10. Quốc Sư Huệ Trung

12/10/202111:35(Xem: 32437)
10. Quốc Sư Huệ Trung



109_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Hue Trung_new

Nam mô A Di Đà Phật


Kính bạch Sư Phụ,

Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học bài giảng về Thiền Sư Quốc Sư Huệ Trung .

Quốc Sư Huệ Trung từ lúc ra đời có tướng rất đẹp, làn da trắng, môi đỏ thắm, trước nhà Ngài có cái cầu. Từ lúc sanh ra đến 16 tuổi, Ngài chưa từng bước chân lên cầu .

Năm Ngài 16 tuổi, Ngài thấy một vị tăng đắp y vàng du hoá. Ngài bước lên cầu và xin đi theo vị Sư xuất gia.
Sư phụ gởi Ngài tới học với Lục Tổ.  Ngài đắc pháp và được Lục Tổ ấn chứng .

Sau khi được ấn chứng, Ngài lên núi ẩn tu trong một cốc, trong 40 năm chưa xuống núi . 
Vua Đức Tông (con của vua Đường Cao Tông ) thỉnh Ngài về kinh làm Quốc Sư Huệ Trung giảng pháp trong 16 năm .

Một hôm có vị Đại Nhĩ Tam Tạng đến từ Ấn độ, tự xưng với vua là có tha tâm Thông.
Vua cung thỉnh Quốc Sư Huệ Trung vào triều để trắc nghiệm về tha tâm thông của ngài Đại Nhỉ.

Ngài Đại Nhỉ đều nói ra được hết các ý nghĩ của Quốc Sư, duy chỉ có không thấy Tâm của Quốc Sư khi Ngài nhập định.
Tâm an trú trong đại định, thì không còn dấu vết nên dù co tha tâm Thông cũng không thấy được.

Con rất vui khi nghe được giai thoại đặc biệt này. Sư phụ có nhắc thêm Đức Thế Tôn dạy rằng trên đời có 4 chỗ tâm ta không thể
biết được, đó là:

1/Phật tâm
2/Thế giới tâm
3/Các tầng chứng đắc của thiền định
4/Quả chín mùi của nghiệp lực


Vua Đức Tông hoan hỉ khi biết Quốc Sư đạt tâm chánh định. Tâm không dính mắc bởi ngoại cảnh là Như Thị, là tự tại, là đạt đạo.

Vua Trần Nhân Tông cũng đã đạt được Tâm tự tại. Sư Phụ có ngâm bài thơ đạt đạo của Vua là "Cư Trần Lạc Đạo" nghe rất hay:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc san hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.


Kính mời xem tiếp


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/01/2013(Xem: 29344)
Bộ sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh gồm 80 đầu sách dạng ebook (sách điện tử) với 3 định dạng PDF, EPUB và MOBI.
30/11/2012(Xem: 19692)
Mùa hạ năm 1970 tại Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, chúng tôi được Thầy Đức Chơn và Thầy Phước Châu giao việc dán lại trang Bát-Kính-Pháp bị nhầm trong sách "Phật và Thánh Chúng" của Thầy Cao Hữu-Đính do Phật Học Viện Trung Phần ấn hành và in tại Nhà in Hoa Sen, NhaTrang. Sau khi công việc hoàn tất, chúng tôi được Quý Thầy cho mỗi người một quyển sách này, tuy rằng lúc ấy chưa phát hành. Lần đầu tiên trong đời, tôi bị tác động rất lớn, qua hình ảnh các Phật-tích ở Ấn Độ và những câu chuyện về Đức Phật và các đệ tử trong quyển sách.
01/11/2012(Xem: 21904)
Khi Phật đã thành đạo và thành lập giáo đoàn với năm vị đệ tử tì kheo đầu tiên tại vườn Nai, mọi người dân Ấn vẫn chưa biết gì về Phật. Đến lúc giáo đoàn đông dần, và các vị đệ tử đầu tiên đã có đầy đủ khả năng và đạo hạnh để tự mình đi hành hóa các nơi, thì người ta mới bắt đầu nghe nói đến “Phật"! Cho đến gần một năm sau, khi Phật thu phục được ba anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tiếp đến là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, và sau đó không lâu là Đại Ca Diếp, thì tiếng tăm của Phật mới thực sự vang khắp bốn phương, trong triều ngoài nội ai ai cũng biết!
10/08/2012(Xem: 15934)
Kinh Kim Cương lấy vô tướng làm tông, vô trụ làm thể, diệu hữu làm dụng. Từ khi Bồ-đề Đạt-ma đến từ Tây Trúc truyền trao ý chỉ kinh này khiến người đời ngộ lý đạo, thấy tính. Chỉ vì người đời không thấy tự tính nên lập pháp môn kiến tính, nếu thấy được bản thể chân như thì chẳng cần lập pháp môn. Kinh Kim Cương Bát-nhã này được vô số người đọc tụng, vô biên người xưng tán, có hơn tám trăm nhà luận giải. Sự tạo luận tùy theo cái thấy của mỗi người. Năng lực thấy đạo dầu không đồng, nhưng chân lý thì không hai.
26/07/2012(Xem: 14716)
Giáo pháp Thiền giống như một cánh cửa sổ. Trước nhất chúng ta mới nhìn vào chỉ thấy bề mặt phản ánh lờ mờ. Nhưng khi chúng ta tu hành thì khả năng nhìn thấy trở nên rõ ràng.
25/07/2012(Xem: 18173)
Phương Thức Thực Hành Hạnh Bồ Tát (Bodhicharyàvatàra) là Thi phẩm bằng tiếng Phạn của Tôn giả Tịch Thiên (Sàntideva) khi ngài tu học ở Học viện Phật giáo Nalandà, Ấn độ vào thế kỷ thứ bảy Tây lịch. Đây cũng là tác phẩm Tạng ngữ vô cùng quan trọng, áp dụng vào chương trình học tập cho các tu sĩ Tây Tạng.