Con người và Phật Pháp (sách PDF)

03/03/201808:55(Xem: 26960)
Con người và Phật Pháp (sách PDF)



Le khac thanh hoai (2)




Mục lục sách: 

- Lời đầu sách của HT Thích Giác Toàn

- Lời tựa của tác giả

* Phần Một: Con Người là... con chi ?

1/ Con người là …..con chi. Lê Khắc Thanh Hoài

2/ Một Duyên Hai Nợ Ba Tình. Lê Khắc Thanh Hoài

3/ Hạnh Phúc và Đau Khổ.Lê Khắc Thanh Hoài

4/ Cô Đơn.Lê Khắc Thanh Hoài

5/ Đời hay Đạo.Lê Khắc Thanh Hoài

* Phần hai: Phật Pháp: Con Đường Giải Thoát
6/  Ái_Lê Khắc Thanh Hoài

7/ Trong Vòng Tay Của Nhân Ngã_Lê Khắc Thanh Hoài

8/Thoát Vòng Tay Ngã_Lê Khắc Thanh Hoài

9/ Gánh Nặng Của Nghiệp_Lê Khắc Thanh Hoài

10/ Thoát Khổ.Lê Khắc Thanh Hoài

11/ Ngược Dòng Sinh Tử_Lê Khắc Thanh Hoài

12/ Tu Hành.Lê Khắc Thanh Hoài

13/ Thanh Tịnh Tâm Ý. Lê Khắc Thanh Hoài

14/ Đạo Giải Thoát_Lê Khắc Thanh Hoài

 


LỜI ĐẦU SÁCH

 

 

Vừa qua, bản thảo cuốn sách này, « Con Người và Phật Pháp » được tác giả Lê Khắc Thanh Hoài gởi đến cho tôi với lời đề nghị tôi có vài dòng đầu sách. Tôi có phần e ngại, vì có thể tôi không nắm rõ hết ý tưởng của tác giả và cũng có thể không nêu hết ý nghĩ của mình. Thế nhưng đối với một tác giả, một nữ cư sĩ Phật tử trí thức thuần thành, một nhà văn, một nhà thơ và là một nhạc sĩ mà tôi vẫn lưu tâm, cảm phục, cho nên tôi quên đi phần đắn đo mà mạnh dạn có mấy dòng, gọi là chút đạo tình và lòng trân trọng đối với chị Thanh Hoài.

 

Sách gồm 14 bài, nội dung có thể được phân định thành hai phần : một là về con người, tâm tư, đời sống vật chất và tinh thần; hai là nêu một số nhận định cơ bản về Phật Pháp để người đọc cùng chia sẻ, góp phần với tác giả trong việc tìm hiểu con đường tu tập nhằm giải thoát khỏi khổ đau.

 

Ba năm trước đây, cuốn truyện «  Chuyện Một Người Đàn Bà…Năm Con » của tác giả Lê  Khắc Thanh Hoài được xuất bản và được nhiều độc giả tán thưởng. Truyện phản ảnh những trải nghiệm về cuộc sống, về con người, về tình đời với những nghiêng ngả khóc cười, khổ đau của một phụ nữ có năm người con và đang tiến đến tuổi già. Chủ đích cuốn truyện là nhận rõ con đường giảm thiểu hay giải thoát khỏi khổ đau, ngay cả những khổ đau cùng cực tưởng như không thể xử lý được nhưng lại có thể được. Tập sách này,« Con Người và Phật Pháp » cũng xoay quanh nội dung, đề tài nói trên, nhưng được trình bày một cách tổng quát theo hình thức những bài viết riêng lẻ và có liên hệ chặt chẽ với nhau. Đây là những bài luận giảng về đời, về con người và về Phật Pháp mang ý nghĩa khuyến dụ mọi người tìm cách thoát khổ nhờ ánh sáng Phật giáo soi rọi. Những ý tưởng ở đây được trình bày gãy gọn, đơn giản mà sâu sắc, vững vàng, nhu hòa và đầy tình cảm.

 

Tôi nghĩ có lẽ nên minh hoạ thêm một chút về nội dung sách như đã nói trên, bằng cách chọn ngẫu nhiên một bài trong số 14 bài của cuốn sách. Tôi chọn bài đầu tiên «  Một Duyên Hai Nợ Ba Tình ».

 

Duyên, Nợ, Tình là duyên, nhân duyên, là hoàn cảnh, là nghiệp, nghiệp lực, nghiệp quả. Tác giả phân tích ý nghĩa của các từ ngữ, dẫn chứng thực tại về hoàn cảnh, thân phận con người. Duyên, Nợ, Tình là dục, là ái trong Tứ Đế và là ái trong Mười Hai Nhân Duyên. Duyên, Nợ, Tình là ái nên là khổ và phải chịu ảnh hưởng do sự vận hành của khổ. Tác giả nhấn mạnh chữ tình, tình ái trong quan hệ gia đình, giữa những tình nhân hay những người phối ngẫu qua suy nghĩ, thái độ và cư xử của con người. Tình là khổ, là bị thâm nhiễm bởi tam độc tham, sân, si thể hiện qua thân, khẩu, ý. Duyên, Nợ, Tình và cả nghiệp xấu đã gieo, quả xấu dẫn đến khổ đau đều có thể giảm trừ hay triệt tiêu bằng sự suy nghĩ đúng đắn, cân nhắc, bằng thái độ ứng xử, bằng tu tập theo giáo lý của Đức Phật. Đây là thái độ lạc quan và niềm tin Phật của tác giả rất đáng được tán thán, khen ngợi.

 

Tôi tâm đắc với thái độ lạc quan ấy và với những trải nghiệm, kiến thức Phật học cùng niềm tin Phật Pháp của tác giả. Và, khi đọc những dòng sách, tôi cảm nhận được sự cẩn thận, nhu hòa, từ tốn, tưởng như lời ca, tiếng nhạc trong tập nhạc «  Vui Sống Đạo » của chị đã được xuất bản vài năm trước đây.

 

 

                                                Pháp Viện Minh Đăng Quang, TPHCM

                                                              Cuối năm Ất Mùi 2015 

                                                          Sa Môn Thích Giác Toàn

Le khac thanh hoai (1)



Le khac thanh hoai (3)

  Lời Tựa Tác Giả

 

 

« Con Người và Phật Pháp » được in thành sách do gom góp những bài viết trước tiên hết là viết cho chính mình, kế đến là chia sẻ cùng bạn bè quen biết chung quanh và nay thì lại được đến tay các độc giả xa, gần không quen biết và rồi, đương nhiên là sẽ trở thành quen biết một khi cầm cuốn sách này trong tay.

Viết cho mình là điều cần thiết để làm sáng tỏ những ý nghĩ còn tiềm tàng trong đầu, kế đến, chia sẻ là điều không thể nào không làm một khi mà chính mình đã tìm thấy cái điều lợi ích qua sự viết lách đó.

 

Những suy tư về thân phận con người, một loài hữu tình mà chính mình cũng là một thực thể sống và trải nghiệm cái thân phận con người đó, lênh đênh trên dòng đời vạn nẻo. Thăng trầm biết mấy bận. Long đong biết mấy lần. Buồn vui sướng khổ biết bao phen. Ôi con người là…con chi ? Tình duyên, nợ nần, oan trái, nghiệp chướng là…cái chi chi ? mà khiến con người phải lận đận lao đao ?

 

Chỉ khi đã có được một cái nhìn khá rõ ràng về con người, về chính mình, một thực thể sống động của một cái thân và cái tâm cộng lại, làm thành cái tôi, hai chân đứng thẳng trên mặt đất này, bấy giờ mới thấy ra trước mắt con đường thực sự đem lại hạnh phúc cho chính mình, cho con người. Con đường đó là con đường Đạo. Là Đạo Phật. Là Phật Pháp.

 

Phần thứ hai của cuốn sách là những điều chia sẻ về Phật Pháp để mọi người cùng hưởng cùng vui. Mong rằng hạnh phúc, an lạc sẽ đến cùng với ai tìm đến Phật Pháp như một giải đáp, một câu trả lời cho những ưu tư, băn khoăn, trăn trở của chính mình, của đời mình.

 

 

                                                Lê Khắc Thanh Hoài

                                  Paris những ngày đầu năm Bính Thân 



Mục lục sách: 

- Lời đầu sách của HT Thích Giác Toàn

- Lời tựa của tác giả

* Phần Một: Con Người là... con chi ?

1/ Con người là …..con chi. Lê Khắc Thanh Hoài

2/ Một Duyên Hai Nợ Ba Tình. Lê Khắc Thanh Hoài

3/ Hạnh Phúc và Đau Khổ.Lê Khắc Thanh Hoài

4/ Cô Đơn.Lê Khắc Thanh Hoài

5/ Đời hay Đạo.Lê Khắc Thanh Hoài

* Phần hai: Phật Pháp: Con Đường Giải Thoát
6/  Ái_Lê Khắc Thanh Hoài

7/ Trong Vòng Tay Của Nhân Ngã_Lê Khắc Thanh Hoài

8/Thoát Vòng Tay Ngã_Lê Khắc Thanh Hoài

9/ Gánh Nặng Của Nghiệp_Lê Khắc Thanh Hoài

10/ Thoát Khổ.Lê Khắc Thanh Hoài

11/ Ngược Dòng Sinh Tử_Lê Khắc Thanh Hoài

12/ Tu Hành.Lê Khắc Thanh Hoài

13/ Thanh Tịnh Tâm Ý. Lê Khắc Thanh Hoài

14/ Đạo Giải Thoát_Lê Khắc Thanh Hoài

 



***

Chân thành cảm ơn tác giả, Lê Khắc Thanh Hoài,
đã gởi tặng trang nhà phiên bản điện tử tập sách quý này.
Nam Mô A Di Đà Phật
TK. Thích Nguyên Tạng
(3-2018)


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/12/2016(Xem: 14827)
Sau nhiều năm nghiên cứu Kinh Dịch bị nhận lầm là của Trung Hoa, tôi phát hiện Trung Thiên Đồ được ẩn dấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, mà đồ này đặc biệt lại là chìa khóa để viết Kinh Dịch, nếu giảng Kinh Dịch theo phương vị Hậu Thiên Đồ như cách làm của các Dịch học gia Trung Quốc từ cổ đại đến hiện đại thì sẽ khiến cho Quái từ, Hào từ trong kinh văn trở nên khó hiểu, rời rạc, đứt đoạn. Ngược lại nếu giảng theo phương vị Trung Thiên Đồ thì câu chữ hóa thành sáng sủa, mạch lạc, mỗi quẻ là một bản văn hoàn chỉnh, liên ý với nhau. Trung Thiên Đồ chính là chứng từ duy nhất để chứng minh Kinh Dịch là di sản sáng tạo của tổ tiên người Việt Nam.
03/12/2016(Xem: 5953)
Tản mạn về năm Dậu - *rơ(ka) - gà (phần 14A) Nguyễn Cung Thông Phần này viết về năm con gà (Dậu), tiếp theo1 phần 14 "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - Dậu - *rơ(ga) - gà (phần 14)", chú trọng đến các dạng khác nhau của danh từ gà cũng như tại sao loài gia cầm này giữ một vị trí đặc biệt trong 12 con giáp Á Châu. Các âm thanh của gia cầm rất quen thuộc với con người - từ ngàn năm qua - là tiếng chó sủa, tiếng gà gáy và mèo kêu meo meo ... Chỉ có tiếng gà gáy đã ghi lại nhiều dấu ấn trong văn hóa và ngôn ngữ vì có khả năng liên h
19/11/2016(Xem: 8329)
Nhưng việc ra mắt sách chỉ là cái cớ, bởi bản thân dòng thông tin ngắn gọn rằng nhà sư Thích Phước An từ đồi Trại Thủy (Nha Trang) vào Sài Gòn đã có một sức quyến rũ đặc biệt đối với bạn bè, người đồng đạo và giới quan tâm.
16/11/2016(Xem: 23245)
Mục đích của giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các hiện tượng thiên nhiên và đời sống xã hội, được miêu tả, bằng nhận thức, lý giải và thái độ sống động qua những lời dạy của Đức Phật. Bài tham dự có thể trình bày dưới nhiều hình thức như tác phẩm nghệ thuật, truyện ký, truyện ngắn, tạp bút, thơ… Người viết hoàn toàn tự do chọn đề tài, miễn có liên quan đến tư tưởng Đạo Phật và nội dung có thể chuyển tải được giáo lý thâm sâu, vi diệu mà rất gần gũi, giản dị của đức Phật trong đời sống hàng ngày.
19/10/2016(Xem: 27532)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
07/10/2016(Xem: 17537)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
27/09/2016(Xem: 9597)
Không bíết từ bao giờ những chú chim đã quây quần về đây càng ngày càng đông, nhảy nhót ca vang trên cành cây bên cạnh nhà mỗi ngày khi mặt trời chưa ló dạng. Nằm nướng vào những ngày cuối tuần, hay những hôm trời mưa rỉ rã, lúc trời đất giao mùa nghe chúng riú rít gọi nhau đi tìm mồi mình cũng thấy vui vui.
22/09/2016(Xem: 45802)
Đã có nhiều người nói và viết về nhạc sĩ Hằng Vang . Phần nhiều là những bài viết trong sáng, chân thực. Thiết tưởng không cần bàn cãi, bổ khuyết . Viết về anh, nhạc sĩ Hằng Vang, tôi chỉ muốn phác một tiền đề tổng hợp cốt tủy tinh hoa tư tưởng, sự nghiệp sáng tác của anh ; rằng : Anh là một nhạc sĩ viết rất nhiều ca khúc cho nền âm nhạc Phật Giáo Việt Nam, anh là một thành phần chủ đạo trong dòng chảy âm nhạc nầy ngay từ khi khởi nghiệp sáng tác thời phong trào chấn hưng Phật giáo, xuyên suốt qua nhiều biến động lịch sử trọng đại của PGVN cho đến tận bây giờ, anh vẫn miệt mài, bền bĩ cảm xúc, sáng tạo trong dòng chảy suối nguồn từ bi trí tuệ đạo Phật.
29/08/2016(Xem: 5629)
Cứ thế, một ngày vụt qua, lững thững ra đi không lời ước hẹn, cứ vậy, mịt mùng trao đổi, thân phận dòng đời, chờ chực vây quanh, chạy quanh lối mộng. Chiều xuống, nỗi buồn miên man gởi bay theo gió, trên kia cơn nắng chói chang của mùa hạ còn vương lại đâu đây, lặng nhìn núi đồi hoa lá, từng ấy trong lòng, một cõi mù khơi. Những giọt mồ hôi uể oải, từng nỗi đớn đau lũ lượt đọng lại, từng cơn hiu hắt thấm vào hồn, bây giờ trở thành những đơm bông kết nụ, những đắng cay ngọt bùi. Đâu đó, một chút hương lạ, làn gió bất chợt nhẹ lay, điểm tô không gian lắng đọng phiêu bồng, những thinh âm cao vút tận trời không, những hằng sa bất tuyệt chốn không cùng.
21/08/2016(Xem: 6258)
So sánh cách đọc Hán Việt (HV) với các cách đọc từ vận thư ("chính thống") của Trung Quốc (TQ) cho ta nhiều kết quả thú vị. Có những trường hợp khác biệt đã xẩy ra và có thể do nhiều động lực khác nhau. Chính những khác biệt này là dữ kiện cần thiết để xem lại hệ thống ngữ âm Hán Việt và tiếng Việt để thêm phần chính xác. Bài viết nhỏ này chú trọng đến cách đọc tên nhà sư nổi tiếng của TQ, Huyền1 Trang (khoảng 602–664, viết tắt trong bài này là HT) 玄奘 hay Tam Tạng, có ảnh hưởng không nhỏ cho Phật Giáo TQ, Việt Nam, Nhật và Hàn Quốc. Sư HT đã dịch nhiều bộ kinh và luận Phật giáo từ tiếng Phạn qua tiếng Hán, đưa Phật giáo gần đến nguồn Ấn Độ nguyên thủy hơn so với nhiều kinh dịch sai sót nhưng rất phổ thông vào thời trước (và cho đến ngay cả bây giờ).