Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 1: Quốc Độ Phật

10/10/201015:00(Xem: 1085)
Chương 1: Quốc Độ Phật

Chương 1
QUỐC ĐỘ PHẬT

Tôi nghe nhưvậy.

Một thời,Phật ở trong vườn Am-la[1] trong thành Tỳ-da-li[2] cùng với đại chúng gồm támngàn Tỳ-kheo, ba mươi hai ngàn Bồ-tát, là những vị được mọi người biết đến, đãthành tựu Đại trí và bản hạnh,[3] đã được xác lập bởi oai thần của chư Phật, làthành trì hộ Pháp, thọ trì Chánh Pháp, có khả năng cất tiếng rống của sư tửvang dội khắp mười phương, là những người bạn không đợi mời gọi của mọi người,đem an lạc đến cho mọi người, kế thừa và làm rạng rỡ Tam bảo không để đoạntuyệt, hàng phục các ma oán, chế ngự các tà đạo; đã hoàn toàn thanh tịnh; vĩnh viềnlìa các cái và triền;[4] tâm thường an trụ nơi giải thoát vô ngại; có niệm,định, tổng trì, biện tài không gián đoạn;[5] bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinhtấn, định và tuệ,[6] cùng năng lực của phương tiện,[7] tất cả đều được thànhtựu; đạt đến pháp nhẫn bất khởi vốn vô sở đắc.[8] Các ngài có thể tùy thuận màquay bánh xe không thối chuyển;[9] có năng lực giải thích mọi hiện tượng;[10] biếtrõ căn tính của mọi chúng sinh, bao trùm cả đại chúng[11] mà đắc pháp vôúy.[12] Các ngài tu dưỡng tâm bằng công đức và trí tuệ, lấy đó điểm trang chothân tướng thù thắng, vứt bỏ mọi thứ trang sức trần gian. Thanh danh lồng lộngcủa các ngài cao hơn núi Tu-di.[13] Tín tâm của các ngài thâm sâu[14] kiên cốnhư kim cương. Bảo vật chánh Pháp của các ngài lấp lánh soi rọi, và tuôn xuốngnhững trận mưa cam lộ.[15] Âm thanh của các ngài vi diệu bậc nhất trong mọi thứâm thanh. Các ngài thâm nhập duyên khởi, đoạn trừ các tà kiến, hoàn toàn thoátly mọi đối đãi nhị nguyên, không còn tập khí tàn dư.[16] Các ngài tuyên dươngchánh Pháp một cách không sợ hãi như sư tử gầm rống; những điều được thuyếtgiảng vang dội như sấm. Không thể đánh giá các ngài vì các ngài vượt ngoài mọigiá trị nhân gian. Các ngài tích lũy kho tàng Chánh Pháp như những thuyềntrưởng tài ba thu hoạch ở biển cả. Các ngài tinh thông yếu nghĩa của các Pháp;hiểu rõ căn cảnh của chúng sinh, chỗ đi và chỗ đến[17] của chúng cũng như cácsở hành của tâm tư của chúng. Các ngài đã đạt gần trí tuệ tự tại của chưPhật,[18] sở đắc mười lực,[19] vô úy,[20] và mười tám bất cộng.[21] Tuy đã đóngchặt cánh cửa dẫn xuống các cõi bất hạnh, các ngài vẫn hiện thân trong nămđường làm vị đại lương y để điều trị các thứ bịnh, theo bịnh mà cho thuốc khiếncho bình phục; thành tựu vô biên công đức, trang hoàng vô lượng cảnh giới chưPhật. Mỗi chúng sinh đều được lợi ích lớn khi nhìn thấy và được nghe các ngài,vì hành vi của các ngài đều không vô ích. Các ngài đã thành tựu đầy đủ công đứcnhư vậy.

Danh xưng củacác ngài là: Đẳng Quán Bồ tát, Bất Đẳng Quán Bồ tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ tát,Định Tự Tại Vương Bồ tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ tát, Pháp Tướng Bồ tát, QuangTướng Bồ tát, Quang Nghiêm Bồ tát, Đại Nghiêm Bồ tát, Bảo Tích Bồ tát, BiệnTích Bồ tát, Bảo Thủ Bồ tát, Bảo Ấn Thủ Bồ tát, Thường Cử Thủ Bồ tát, Thường HạThủ Bồ tát, Thường Thảm Bồ tát, Hỷ Căn Bồ tát, Hỷ Vương Bồ tát, Biện Âm Bồ tát,Hư Không Tạng Bồ tát, Chấp Bảo Cự Bồ tát, Bảo Dõng Bồ tát, Bảo Kiến Bồ tát, Đế VõngBồ tát, Minh Võng Bồ tát, Vô Duyên Quán Bồ tát, Huệ Tích Bồ tát, Bảo Thắng Bồtát, Thiên Vương Bồ tát, Hoại Ma Bồ tát, Điện Đức Bồ tát, Tự Tại Vương Bồ tát,Công Đức Tướng Nghiêm Bồ tát, Sư Tử Hống Bồ tát, Lôi Âm Bồ tát, Sơn Tướng KíchÂm Bồ tát, Hương Tượng Bồ tát, Bạch Hương Tượng Bồ tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát,Bất Hưu Tức Bồ tát, Diệu Sanh Bồ tát, Hoa Nghiêm Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát,Đắc Đại Thế Bồ tát, Phạm Võng Bồ tát, Bảo Trượng Bồ tát, Vô Thắng Bồ tát,Nghiêm Độ Bồ tát, Kim Kế Bồ tát, Châu Kế Bồ tát, Di-lặc Bồ tát, Văn-thù-sư-lợi Phápvương Tử Bồ tát. Cả thảy là ba mươi hai ngàn vị như vậy.

Ngoài ra còncó mười ngàn Phạm thiên, như Đại Phạm thiên Thi-khí, từ bốn thiên hạ về chỗPhật để nghe Pháp.

Có mười haingàn Thiên đế khắp bốn phương về dự hội.

Và chư quỷthần đại-oai-lực, long thần, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la,Khẩn-na-la và Ma-hầu-la-già cũng về dự.

Về dự hội còncó nhiều tì kheo, tì kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.

Bấy giờ Phậtnói pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đang cung kính vây quanh Ngài. Nhưngọn núi Tu-di nổi lên giữa đại dương, Phật ngồi ung dung trên bảo tòa sư tử,chói lọi che trùm tất cả các đại chúng đang đến.

Luc bấy giờcon trai của một vị trưởng giả, tên Bảo Tích,[22] cùng với năm trăm người concủa các trưởng giả khác, cầm năm trăm tàn lọng được trang hoàng bằng bảy loạingọc quí, đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ sát chân Phật, rồi dâng tất cả tàn lọngấy cúng dường Phật. Phật đã dùng thần lực siêu việt gom hết số tàn lọng đó làmthành một cái duy nhất che rợp cả ba nghìn đại thiên thế giới. Chiều kích dàirộng của các thế giới này thảy đều ánh hiện trong đó. Và trong ba nghìn đạithiên thế giới này, hết thảy núi Tu-di, núi Tuyết, núi Mục-chân-lân-dà, núi Ma-ha-mục-chân-lân-đà,Hương sơn, Bảo sơn, Hắc sơn, núi Thiết vi, núi Đại Thiết vi, cùng với biển,sông, suối, mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, cung điện chư thiên, cung điệncác rồng, tất cả đều ánh hiện trong lọng báu. Và khắp trong mười phương chưPhật, và chư Phật đang thuyết pháp, cũng thảy đều ánh hiện trong đó.

Khi đại chúngđược chứng kiến thần lực của Phật, đều tán dương sự kiện hy hữu chưa từng thấy,cùng chắp tay lễ Phật và chiêm ngưỡng tôn nhan không rời mắt.

Rồi thì, BảoTích, con trai của trưởng giả, đến trước Phật, đọc bài kệ ca ngợi:

Con kính đảnhlễ Ngài,[23]
Vị dẫn đạo chúngsinh bằng con đường tịch tĩnh.[24]
Mắt trong vắt,dài rộng như sen xanh;
Tâm tịnh, đãvượt các thiền định;[25]
Lâu dài tíchchứa nghiệp tịnh,
Danh xưng khôngthể lường;[26]
Đã thấy ĐạiThánh, bằng thần biến,[27]
Hiện khắp mườiphương vô lượng cõi;
Trong đó, chưPhật diễn nói Pháp;
Hết thảy hộichúng đều thấy nghe.
Pháp lực củađấng Pháp vương vượt thắng hết.
Thường đem tàisản Pháp[28] ban cho tất cả;
Khéo hay phânbiệt các pháp tướng,
Mà đệ nhất nghĩachẳng dao động.[29]
Đã được tự tạitrong các pháp
Nên con đảnh lễPháp vương này.
Không nói pháphữu, cũng không phi hiện hữu;
Bởi do nhânduyên các pháp sanh.
Vô ngã, khôngtạo tác, không người thọ báo.
Nhưng nghiệp thiệnác không hề mất.
Dưới cội bồ-đềbắt[30] đầu đánh bại Ma,
Được cam lộdiệt,[31] thành giác đạo.[32]
Đã không tâm ý,không thọ hành,[33]
Mà lại chiếtphục các ngoại đạo.[34]
Ba lần chuyểnluân trong Đại thiên;
Pháp luân bảnlai thường thanh tịnh,
Trời, người đắcđạo, do đây chứng;
Tam bảo do đóhiện thế gian.
Bằng Pháp mầunày cứu chúng sinh;
Đã thọ, khôngthối, thường tịch nhiên.
Là bậc đại yvương diệt trừ lão, bịnh, tử.
Con đảnh lễ côngđức vô biên của biển Pháp.
Chê, khen chẳngđộng,[35] như Tu-di;
Lòng từ trảirộng cho người hiền lẫn kẻ ác.
Tâm hành bìnhđẳng như hư không,
Ai nghe mà khôngkính phục con người cao quý[36] này?
Nay dâng Thế Tônlọng hèn mọn,
Trong đó, ánhhiện cho con Tam thiên giới;
Với cung điệnTrời, rồng, quỷ thần,
Càn-thát-bà lẫn củaDạ-xoa;
Và hết thảy mọivật trên thế gian.
Đấng Mười lực từtâm hiện biến hoá;
Đại chúng thấyviệc hy hữu, tán thán Phật.
Nay con đảnh lễđấng Chí tôn trong ba cõi.
Đại chúng quyngưỡng Đại Pháp vương,
Tâm tịnh, quánPhật, ai cũng vui.
Mỗi người tự thấyPhật trước mặt;
Ấy do thần lựcpháp bất cộng.
Phật bằng một âmdiễn thuyết Pháp;
Chúng sinh tùyloại đều hiểu được;
Đều nói Thế Tôncùng tiếng của mình;
Ấy do thần lựcpháp bất cộng.
Phật bằng một âmdiễn thuyết Pháp;
Chúng sinh mỗimỗi theo chỗ hiểu,
Đều được thọhành, đại lợi ích;[37]
Ấy do thần lựcpháp bất cộng.
Phật bằng một âmdiễn thuyết Pháp;
Có kẻ nghe sợ,có kẻ vui,
Có kẻ chán bỏ,kẻ hết nghi;
Ấy do thần lựcpháp bất cộng.
Cúi lạy đấngMười lực, Đại tinh tấn;
Cúi lạy đấng đãđạt vô sở uý;
Đảnh lễ bậc trụpháp Bất cộng;
Đảnh lễ Đại đạosư của tất cả;
Đảnh lễ đấng dứtmọi trói buộc;
Đảnh lễ đấng đếnbờ bên kia;
Đảnh lễ đấng cứuđộ thế gian;
Đảnh lễ đấngthoát vòng sinh tử.
Biết lẽ đến, đicủa chúng sinh,
Thâm nhập vạnpháp, được giải thoát,
Không vướng thếgian, như hoa sen,
Thường khéo thâmnhập hạnh không tịch,
Thấu đạt pháptướng không trở ngại;
Cúi lạy đáng vôsở y như hư không.

Đọc kệ xong,Bảo Tích thưa với Phật:

«Bạch ThếTôn, năm trăm người con của các trưởng giả[38] này đã phát tâm tầm cầu giác ngộtối thượng chánh đẳng chánh giác[39], nguyện được nghe sự thanh tịnh của quốcđộ Phật. Xin Thế Tôn chỉ dạy chúng con những việc làm của Bồ tát dẫn đến quốcđộ thanh tịnh.»[40]

Phật bảo:
«Lành thay, BảoTích! Con đã vì chư Bồ-tát hỏi những việc làm vì quốc độ thanh tịnh của Nhưlai. Hãy lắng nghe và suy nghĩ. Ta sẽ nói cho con nghe.»

Bảo Tích vànăm trăm thanh niên trưởng giả chăm chú nghe. Phật dạy:

«Bảo Tích,loại của chúng sinh là quốc độ Phật của Bồ tát.[41] Vì sao như vậy? Vì Bồ táttùy theo loại chúng sinh được giáo hoá[42] mà tiếp nhận quốc độ Phật; tuỳ theoloại chúng sinh được điều phục[43] mà tiếp nhận quốc độ Phật; tuỳ theo loạiquốc độ nào thích hợp để chúng sinh thâm nhập trí của Phật mà tiếp nhận quốc độPhật; tuỳ theo loại quốc độ nào thích hợp để chúng sinh làm chỗi dậy căn tínhcủa Bồ tát[44] mà tiếp nhận quốc độ Phật. Là vì sao? Vì Bồ tát tiếp nhận quốcđộ thanh tịnh chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Ví như một người có thể xây dựngđền đài nhà cửa trên khoảng đất trống, tuỳ ý không trở ngại; nhưng không thểxây dựng như vậy ở giữa hư không. Cũng vậy, Bồ tát vì muốn thành tựu chúng sinhmà ước nguyện tiếp nhận quốc độ Phật. Ước nguyện tiếp nhận quốc độ Phật khôngthể tìm thấy giữa hư không.

«Bảo Tích,con nên biết, trực tâm[45] là tịnh độ của Bồ tát.[46] Khi Bồ tát thành Phật,chúng sinh không dua vạy sẽ tái sanh vào đó.

«Thâm tâm làtịnh độ của Bồ tát.[47] Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào có đủ đầy côngđức sẽ tái sanh vào đó.

«Bồ-đề tâm làtịnh độ của Bồ tát.[48] Khi Bồ tát thành Phật, hết thảy chúng sinh tầm cầu Đạithừa sẽ tái sinh vào cõi đó.

«Bố thí làtịnh độ của Bồ tát.[49] Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào có thể ban phátsẽ tái sinh vào đó.

«Trì giới làtịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh tu hành mãn nguyện mườithiện nghiệp đạo sẽ tái sanh vào đó.

«Nhẫn nhục làtịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào trang nghiêm bằng bamươi hai tướng tốt sẽ tái sanh vào đó.

«Tinh tấn làtịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào cần mẫn thực hiện mọicông đức sẽ tái sinh vào đó.

«Thiền địnhlà tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào nhiếp tâm khôngtán loạn sẽ tái sinh vào đó.

«Trí tuệ làtịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh chánh định[50] sẽ táisinh vào đó.

«Bốn vô lượngtâm là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào thành tựu từ,bi, hỷ, xả sẽ tái sinh vào đó.

«Bốn nhiếppháp[51] là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào đượcnhiếp phục bởi giải thoát sẽ tái sinh vào đó.

«Phương tiệnlà tịnh độ của Bồ tát.[52] Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh nào biết diệu dụngphương tiện một cách vô ngại đối với hết thảy các pháp sẽ tái sinh vào đó.

«Ba mươi bảyđạo phẩm[53] là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, chúng sinh có đủniệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, giác chi, và chánh đạo, sẽ tái sinh vào đó.

«Tâm hồihướng là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, quốc độ sẽ trang nghiêm đầyđủ công đức cao quí.

«Diễn thuyếtđể diệt trừ tám nạn[54] là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, quốc độsẽ không ba ác, tám nạn.

«Tự mình giữgiới, không phê bình người phá giới là tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thànhPhật, quốc độ không nghe danh từ phạm cấm.

«Mười thiệnlà tịnh độ của Bồ tát. Khi Bồ tát thành Phật, sẽ không yểu mạng, sẽ giàu có,cuộc sống phạm hạnh, nói lời chân xác, ngôn ngữ dịu dàng, quyến thuộc không lytán vì khéo hòa giải tranh chấp; lời nói tất lợi lạc cho người, không đố kỵ,sân hận, giữ gìn chánh kiến, sẽ tái sanh vào đó.

«Như vậy, BảoTích, tùy theo trực tâm ấy mà Bồ tát mới có thể phát khởi hành. Tùy theo sựphát khởi hành mà được thâm tâm. Tùy theo thâm tâm mà ý được điều phục. Tùytheo sự điều phục ý mà hành được như thuyết. Tùy theo hành như thuyết mà có thểhồi hướng. Tùy theo hồi hướng như vậy mà có thể diệu dụng các phương tiện. Tùytheo phương tiện thích hợp thành tựu chúng sinh. Tùy theo sự thành tựu chúngsinh mà quốc độ Phật thanh tịnh. Tùy theo sự thanh tịnh của quốc độ mà thuyếtPháp thanh tịnh. Tuỳ theo sự thuyết pháp thanh tịnh mà trí tuệ thanh tịnh. Tùytheo trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh. Tùy theo tâm thanh tịnh mà hết thảycông đức đều thanh tịnh.

«Cho nên, BảoTích, nếu Bồ tát muốn làm thanh tịnh quốc độ, hãy làm thanh tịnh tự tâm. Tùytheo tâm tịnh mà Phật độ tịnh.»

Bấy giờ,nương theo oai thần của Phật, Xá-lợi-phất chợt nghĩ: «Khi tâm của Bồ tát thanhtịnh thì quốc độ Phật thanh tịnh. Vậy há tâm của đức Thế Tôn không thanh tịnhhay sao mà quốc độ Phật này chẳng hề thanh tịnh?»

Phật biết ýnghĩ ấy, nói với Xá-lợi-phất:

«Ý ngươi nghĩsao, mặt trời, mặt trăng há không tịnh chăng khi người mù chẳng thấy chúngsáng?»

Xá-lợi-phấtđáp:

«Bạch ThếTôn, đó là tại lỗi của người mù chứ không phải tại mặt trời mặt trăng khôngsáng.»

Phậtnói:

«Này Xá-lợi-phất,do bởi tội của chúng sinh nên không thấy vẻ trang nghiêm thanh tịnh của quốc độPhật; đó không phải do lỗi của Như lai. Xá-lợi-phất, cõi đất này của Ta thanh tịnhnhưng ngươi không nhận thấy đó thôi.»

Khi ấy, Phạmthiên Loa Kế[55] nói với Xá-lợi-phất:

«Chớ nghĩrằng quốc độ này không thanh tịnh. Vì sao? Vì tôi thấy quốc độ Phật Thích-cathanh tịnh, chẳng khác gì cung điện của trời Tự tại.[56]»

Xá-lợi-phất bảo:

«Tôi thấy cõinày nào là gò nỗng, hầm hố, chông gai, toàn đất và đá; cái gì cũng nhơbẩn.»

Phạm thiênbảo:

«Là vì tâmcủa nhân giả có thấp có cao, chưa y theo tuệ của Phật, nên thấy cõi đất này bấttịnh. Xá-lợi-phất, vì Bồ tát bình đẳng với hết thảy chúng sinh, thâm tâm thanh tịnh,nương theo trí tuệ của Phật, nên có thể nhìn thấy cõi Phật này thanh tịnh.»

Bấy giờ, Phậtấn ngón chân của Ngài xuống đất. Ba nghìn đại thiên thế giới bỗng hóa rực rỡvới muôn vàn châu báu quí hiếm, trang nghiêm như cõi tịnh độ của Phật Bảo TrangNghiêm,[57] được trang hoàng bằng vô lượng công đức mà hội chúng ca ngợi làchưa từng thấy. Hơn nữa, mọi người đều thấy mình được ngồi trên một tòa senlộng lẫy.

Phật nói vớiXá-lợi-phất:

«Hãy quán sátvẻ thuần tịnh trang nghiêm của quốc độ này.»

Xá-lợi-phấtthưa:

«Bạch ThếTôn, con chưa từng thấy và nghe về đất Phật thanh tịnh trang nghiêm nhưvầy.»

Phậtnói:

«Cõi Phật nàycủa Ta thường thanh tịnh như vậy. Nhưng hiển hiện các thứ xấu xa uế tạp là đểdẫn dắt những người căn trí thấp kém. Cũng giống như thức ăn của chư thiên cómuôn màu hiển hiện tùy theo công đức của người ăn. Cho nên, Xá-lợi-phất, ngườicó tâm thanh tịnh sẽ thấy đất này thanh tịnh.»

Khi Phật hiểnhiện toàn vẻ trang nghiêm thanh tịnh của quốc độ này, năm trăm người con củacác trưởng giả cùng đi với Bảo Tích chứng vô sanh pháp nhẫn,[58] và tám mươibốn ngàn người phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Phật thâu lạithần túc, tức thì thế giới trở về hiện trạng cũ. Ba mươi hai ngàn chư thiên vàngười từng mong cầu quả vị Thanh-văn, thấy rõ tính vô thường của các pháp hữu vi,dứt lìa những cáu bẩn trần lao, được sự minh tịnh của con mắt pháp. Tám ngàn tìkheo không còn chấp thủ[59] các pháp, dứt sạch các lậu, được giảithoát.[60]

[1] Am-la thọviên 菴羅樹園. VCX. Am-la-vệ lâm 菴羅衛林. Skt. Āmrapāli-vana.

[2] Tì-da-li 毘耶離. VCX. Quảng nghiêm thành廣嚴城. Skt. Vaiśālī.

[3] VCX.: đạithần thông nghiệp tu dĩ thành biện 大神通業修已成辦 , đã hoàn thành sựnghiệp đại thần thông CDM.: Bản Phạn nói, ‹thần thông trí tuệ bản sự dĩ tác 神通智慧本事已作 › đã hoàn thành bản sự của thần thông trí tuệ. Cf.Sukhavyūha: abhijñānābhijñātaiḥ.

[4] CDM. Triệu:cái 蓋, chỉ năm cái (5 thứ che lấp tuệ: tham dục, sân, hối-miên,điệu cử, nghi; Skt. pañca āvaraṇāni: rāga, pratigha, tyāna-middha, uddhatya-kaukṛtya) và triền 纏, chỉ mười triền phược (10 thứ quấn chặt, tức 10 tùy phiền não).VCX.: chưóng và cái triền; VCS.: chướng có hai: phiền não và sở tri; cáicó 5(như trên); triền có 8 (vô tàm, vô quý, hôn trầm, thuỵ miên, điệu cử, ố tác,tật, xan).

[5] CDM.: chánhniệm, chánh định, tổng trì (= đà-la-ni, Skt. dhāraṇnī), và 7 biện tài (1.tiệp tật, ứng đối nhanh, 2. lợi, nhạy bén, 3. bất tận, không cùng tận, 4. bấtkhả đoạn, không bị cắt đứt, 5, tùy ứng, thích ứng hoàn cảnh, 6. nghĩa, dẫn đếnmục đích, 7. thế gian tối thượng).

[6] Sáuba-la-mật 波羅密; Skt. saṭ pāramitāḥ: dāna, śīla, kṣānti, vīrya, dhyāna, prajñā.

[7] VCX., nêu10 ba-la-mật. 6 ba-la-mật, như trên, thêm 4: phương tiện (Skt. upāya), nguyện(praṇidhi/praṇidhāna), lực (bala), vàtrí (jñāna).

[8] Bất khởipháp nhẫn 不起法忍, cũng nói là vô sanhpháp nhẫn (Skt. anutpattikeṣu dharmeṣu kṣāntī pratilabdhā, chứng đắc vô sanh pháp nhẫn). CDM.: «Triệu nói,... có khả năng lãnh thọ thật tướng, nên nói là nhẫn.» VCS., dẫn Thanh Biện:«Theo thế tục, nói là hữu; theo thắng nghĩa, nói là không. Không, cho nên khôngcó gì để nắm bắt (=vô sở đắc). Quán sát, pháp vốn là không, thì đâu có sự sinhkhởi. Quán sát sự không sinh khởi này mà phát khởi quán trí để chấp nhận (=quán trí nhẫn); do đó, nói là vô sở đắc bất khởi pháp nhẫn.»

[9] Bất thốiluân 不退輪; DMCh. a-duy-việt trí pháp luân 阿惟越智法輪 ; Skt. avivarti-cakra=avaivartya-dharmacakrānupravartaka 隨轉不退 法輪 .

[10] Thiện giảipháp tướng 善解法相; VCX.: đắc vô tướng diệuấn 得無相妙印 ; VCS.: có hai loại diệu ấn, 1. có sai biệt, chỉ ba phápấn, chung cả Đại & Tiểu thừa: các hành vô thường, Niết-bàn tịch tĩnh, cácpháp vô ngã; 2. diệu ấn không sai biêt: dấu ấn của các pháp là lý vô tướng.

[11] Cái chưđại chúng 蓋諸大眾 ; CDM., Thập nói: theobản Phạn, đọc là chúng bất năng cái 眾不能蓋 , đại chúng không thểche lấp. VCX.: nhất thiết đại chúng sở bất năng phục 一切 大眾所不能伏 , không thể bị khuấtphục bởi bất cứ chúng hội nào

[12] vô sởuý 無所畏, Skt. vaiśāradya, sự không bối rối và sợhãi trước đám đông, sự trầm tĩnh, tự tin trước đám đông. Có 4 vô sở uý củaBồ-tát (bodhisattvānāṃ catvāri vaiśāradyāni), và 4 vô sở uý của Phật (catvāritathāgatasya vaiśrādyāni) khác nhau.

[13] VCX.: vượttrên cả Đế Thích (Skt. Śakradevānām Indra, Chúa tể các thiên thần).

[14] Thâmtín 深信. VCX.: ý lạc 意樂. Skt. āśaya, ý hướng cao thượng, xu hướng tinh thần/tâm linh caothượng.

[15] Cam lộvũ 甘露雨. Skt. amṛta-varṣa, cơn mưa những hạt sương bất tử.

[16] VCX.: «cắtđứt dòng tương tục của tập khí kiến chấp nhị biên.»

[17] Vãng laisở thú 往來所趣. VCX.: Hữu thú vô thú ýlạc sở quy 有趣無趣意樂所歸, chỗ quay về của ý lạchữu thú và vô thú. VCS.: «Thanh Biện giải, theo thế tục đế thì hữu; theo thắngnghĩa đế thì là vô. Chỗ quay về rốt ráo của hai nẽo thú (hướng) này chính là lýchân không.»

[18] VCX.:hoạch vô đẳng đẳng Phật trí quán đỉnh 獲無等等佛智灌頂 , được đăng quang lênđịa vị Phật trí tối thượng siêu việt.

[19] Mười lực,10 năng lực siêu việt của Phật, Skt. tathāgata-daśabalāni 如來十力.

[20] Vô sở uý ,đây chỉ bốn vô sở uý của Phật, Skt. catvāri tathāgatasya vaiśāradyāni 如來四無所畏.

[21] Chỉ 18pháp đặc hữu, bất cộng, của Phật; Skt. aṣṭādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ 十八不箍共佛法.

[22] Trưởng giảtử danh viết Bảo Tích 長者子名曰寶積 (Skt. Ratnaraśi-gṛhapati);VCX.: Li-thiếp-tì chủng danh viết Bảo Tính 離呫毘種名曰寶性(Licchaviputra-Ratnaprakṛta?); DMC.: trưởng giả tử danhLa-lân-na-kiệt 羅鄰那竭, Hán dịch Bảo Sự 寶事, Skt. Ratnakṛta ? CDM.: «Triệunói, Bảo Tính cũng là Pháp thân Đại sỹ, thườngcùng Tịnh Danh (Duy-ma-cật) đến chỗ Như lai, cùng hoằng truyền đạo giáo.»

[23] VCX.: «cúilạy đấng Đại Sa-môn.»

[24] Đạo chúngdĩ tịch 導眾以寂 ; CDM., «Thập nói: theoPhạn bản, gọi là tịch đạo 寂道 (Skt. śānta-mārga), tứcbát chánh đạo. Triệu nói: Tịch, chỉ cho đạo vô vi tịch diệt.» VCX.: hi di tịchlộ, «đạo lộ tịch tĩnh (tức an bình), bằng phẳng.»

[25] VCX.: «đãchứng đệ nhất tịnh ý lạc, và thắng sa-ma-đà đã đến bờ bên kia.» DMC. nói «tâmtịnh» tức nói «đệ nhất tịnh ý lac.» Ý lạc (Skt. āśaya), hay tâm tư hướng đếnchúng sinh, thuần tịnh bậc nhất; tức là, tâm tư Phật chỉ hướng đến một đốitượng thuần nhất, là sự lợi lạc của chúnh sinh. Sa-ma-đà 沙摩陀, Hán cũng thường âm là xa-ma-tha (Skt. śamatha), dịch làchỉ 止, sự lắng đọng, đình chỉ tạp niệm; thườngtu tập với tì-bát-sa-na (Skt. vipaśyanā), Hán gọi là tu tập chỉ quán.

[26] Xứng vôlượng 稱無量. VCX.: hoạch đắc quảng đại thắng danhvăn 獲得廣大勝名聞 , «Có được danh tiếng rộng lớn.»

[27] Thần biến 神變, tức thần thông biến hoá. (Skt. ṛddhi-prātihārya)

[28] Pháptài 法財, tài sản là Chánh pháp.

[29] VCX.:«Quán sát đệ nhất nghĩa mà đánh bại các oán địch.»

[30] NguyênHán: Phật thọ 佛樹.

31 Cam lộdiệt 甘露滅; CDM., «Thập nói: theo Phạn bản, nói làtịch diệt cam lộ (Skt. śāntyāmṛta), tức thật tướng pháp.» VCS.: «Diệt, chỉ Niết-bàn. Giống nhưthuốc cam-lộ, uống vào thì được bất tử.»

[32] Giác đạothành 覺道成 , thành tựu đạo giác ngộ, thành Phật. VCX.: (đắc) thắngbồ-đề 得菩提. VCS.: «Chứng đắc chân trí vượt quá hàngNhị thừa nên nói là thắng Bồ đề.»

[33] Vô thọhành 無受行; CHD., «Thập nói: không có thọ, tưởng,hành...Triệu nói: thọ, đây chỉ ba thọ.» VCS., «Thọ, tức sự lãnh nạp (=cảmnghiệm). Hành, tức sự duyên lự (=tư duy về đối tượng).» CDM.: «Bằng không tâm ýmà hiện hành.»

[34] VCX.¨«Ngoạiđạo, tà sư không thể thăm dò.» VCS., dẫn Thanh Biện: «Cam lộ tịch diệt mà Phậtchứng vốn là không, vô sở hữu, không phải cảnh vực của tâm ý, nên các ngoại đạokhông thể thăm dò ước lượng nỗi.»

[35] VCX.: «támpháp không làm lay động.» Đây chỉ 8 thế gian pháp 八世法(aṣṭau lokadharmāḥ) đắc, thất, danh dự, thất sủng, vinh quang, sỉ nhục, khổ, lạc.

[36] NguyênHán: nhân bảo 人 寶, bảo vật cho loàingười. VCX.: «vị Năng nhân này.»

[37] CDM.,Triệu nói: «tùy theo sở thích mà thọ lãnh; tuỳ theo chỗ thọ lãnh mà thực hành;tuỳ theo sự thực hành mà được lợi ích.»

[38] VCX.: đồngtử Bồ-tát 童子菩薩, tức Bồ tát niên thiếu,Skt. kumāra-bodhisattva.

[39] VCX.: «Họthường hỏi con về cách làm cho cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh.»

[40] Bồ táttịnh độ chi hành 菩薩淨土之行 ; CDM, «Biệt bản nói,‹Phật quốc thanh tịnh chi hành.› Thập nói, ‹Bản Phạn nói là thanh tịnh chitướng (viśuddha-lakṣaṇa).›» VCX.: tịnh Phật độ tướng 淨佛土相, hình thái (hay yếu tính, đặc tính) của cõi Phật thanhtịnh.

[41] VCX.:«Quốc độ của hữu tình, là quốc độ Phật trang nghiêm thanh tịnh của Bồ tát.»

[42] CDM., Thậpnói,..., bản Phạn nói là ‹tùy theo chúng sinh được giáo hóa nhiều ít.› Nghĩa làquốc độ rộng hay hẹp tùy theo số lượng chúng sinh đã được giáo hoá.

[43] Điềuphục 調伏; CDM., Thập nói: «bản Phạn nói là tì-ni(vinaya), nghĩa là khéo léo sửa trị; tức khéo sửa trị khiến chúng sinh dứt ác,hành thiện.»

[44] VCX.: khởiThánh căn hành 起聖根行 . VCS.: «Thánh căn, chỉbồ-đề tâm. Hoặc chỉ 5 căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ). Thánh hành, chỉ muôn vạnhành vi của Thánh.»

[45] VCX.:thuần ý lạc độ 純意樂土, Skt. viśuddhāśaya-kṣetra.

[46] Từ đây trởxuống, bản La-thập nói ba tâm; bản Huyền Trang nói bốn quốc độ. Thiện gia hànhđộ 善加行土 trong bản Huyền Trangkhông có tương đương trong bản La-thập.

[47] VCX.:thượng ý lạc độ , Skt. adhyāśaya-kṣetra.

[48] Thứ nhấttrong bản Huyền Trang: quốc độ của sự phát khởi Bồ đề tâm , Skt.bodhicittotpāda-kṣetra.

[49] Từ đây trởxuống là 6 ba-la-mật. VCS., tổng hợp gọi tên là chỉ tức 止息, đình chỉ và dập tắt các chướng ngại (bằng vào tu tập sáuba-la-mật).

[50] Chánhđịnh, CDM., tức chánh định tụ 正定聚, một trong ba tụ (tàđịnh tụ, chánh định tụ, bất định tụ). Đạt được chánh trí tuệ nhận thức pháptướng một cách quyết định. VCX.: nhập chánh định; VCS.: chứng nhập chánh địnhtụ, tức chứng nhập kiến đạo (thấy pháp Chân như).

[51] VCX.: quốcđộ bởi bốn nhiếp sự 四攝事土, Skt. saṁgraha-kṣetra.

[52] VCX. xảophương tiện độ 巧方便土, Skt. upāya-kauśalya-kṣetra.

[53] Đạophẩm 道品; VCX.: Bồ đề phần 菩提分, Skt. bodhi-pākṣikā.

[54] Trừ bátnạn 除八難(đọc đúng là nan). VCX.: tức bát vôhạ 息八無暇; 8 trường hợp khó gặpPhật, khó nghe Pháp, không thể tu tập Phạm hạnh, Skt. aṣṭāv akṣaṇāḥ.

[55] Loa KếPhạm vương 螺髻梵王; VCX.: Trì Kế Phạmvương 持髻梵王

[56] Tự tạithiên 自在天; VCX.: Tha hoá tự tại thiên 他化自在天, Skt. Paranirmitavaśavartin

[57] VCX.: CôngĐức Bảo Trang Nghiêm Phật 功德寶莊嚴佛.

[58] Vô sinhpháp nhẫn 無生法忍, Skt.anutpattika-dharma-kṣānti Đoạn trên nói là bất khởi pháp nhẫn.

[59] Bất thọchư pháp 不受諸法. CDM.: đạo không dínhmắc, đối với pháp, không thọ, không nhiễm. VCS.: không cháp thủ ngã và ngã sở,vì không còn tiếp thọ quả của sinh tử.

[60] VCX.: tâmhoàn toàn được giải thoát 心善解脫 , Skt. suvimukta-citta.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn