Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kinh Tối Thượng Ý Đà-ra-ni

13/01/201201:54(Xem: 1774)
Kinh Tối Thượng Ý Đà-ra-ni
mattong_2Tối thượng ý đà-ra-ni Kinh
Hán dịch: Đại sư Thí Hộ
Việt dịch: Sa-môn Thích Viên Đức

Như thật tôi nghe. Một thời đức Phật ngự tại Ngưu Đầu Chiên Đàn tinh xá thuộc thành Cứu Cáp cùng các vị đại Tỳ-khưu nhóm hội đầy đủ và Thiên long bát bộ cung kính vi nhiễu chiêm ngưỡng mà an trụ.

Bấy giờ đức Thế Tôn dạy A-nan-đà và các đại chúng rằng: “Ta quán thấy ở cõi Nam Diêm-phù-đềnày, trong thời kỳ mạt thế, do sự bạc phước của tất cả chúng sinh, các thứ ác quỷ thần khởi lên các tai nạn não loạn khiến cho chúng sinh không an ẩn. Có đà-la-ni để diệt trừ các tai nạn và tăng trưởng cát tường. Nay ta tuyên nói, các ông hãy lắng nghe!”

Bấy giờ A-nan-đà và các đại chúng vâng lời dạy dỗ của Phật, lẳng lặng chú ý nghe.

Phật dạy A-nan: “Đời quá khứ, cõi Diêm-phù-đề này có một vị Tỳ-khưu tên là Truyền Giáo. Ngày 15 tháng chín đi du hành về phương Bắc, cách nước Chi Na không xa, chừng bốn do-tuần, bỗng nơi giữa đường thấy một thần nhân đứng ở đàng xa. Thần nhân này thân cao 30 thước, mặt tròn bốn thước. Tỳ-khưu Truyền Giáo kia thấy thần nhân có thân thể hùng vĩ, nét mặt sáng rực, mới thẩm xét quán sát, biết đây không phải là người tầm thường, mà chính thật là Diệu Cát Tường Đồng Tử.

Tỳ-khưu Truyền Giáo đến trước mặt thần nhân, năm vóc sát đất, nép thân lễ kính. Làm lễ xong, chắp tay chiêm ngưỡng mà bạch thần nhân rằng: “Vì sao Diệu Cát Tường Đồng Tử hiện tướng như thế? Nay con xét biết, nhất định ngài không phải là ai khác, mà là một vị thánh.”

Bấy giờ, thần nhân bảo Tỳ-khưu rằng: “Đúng như lời ông nói, ta chính là Diệu Cát Tường vậy.” Tỳ-khưu Truyền Giáo lại bạch thần nhân rằng: “Tại sao nay ngài hiện tướng này?” Bấy giờ thần nhân bảo Tỳ-khưu Truyền Giáo rằng: “Ông có biết nay cõi Nam Diêm-phù-đề sẽ có tai nạn chăng? Những chúng sinh bạc phước sẽ mắc các thứ bệnh, chịu các khổ não.”Tỳ-khưu bạch rằng: “Nay vì lý do gì cõi Nam Diêm-phù-đề bỗng nhiên có những tai nạn ấy?”

Thần nhân nói: “Nay tại mặt Nam của núi Diệu Cao có A-tu-la hưng khởi tâm ác, đem các quyến thuộc giao chiến với chư Thiên. A-tu-la che khuất mặt trời, mặt trăng và làm cho ánh sáng không còn chiếu hiện nữa. Lại có vô lượng cực ác Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la… vv, ở mặt Nam của núi Diệu Cao, thấy A-tu-la hiện tướng đó rồi cũng cùng nhau trợ giúp. Bấy giờ chư Thiên thoái bại, A-tu-la đắc thắng.Thời cõi Nam Diêm-phù-đề bỗng thấy ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao bị che mất như vậy, các tướng bất tường xuất hiện nơi nơi, phong vũ phi thời, nắng lụt tranh nhau xuất hiện. Các ngũ cốc, lúa mạ, không thể đơm hoa kết trái. Giả sử có trái thì ăn cũng không có mùi vị, nên khiến cho oai quang sắc lực của chúng sinh đều giảm kém, gầy ốm.

Lại có các loài ác quỷ loại Tỳ-xá-xà biến làm bổn hình, hiện các dị tướng. Hoặc làm sư tử, cọp, beo, hoặc hình trạng giống chó sói, cũng lại hiện ra những tướng nữ nhơn yêu quái não loạn chúng sinh, khiến sinh các thứ bệnh, làm chúng sinh chịu mọi khổ não. Đó là: bệnh bướu cổ, bệnh phong, bệnh đàm, bệnh thổ tả, bệnh đau mắt, bệnh đau đầu, bệnh đau bụng cho đến bệnh trĩ, ban trái. Lại có các thứ bệnh rét hoặc phát bệnh một ngày hoặc cách ngày, hoặc phát giây lát hoặc suốt tháng. Hoặc bị bệnh ghẻ, ghẻ ngứa ghẻ chùm ghẻ lác, các ác tật bệnh khắp cõi Diêm-phù-đề, khiến các chúng sinh chịu rất nhiều khổ não. Những người ít phước không thể nào tránh khỏi, cho đến người giả cả, kẻ trung niên hoặc thiếu niên hoặc trẻ nhỏ do những tai chẩn này, mà phần nhiều bị chết yểu. Này Tỳ-khưu! Do xót thương về những việc này nên ta bi cảm nói ra, do đó hiện ra các tướng trạng này cảnh cáo cho mọi người biết.

Này tỳ-khưu! Ta nay bảo ông: Nếu có chúng sinh tự thân mình và các quyến thuộc cho đến tụ lạc, xóm làng, cõi nước, muốn tiêu tai họa, tăng ích phước lành, trước tiên thâm sinh kính trọng ngôi Tam Bảo, bày biện các hoa thơm, trái ngon quả ngọt, thắp hương,rưới dầu thơm, làm lễ cúng dường các thứ đầy đủ. Cần phải chí tâm một thất không ăn, ngày bốn thời, đêm bốn thời, dũng mãnh chuyên chú trì tụng Tối Thượng Ý Đà-la-ni thì tai nạn kia quyết tiêu diệt hẳn, tất cả phước lành sẽ được tăng ích.Tỳ-khưu! Nếu muốn trì tụng Tối Thượng Ý Đà-la-ni kia, trước cần phải cúi đầu xưng niệm danh hiệu: ‘Nam mô Quảng Đại Thậm Thâm Trí Huệ Chấn Hống Vương Như Lai’xong, liền tụng Đà-la-ni.”

Bấy giờ thần nhân kia vì Tỳ-khưu Truyền Giáo màtuyên nói Tối Thượng Ý Đà-la-nirằng:

Đát nễ-dã tha Vĩ bố la nga lý nhĩ đế, vĩ bố la thấp phạ lị, vĩ bố la dụ nễ thế, a la nga đế, sa hạ Nẵng mồ tát lị-phạ nễ phạ ra nỉ vĩ sắt kiếm tỳ nõa, đát tha nga đá tả. Đát nễ-dã tha hế ma, hế ma, hạ ma hế, sa hạ Nẵng mồ ngu nõa ca ra tả, đát tha nga đa tả. Đát nễ-dã tha Nga nga nẵng ca lị, nga nga nẵng tam bà phệ, nga nga nẵng kiết lị đế, sa hạ Nẵng mồra đát-nẵng na-nga đa Nẵng mồ đát tha nga đa tả Đát nễ-dã tha Ra đát-nỗ nạp-nga đế, ra đát-nẵng tam bà phệ, sa hạ Nẵng mồ ma hạ a nhĩ đa tát-phạ di nễ, đát tha nga đa tả. Đát nễ-dã tha A ma ma hế, sa hạ Nẵng mồ ma nẵng tát-đán bà tả, đát tha nga đa tả Đát nễ-dã tha Ma nẵng ta-đát vãm, thuật đà, bát nạp-ma sa lị, bát nạp-ma tam bà phệ ca lị hế đa ca lị duệ sa hạ Nẵng mồ tát lị-phạ một đà mạo địa tát đát nẫm Nẵng mồ A lị dã mạn tố thất-lị dã. Đát nễ-dã tha Nhạ duệ, nhạ dã la một địa, hế ma hế ma, ma hạ ma hế sa hạ Nẵng mồ a lị dã phạ lộ chỉ đế thấp phạ la tả Đát nễ-dã tha Nga nga nẵng trà duệ, nga nga nẵng vĩ ngật lăng đa, ế hế mi sa ha Nẵng mồa lị dã tam mãn đa bà nại-la tả, đát tha nga đa tả Đát nễ-dã tha Hế bà nại-lị ma hạ bà nại-lị, a mật-lý đa bà nại-lị, vĩ nga đa, ra nhạ tế, sa hạ.Nẵng mồa lị dã phạ nhật-ra địa ba đa duệ đa dã Đát nễ-dã tha Kiết lị đế đa, tát lị-phạ nhĩ nễ tỵ a để kiết lị-đế đa, tát lị-phạ nhĩ nễ tỵ, phạ nhật-la tam bà phệ, phạ nhật-la tỵ na ca dã, sa hạ. Nẵng mồ tát lị-phạ một đà mạo địa tát đỏa nam. Đát nễ dã tha Thấp-phệ đa ca lị tỵ nhập-phạ la nễ duệ, sa hạ. Tát-đán bà nễ mô hạ nễ, bán nhạ nễ, bôn noa lị ca dạ, sa hạ. Ma hạ nan đế nan bà, nễ duệ, sa hạ. Nỗ la vĩ nỗ lị duệ, sa hạ. La vĩ hật-lị đế, sa hạ. Phiến đế, tất phệ nễ phạ, bá ni duệ, sa hạ. Lãm mô nại lý duệ, ca la bá thế, kiết lị-đế đa, sa hạ. A nha-noa nẵng, vĩ đà ma nễ duệ, sa hạ. Đà đổ, ca lị duệ, sa hạ. Mi già, ca lị duệ, sa hạ. Mạt la vãm đế duệ, sa hạ. Mạo địa-dựng nga nan đế duệ, sa hạ. Yết lị ma ta đà nễ, ca dã, sa hạ. Ê ca la ma dã, sa hạ. A dũ nga tả lị ni duệ, sa hạ. Một-la hám-mô bá ngu trà dã, sa hạ. Tát lị-phạ ca lị-ma phạ la noa tỵ tất sử khất đa dã, sa hạ. Tát lị-phạ một đà tỵ tam tắc-hật rị đa dã, sa hạ. Ê ca tất-lăng nga dã, sa hạ. A tất-lăng nga dã, sa hạ. Bộ đa dã, sa hạ. A bộ đa dã, sa hạ. Tát lị-phạ noa cụ ba, tam ma dã, sa hạ. Ma ma, tát lị-phạ nẫm tả, sa hạ.

Lúc bấy giờ thần nhân nói Tối Thượng Ý Đà-la-ni này rồi, liền dạyTỳ-khưu Truyền Giáo rằng: “Ông nay đem Đà-la-ni này vào mười phương cõi Nam Diêm-phù-đề, truyền nói nơi quốc ấp, tụ lạc, xứ xứ, khiến các chúng sinh đều được nghe biết, phải khiến cho Đà-la-ni này được rộng tuyên lưu bố. Vì cớ sao thế? Vì muốn cho chúng sinh tăng trưởng công đức vậy, có thể ban cho chúng sinh trừ các khổ não vậy, hay ở thế gian trừ các tai nạn vậy, hay khiến cho các ác quỷ thần trừ các ác tâm vậy, hay khiến cho quốc ấp, tụ lạc từ vua đến thần dân, hết thảy đều được an ẩn khoái lạc vậy.

Này Tỳ-khưu! Nếu có kẻ trai lành và người gái tín, muốn dùng Đà-la-ni này cung kính, cúng dường, thọ trì, đọc tụng để dứt trừ tai nạn, tăng trưởng công đức, nên phải phát tâm chí thành quy y Tam Bảo, Ở trong một thất, bày biện các hương hoa cúng dường nơi Phật tượng, và ngày ấy cúng dường bảy vị Tăng, giữa đêm ở gia đình của mình thắp đèn đuốc sáng mà trì tụng Đà-la-ni này thì sẽ được giải thoát hết thảy tai nạn.

Này Tỳ-khưu! Nếu kẻ trai lành và người gái tín hay tác pháp như thế thì tự thân mình giải thoát. Tỳ-khưu! Nếu hai thất bày biện hương hoa ẩm thực cúng dường Phật, Pháp,Tăng sẽ được bội phần hơn trước, cha mẹ của người đó sẽ được giải thoát.

Này Tỳ-khưu! Nếu ba thất bày biện hương hoa cúng dường Phật Pháp Tăng như trên, thì hết thảy nam nữ quyến thuộc của người đó đồng được giải thoát. Này Tỳ-khưu! Nếu bốn thất như thế mà tu trì thì bội bội phần hơn trước, tinh tấn tu hành không giãi đãi, thì người đó ở đâu, tất cả người dân trong tụ lạc ấy đều được giải thoát.

Này Tỳ-khưu! Nói tóm lại cho đến bảy thất bội bội tăng thù thắng cúng dường Phật Pháp Tăng như trước, thì người ấy thu hoạch công đức, từ trên đến quốc vương cho đến nhân dân thảy đều giải thoát. Này Tỳ-khưu nên biết, nay ta nói với ông rằng, các ông trì Pháp này, hãy mau chóng truyền khiến cho lưu bố ở địa phương khác. Vì sao thế? Vì pháp này hay giúp chúng sinh tiêu trừ mọi thứ khổ não, tăng trưởng các công đức vậy.

Này Tỳ-khưu! Nếu lại có người được nghe biết sự lợi ích của pháp này mà lòng không cung kính, lại không vì người khác mà rộng tuyên nói, lại tự mình không chuyên đọc tụng, Tỳ-khưu nên biết người đó có cái lỗi giấu Pháp, ngang bằng với tội ngũ nghịch. Này Tỳ-khưu! Nếu có chúng sinh được nghe Pháp này, không trái với lời dạy của ta, cúi đầu tự quy y, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, cung kính. Lại vì người khác y Pháp tu phước, lại hay lưu bố rộng lợi ích chúng sinh, Tỳ-khưu, ta liền trông biết, trước hết ta vì người này qua đến núi Diệu Cao, thẳng tới chỗ thiên nhơn, A-tu-la, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, dùng tâm lợi ích hàng phục, khuyến dụ. Ta sẽ vì họ nói Pháp khiến cho họ được hoan hỉ, khiến nhóm thiên nhơn, A-tu-la… vv, dứt trừ lòng tranh đấu mà hãy cùng nhau cung kính. Tức là cõi Diêm-phù-đề liền dứt trừ tai nạn, không còn sinh khởi nữa. Các ác quỷ thần mỗi mỗi đều lẩn trốn, tất cả chúng sinh đều được an vui.”

Bấy giờ vị thần nhân kia nói việc đó rồi liền ẩn hình biến mất. Tỳ-khưu Truyền Giáo tuân phụng truyền nói.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dạy các đại chúng rằng: “Diệu Cát Tường Đồng Tử kia nơi đời quá khứ dùng sức phương tiện vì các chúng sinh nói Pháp như thế. Nay ta vì các ông lại tuyên nói. Các ông nên chuyên tâm thọ trì, đọc tụng. Vào đời vị lai, rộng tuyên lưu bố để tiêu trừ tai nạn, tăng ích phước lành.”

Bấy giờ A-nan-đà và các đại chúng nghe Phật nói xong thảy đều vui mừng, chí tâm thọ trì, lễ Phật mà trở về.

Kinh Tối Thượng Ý Đà-ra-ni
(Hết)


Sa-môn Thích Viên Đức dịch từ Hán ra Việt năm 1976
Vi tính: Nguyễn thị Diệu Minh và Nguyễn minh Hoàng

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn