề tướng[80]mà khởi thiền ba-la-mật; nhất thiết trí mà khởi bát-nhã ba-la-mật; vì giáo hóachúng sinh mà khởi Không;[81] không xả hữu vi[82] mà phát khởi Vô tướng. Thịhiện thọ sinh[83] mà khởi Vô tác;[84] vì hộ trì chánh Pháp mà khởi phương tiệnlực; vì cứu độ chúng sinh mà khởi bốn nhiếp pháp;[85] vì kính thờ tất cả màquyết tâm quét sạch kiêu mạn; ở nơi thân, mạng, tài sản mà khởi ba pháp chắcthật;[86] ở trong sáu niệm[87] mà khởi pháp tư niệm; ở nơi sáu điểm hòa kính màkhởi tâm chất trực;[88] vì chân chánh tu hành pháp thiện mà khởi tịnh mạng; vìtịnh tâm hoan hỷ mà khởi lên sự gần gũi Hiền Thánh trí; vì để không ghét bỏngười xấu mà khởi lên sự chế ngự tâm; vì pháp xuất gia mà khởi thâm tâm; vì nhưthuyết mà hành[89] mà khởi đa văn; vì pháp vô tránh[90] mà phát khỏi đời sốngnhàn tĩnh;[91] vì thú hướng Phật đạo mà phát khởi đời sống độc cư; vì cởi tróichúng sinh mà phát khởi các giai đoạn tu hành;[92] vì để được các hình tướngtốt đẹp đất Phật thanh tịnh mà phát khởi nghiệp phước đức; vì biết tâm niệm hếtthảy chúng sinh để tùy nghi nói Pháp mà phát khởi nghiệp của trí;[93] vì hiểurõ các pháp vốn không thủ cũng không xả, để thâm nhập cánh cửa nhất tướng,[94]mà phát khởi nghiệp của tuệ;[95] vì tận diệt mọi phiền não, mọi chướng ngại vàbất thiện pháp, mà phát khởi tất thảy thiện nghiệp; vì chứng nghiệm tất cả trítuệ và tất cả thiện pháp mà phát khởi các pháp trợ Phật đạo.[96] Hết thảy nhữngđiều trên, này Thiện nam tử, là Đại hội Pháp thí. Nếu Bồ tát an trú nơi Đại hộiPháp thí, đó là Đại thí chủ, và cũng là ruộng phước cho hết thảy thế gian.’

«Bạch ThếTôn, khi Duy-ma-cật giảng Pháp này xong, trong chúng Bà-la-môn có hai trămngười lắng nghe đã phát tâm tầm cầu giác ngộ tối thượng. Bản thân con lúc đócảm thấy tâm lắng đọng, thanh tịnh, tán thán là chưa từng có. Con bèn làm lễbái tạ dưới chân ông và cởi ra vòng trân châu vô giá dâng tặng ông. Nhưng ôngkhông nhận. Con nói: ‘Thưa Cư sĩ, xin ngài nhận lấy tặng phẩm này rồi muốn sửdụng sao tùy ý.’ Ông lấy vòng trân châu, chia ra hai phần, cho người ăn xin tồitàn nhất một phần; phần kia cho đức Nan Thắng Như Lai.[97] Hết thảy chúng hộihiện diện đều có thể nhìn thấy Nan Thắng Như Lai trong quốc độ Quang minh.[98]Lúc ấy họ cũng thấy phía trên đức Phật kia nửa vòng trân châu ấy biến thành đàibáu trang nghiêm trên bốn cột trụ, bốn mặt đều được trang nghiêm, rõ ràng khôngche khuất nhau.

«Sau thị hiênbiến hóa thần kỳ này, Duy-ma-cật nói: ‘Ai bố thí cho người hành khất nghèo hènnhất với tâm bình đẳng, là hành động không khác với phước báo của Như Lai, vìnó xuất phát từ lòng đại bi không mong đáp trả. Đó chính là viên mãn Pháp thívậy.’

«Sau khichứng kiến thần lực và nghe giảng Pháp của Duy-ma-cật, người hành khất thấp hènnhất trong thành cũng đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cho nên, con khôngđủ năng lực đến thăm Duy-ma-cật để vấn an sức khỏe ông.»

Các Bồ tát, từngmỗi vị, trình bày những lần gặp Duy-ma-cật như vậy, đều nói không có khả năngđi thăm bệnh ông.

[1] CDM. Đại38, tr.360b28; VCS. Đại 38, tr.1057b2.

[2] DMC:Di-lặc 彌勒. VCX: Tiếng Phạn làMỗi-đát-lị-da 梅呾利耶, dịch là Từ Thị 慈氏. Xưa phiên là Xưng (Di?)-đế-lị 稱帝麗 hay Di-lặc 彌勒, thảy đều nhầm. Skt.Maitreya .

[3] Đâu suấtThiên vương 兜率天王. VCX: Đổ-sử-đa Thiênvương 睹史多天王. Skt. Tuṣita-devarājā. VCS:«Tầng thư tư trong sáu tầng trời Dục giới. Đây dịch là Tri túc 知足. Nghĩa là, hưởng thụ các dục lạc nhưng biết đủ một cách sâuxa.» Pali: cõi trời Tusita. Thiên vương ở đây là Santusita (D.i. 218; A. iv. 243).Bồ tát Mettaya, Phật tương lai, hiện ở trên cung trời Tusita, với danh hiệu làNathadeva (Skt. Maitreyanātha)

[4] CDM (Đại38, tr.360c20), Thập nói: «Tức là vô sinh pháp nhẫn.» VCS: «… Hoặc đây chỉ Phápyếu thuộc giai đoạn của phát luân bất thối ở địa thứ tám (Bất động địa).» Skt.avivartika-bhūmi/ avinivartanīya-dharmā.

[5] Thọký 授記. Skt. vyākaraṇa, cũng dịch là kýthuyết 記說, ký biệt 記別; nguyên nghĩa,chỉ sự xác nhận của Phật về chỗ tái sinh của mộtThánh đệ tử. Ở đây, nói đủ là thọ a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề ký 授 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提 記, dự ngôn của Phật về sự thành Phậttrong tương lai của Thánh đệ tử hay Bồ tát.

[6] CDM, Thậpnói: «Thật tướng thường định, nên nói là chính vị.» VCX: sở nhập chínhtính 所入正性. VCS. «Nhập tức làchứng. Chính tính, là chân tính của pháp.» Skt. samyaktvaniyāmāvakrānta Câu-xá23 (Đại 29, tr. 121b4); «Kinh nói, chính tính là Niết-bàn.» Chỉ trạng thái từđịa vị phàm phu bước vào địa vị Thánh giả.

[7] DMC: nhấtsinh 一生. VCX nhất sinh sở hệ . Skt. ekajātibaddha.

[8] Như 如, tức chân như. Skt. tathatā. Cf. Đại Bát-nhã 447 (Đại 7,tr. 252a7): «Hoặc Chân như của sắc, hoặc Chân như của Trí nhất thiết trí, hoăcChân như của tất cả pháp; thảy đều là một Chân như, không hai, không khác, cũngkhông cùng tận ...» Cf. Tiểu phẩm Bát-nhã 5 (Đại 8, tr. 558b13): «Tu-bồ-đề,...Như (tính) của năm uẩn tức thị Như (tính) của hết thảy pháp. Như của hết thảypháp tức thị Như của Tu-đà-hoàn. Như của Tu-đà-hoàn là Như của Tư-đà-hàm... Nhưcủa Bích-chi-phật đạo là Như của Như Lai. Các Như ấy đều là một Như, không hai,không khác, vô tận, vô lượng.»

[9] Bồ-đềtướng 菩提相. VCX: «Bồ đề (bodhi),là điều được giác tri (anubuddha) một cách đồng đẳng bởi tất cả hữu tình.»

[10] VCX:bát-niết-bàn.

[11] VCX:«Tính tịch tĩnh tự bản chất của hết thảy hữu tình tức là yếu tính của Niết-bàn,vì vậy Phật nói Chân như là Bát-niết-bàn.»

[12] CDM,«Thập nói: Dụ 誘, bản Phạn nói là cuống 誑 (dối gạt).» Jhuy Cơ giải: «Dạy người sơ học, gọi là dụ.»

[13] VCX: «Vìtướng của hết thảy hữu tình, hết thảy pháp thảy đều tịch diệt.»

[14] VCX:«Không tăng (gia) là bồ-đề, vì hết thảy sở duyên (đối tượng) vốn không tăngích.» Khuy Cơ (T38n1782_p1059c05) giải thích: «Ngã và pháp, khi là đối tươngcho nhận thức, thì có sự tăng gia. Chân lý thì không như vậy... Cựu dịch bất quán不觀, vì không thể quán sát bằng tâm biến kế.»

[15] Bấthành… vô ức niệm 不行… 無憶念. VCX: «Vì hết thảy hý luận, hết thảy tác ý đều không (hiện)hành.»

[16] VCX: xảly các thủ trước.

[17] CDM,«Triệu nói: Đạo chân chính là vô dục, vì ngăn cản các nguyện cầu.» Bản La-thậphình như có nhảy sót. Đối chiếu VCX: «ly hệ 離繫 là Bồ đề vì vĩnh viễn dứt lìa hết thảy các pháp động loạn. Tịchtĩnh là Bồ đề vì hết thảy phân biệt hoàn toàn vắng bặt. Quảng đại là Bồ đề, vìhết thảy hoằng nguyện đèu không thể trắc lượng.» Có lẽ nguyên Skt. trong bảnLa-thập là nīvaraṇa (chướng ngại), trong bản Huyền Trang là nirāvaraṇa (ly chướng).

[18] DMC: bấtnhập 不入. VCX: bất tránh 不諍. VCS: bất chứng 不證.

[19] VCX:«Hết thảy thủ trước, hết thảy tranh luận đều xa lìa.»

[20] VCX: tùychí 隨至 , đến theo sau; Skt. anvāgata. Khuy Cơ(T38n1782_p1059c27) giải: «Trí an trụ pháp giới. Đi theo Chân như mà đến chỗcùng cực.»

[21] VCX:chân như. Skt. tathatā.

[22] VCX: trụpháp giới.

[23] VCX:«kiến lập là Bồ đề vì kiến lập thật tế.»

[24] VCX: «vìxa lìa pháp tính sai biệt.»

[25] VCX: «vìcon mắt và sắc, cho đến ý và pháp, thảy đều bình đẳng như hư không.» So vớiđoạn này, hình như trong bản dịch La-thập có bị nhảy sót.

[26] VCX:sinh, trụ, dị, diệt.

[27] VCX:biến tri. Skt. parijñā, nhận thức toàn diện hay tường tận. Cf. Câu-xá 22 (Đại29, tr. 112a17): biến tri có hai: trí biến tri (jñānaparijñā) và đoạn biến tri(prahānaparijñā). Trí biến tri (nhận thức toàn diện bằng trí tuệ) tức là trí vôlậu (anāsrava jñāna).“

[28] Bất hội 不會. VCX: «Vô gián 無間 là Bồ đề, vì không bịxen tạp bởi sáu nội xứ.» Khuy Cơ: «Cựu dịch là bất hội. Có thể nhầm lẫn.»

[29] Cácnhập; VCX: sáu nội xứ (Skt. saḍ adhyāmikāny āyatanāni).

[30] VCX:không tạp.

[31] Bất hiệp不合. VCX: vô tạp 無雜. Khuy Cơ: «Trí thể vôlậu không bị xen tạp bởi phiền não.»

[32] Phiềnnão tập 煩惱習. VCX: tập khí củatương tục phiền não.

[33] VCX: «vìtrong Chân như, hết thảy phương vị, xứ sở đều xa lìa.» VCX còn thêm: « Vô trụlà Bồ đề, vì không thể thấy trong tất cả xứ.»

[34] Giảdanh 假名. VCX: duy danh 唯名. Skt. nāma-mātra.

[35] VCX: «vìdanh tự không có tác dụng đối với Bồ đề.»

[36] Như hoá.CDM: «Triệu nói, như cái vô tâm của con người huyễn hoá (Skt. nirmitaka).» VCX:không gợn sóng 無浪. (Skt. nistaraṅga) .

[37] Thiệntịch 善寂. Skt. suśānta, hoàntoàn (phi thường) tĩnh lặng.

[38] Phanduyên 攀緣. Skt. ālamba.

[39] Vô dị,không dị biệt, tức đồng nhất tính. Skt. ananya.

[40] VCX: «Vìtính bình đẳng của các pháp được chứng giác.»

[41] VCX nóingược lại: «Không có thí dụ là Bồ đề, vì không thể so sánh.»

[42] VCX cònthêm một đoạn nữa: «Biến hành (phổ biến, phổ quát) là Bồ dề, vì tự tính phổbiến như hư không. Lên đến đỉnh cao là Bồ đề, vì là tối thượng thủ của tất cảpháp. Vô nhiễm là Bồ đề, vì hết thảy thế pháp không thể làm cho nhiễm ô. Nhưvậy, Bồ đề không được chứng bởi thân, không được chứng bởi tâm.»

[43] Tác lễ.Khuy Cơ (VCS, Đại 38, tr.1060c8): «Đoạn trên, Duy-ma-cật cúi chào Di-lặc; vìDi-lặc hiện thân tướng xuất gia. Ở đây, Thiếu niên Quang Nghiêm cúi chàoDuy-ma-cật; vì Quang Nghiêm hiện thân tướng thế tục. Người nhỏ tuổi cúi chàongười lớn tuổi hơn.»

[44] Đạotràng 道場(Skt. bodhimaṇḍa.); VCX: diệu Bồ đề 妙菩提. Khuy Cơ: «Bồ đề.. là tuệ, thông cả nhân và quả. Cựu dịch làđạo tràng, hiển bày nhân Bồ đề. »

[45] VCX:phát khởi gia hành 發起加行. Skt.prayoga-prasthāna.

[46] VCX:tăng thượng ý lạc 增上意樂. Skt. adhy-āśaya, ýhướng, ước vọng, nguyện vọng.

[47] VCX: «Vìrốt ráo chứng hội pháp thù thắng.»

[48] VCX:thanh tịnh bố thí.

[49] VCX: tâmkhông sân nhuế. Skt. pratighāta, có nghĩa sân hại; cũng có nghĩa hay gây trởngại.

[50] Bội xả 背捨. CDM: giải thoát ở đây chỉ tám giải thoát, cũng gọi là tám bộxả (Skt. aṣṭau vimokṣāḥ), xem Trường A-hàm 10(Kinh Chúng tập, Đại 1, tr. 52b12); Cf. Pali, Saṅgīti, D.iii. tr.261: aṭṭha vimokkhā. VCX: vìlìa phân biệt động 分別動. Skt. vikalpa-vikṣepa.

[51] Bốnnhiếp pháp, hay bốn nhiếp sự . Skt. catvāri saṅgraha-vastāni, bốn nền tảng cho sự đoàn kết.

[52] CDM:đế 諦, trong Tiểu thừa là bốn Thấnh đế.Trong Đại thừa, là một đế, tức Thật tướng. Skt. satya: sự thật.

[53] VCX:mười hai duyên khởi.

[54] Tri nhưthật 知如實. VCX: như thực hiệnchứng chân pháp tính 如實現證真法性.

[55] VCX: vìdụng tự tính làm vô ngã.

[56] VCX:«Không lìa ngoài ba cõi (Dục, Sắc và Vô sắc giới).»

[57] Vô sởthú 無所趣. VCX: phát thúsự 發趣事, mục đích hướng đến.

[58] Đây chỉmười lực, bốn vô sở úy và mười tàm páhp bất cộng của Phật.

[59] VCX: mộtsát-na tâm. Skt. ekakṣaṇa/ cittakṣaṇa.

[60] Bồ tátTrì Thế 持世. Skt. Lokadhāra (hoặcLokadhātṛ).

[61] MaBa-tuần 魔波旬. CDM, Triệu nói: «Ba-tuần,tiên Tần gọi là Sát giả hay Cực ác, vì là nguyên nhân đoạn thiện căn, và tộilớn nhất là chống Phật, nhiễu loạn Tăng.» VCX: ác ma oán 惡魔怨. Skt. Māra-Papiyas.

[62]Kiều-thi-ca 憍尸迦. Skt. Kauṣika. CDM, «Thập nói:Kiều-thi là họ, tên chữ là Ma-ca-đà (Skt. Maghavā).»

[63] Đạoý 道意. VCX: vô thượng chínhđẳng giác tâm 無上正等覺心.

[64] Pháplạc 法樂. VCX: đại pháp uyểnlạc 大法苑樂 (lạc thú trong khuvườn pháp vĩ đại). VCS (Đại 38, tr.1062c29): «Đó là Chân như thanh tịnh. Nhânbởi pháp này mà sinh lạc, nên nói là đại pháp uyển lạc.»

[65] VCX cóthêm hai lạc: «vui vì vĩnh viễn xuất ly ba cõi; vui vì không còn y trú nơi cácsở duyên (tức không còn lệ thuộc các đối tượng ngoại giới).»

[66] Đối vớicác giới 界; Khuy Cơ (VCS), đây chỉ 18 giới(dhātu), phù hợp ngữ cảnh (uẩn, xứ, giới).

[67] Đạo ý 道意. VCX: Bồ đề tâm 菩提心.

[68] Bản dịchLa-thập nhảy một đoạn so với VCX: «Vui vì chính thực hướng đến đối tượng làNiết-bàn. Vui vì không quán sát khi không đúng thời.»

[69] BảnLa-thập nhảy một đoạn, VCX: «Vui vì thấy công đức nơi đồng loại sinh nên thườnggần gũi. Vui vì bỏ qua lỗi lầm nơi dị loại sinh mà không ghét, không hận.» VCSgiải thích: «Đồng loại sinh 同類生 (Skt. sabhāga-jāti?),đồng loại với những người tu phạm hạnh xuất thế.»

[70] BảnLa-thập nhảy một đoạn, VCX: «Vui vì khéo vận dụng phương tiện thiện xảo.»

[71] VCX:«Vui vì ở nơi các pháp mà có tín hoan hỷ.»

[72] Vô tậnđăng 無盡燈. VCST38n1782_p1065c23: «Vì để sự lưu truyền Chánh pháp không bị gián đoạn mà nói Vô tận đăng.»

[73] Trưởnggiả tử Thiện Đức 長者子善德. VCX: Tô-đạt-đa 蘇達多. Skt. Sudatta gṛhaptiputra; Cùng tên với Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍada). VCS: «Tô-đạt-đa,đây nói là Thiện Thí 善施 , vì hay giúp đỡnhững người cùng khổ.»

[74] Đại thíhội 大施會 . VCX: Đại tự hội 大祠會. CDM, «Thập nói, Đạithí hội có hai loại: 1. Chỉ bố thí chứ không dùng lễ pháp (tức nghi thức tếtự); 2. tổ chứ tế tự theo nghi thức ghi trong các sách ngoại đạo, kiêm cả việcbố thí.» Skt. mahāyajña, đại tế đàn, co 5 loại: bhūta-yajña (hiến tế sinh vật),manuṣya-yajña (hiến tế conngười), pitṛ-yajña (tế tự tổtiên), deva-yajña (tế tự chư thiên), brahma-yajña (tế tự phạm thiên). Đề cập ởđây là loại thứ ba, tế tự để dâng cúng các Tổ phụ.

[75] Pháp thíhội 法施會. VCX.: pháp thí tự hội 法施祠會, Đại tế đàn (hiến tế)bằng sự bố thí. Skt. dharmadāna-yajña, hay dharma-yajña, nguyên chỉ tế đàn haylễ hiến sinh không máu; theo nghĩa đen, ở đây chuyển thành lễ hiến sinh bằng sựbố thí pháp.

[76] CDM,«Thập nói: Sự phân phát tài vật phải theo thứ tự kẻ trước người sau. Không thểphát một lần cho tất cả.»

[77] VCX: Vìhành tướng (trạng thái) tùy hỷ của các hữu tình mà dẫn phát đại hỷ.”

[78] VCX: «Vìhành tướng tích hợp trí tuệ để hộ trì Chánh pháp…»

[79] VCX: «Vìhành tướng tịch tĩnh điều phục…»

[80] VCX:«Bằng hành tướng của giác chi tối thắng…»

[81] VCX: tuKhông 修空, và tiếp theo sau: tuVô tướng 修無相, tu Vô nguyện 無願; tức tu ba giải thoát môn.

[82] VCX:«Bằng hành tướng đối trị tất cả hữu vi…»

[83] VCX:«Bằng hành tương của sự tái sinh do cố tác ý…»

[84] VCX: vônguyện.

[85] VCX:«Bằng hành tướng của sự tu tập bốn nhiếp sự mà dẫn phát mạng căn.»

[86] Thân,mạng và tài sản, nếu thuộc xuất thế vô lậu, là ba pháp chắc thật.

[87] VCX: sáutùy niệm (Skt. saḍ anusmṛtayaḥ). Tức niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới vàniệm chư thiên.

[88] VCX:«Bằng hành tướng của sự tu tập các pháp tịnh diệu mà dẫn phát ý lạc.»

[89] VCX:«Bằng hành tướng của sự thường tu tập trung đạo…»

[90] Skt. araṇā-vihārin, chị vị đắcvô tránh tâm muội, đồng thời cũng chỉ vị chỉ sống ẩn cư trong rừng.

[91] Khôngnhàn xứ 空閑處. VCX: a-luyện-nhã xứ 阿練若處. VCS (T38n1782_p1067a19), »A-luyện-nhã xứ 阿練若處 (Skt. araṇyātana), đây gọi nhàn tịch sở 閑寂所. Cựu dịch làa-lan-nhã 阿蘭若. Tức chỗ trống vắngcách thôn xóm trên 2 dặm. Sống ở đây, không cùng vật đua chen, có thể tuvô tránh.»

[92] Tu hànhđịa 修行地. VCX: du-già sưđịa 瑜伽師地, chỉ trình độ tu tập.Skt. yogācārabhūmi.

[93] Trínghiệp 智業. Triệu nói, «Đại thừavạn hạnh phân làm 2 nghiệp. Lấy trí để nêu hành, lập riêng trí nghiệp. Các tùytùng của hành lập chung làm đức nghiệp.» VCX: quảng đại diệu trí tư lương 廣大妙智資糧 (chất liệu cho trí quảng đại).

[94] Nhậpnhất tướng môn . VCX: nhất chính lý môn ngộ nhập 一正理門悟入.

[95] Tuệnghiệp 慧業. VCX: quảng đại diệutrí tư lượng 廣大妙慧資糧 (chất liệu cho tuệquảng đại). VCS (T38n1782_p1067b03), « Trí (jñāna) là ba-la-mật thứ mười. Trínày có hai: 1. thọ pháp lạc; 2. thành hữu tình...Tuệ (prajñā), là ba-la-mật thứsáu, tuệ vô sai biệt.»

[96] VCX:Bồ-đề phần pháp.

[97] NanThắng Như Lai 難勝如來. Skt.Durjaya-tathāgata.

[98] Quangminh quốc độ 光明國土. VCX: Dương diệm thếgiới 陽焰世界. VCS: «Thế giới hưhuyễn, cho nên nói là Dương diệm.»

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn