Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào?

07/11/202508:09(Xem: 1782)
Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào?

NIỀM TIN VÀO GIÁO LÝ TỊNH ĐỘ PHÁT SINH NHƯ THẾ NÀO?

Nguyên tác: How Does Faith in the Pure Land Teachings Arise?
Tác giả: Alan Kwan
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào



Niềm tin vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà

Đại Trí Độ Luận nói: “Giáo pháp của Đức Phật bao la như đại dương, nên chỉ có thể tiếp cận thông qua niềm tin.” Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành Phật pháp.

Kinh Hoa Nghiêm tuyên bố: “Niềm tin là nguồn gốc và căn nguyên của mọi công đức và thiện hạnh, như một bào thai từ đó mọc lên mọi căn lành khác nhau.”

Trong Phật giáo Tịnh Độ, niềm tin đặc biệt quan trọng, vì nó là yếu tố đầu tiên trong Ba Tài Lực (Sambhara-tư lương): niềm tin, nguyện vọng và hành trì (tín-nguyện-hành). Ba yếu tố này thường được biết đến như là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Rõ ràng, niềm tin chính là bước đầu tiên để bước vào cửa ngôi Cực Lạc.

Niềm tin vào giáo pháp Phật—tin vào Đạo lý Nhân Quả, tái sinh trong Lục đạo, tiêu diệt Tam độc thông qua việc tu tập Ba học (giới,định,tuệ), Bồ-đề tâm và Sáu Ba-la-mật, cùng những yếu tố khác—không thể mang lợi ích cho người tu nếu niềm tin đó chỉ dừng lại ở mức tín ngưỡng lý trí mà không đi đôi với hành trì chuyên cần.
Chẳng hạn, ngay cả khi một người tin vào khái niệm tái sinh, họ cũng không thể thoát khỏi luân hồi nếu không siêng năng thực hành giáo pháp Phật để xóa bỏ hai chướng ngại: chướng ngại kiến giải và chướng ngại phiền não, cũng như tiêu trừ Tam độc: tham, sân và si.

Tuy nhiên, trong đoạn về việc thực hiện lời nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, có viết:
“Khi nghe danh hiệu Ngài, người ta vui mừng mà tin theo [danh hiệu ấy].”

Tại sao một người lại vui mừng khi nghe danh hiệu A Di Đà? Bởi vì người ấy hưởng lợi ích từ việc niệm danh hiệu A Di Đà và từ niềm tin vào danh hiệu Ngài nảy sinh ngay khi nghe nó. Danh hiệu linh thiêng này mang hình thức ánh sáng bao bọc, và giúp người ấy chắc chắn tái sinh về Cực Lạc.

Điều này có nghĩa là niềm tin của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà, không phải từ những cảm xúc mơ hồ cá nhân, tâm thức mê lầm, hay nghiệp chướng ô nhiễm của chính mình.

Ý nghĩa của chấp trì hay “nắm giữ danh hiệu” trong Kinh A Di Đà

A Di Đà vô hình và vượt ngoài khả năng nhận thức của con người. Mắt chúng ta không thấy Ngài, tai chúng ta không nghe Ngài, tay chúng ta không chạm được Ngài — nhưng chúng ta có thể tin vào Ngài, tiếp nhận danh hiệu Ngài và chấp nhận sự cứu độ của Ngài trong tâm.

Vì vậy, ý nghĩa thật sự của “chắc giữ danh hiệu khi nghe về Phật A Di Đà”, như được ghi trong Kinh A Di Đà, là tin tưởng và tiếp nhận sự cứu độ của A Di Đà.

Phật A Di Đà đã lập nguyện trong địa thứ nhân duyên (các giai đoạn Bồ-tát trước khi thành Phật) để cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương.

Lòng từ bi chủ động, bình đẳng và không phân biệt của Ngài chạm đến sâu thẳm trái tim chúng ta. Nhờ vào việc thực hiện các Nguyện của Ngài, những nghi ngờ của chúng ta biến thành niềm tin vào sự cứu độ thông qua danh hiệu, và chúng ta tiếp nhận lòng từ bi của A Di Đà.

Đây chính là ý nghĩa của việc “chấp
trì danh hiệu”.

Phật giáo Tịnh Độ là một giáo pháp tha lực cứu độ, chứ không phải là giáo pháp tự lực tu tập.

Trong bài viết trước, tôi đã viết:
*“Việc tái sinh chỉ đạt được nhờ chỉ thực hành niệm danh hiệu A Di Đà từ phía chúng ta, vì điều đó *hoàn toàn dựa vào hoạt động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha — từ phía A Di Đà!”

Tôi cũng viết:
“Theo Nguyện Cơ Bản của A Di Đà, tất cả những người nguyện sinh đều chỉ cần niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất, và toàn bộ vấn đề tái sinh sẽ được Phật A Di Đà lo liệu. Sự cứu độ của A Di Đà, dựa trên Nguyện Cơ Bản của Ngài, là bình đẳng, vô điều kiện và chủ động.”

Những điểm này là cốt yếu để hiểu lý lẽ của Phật giáo Tịnh Độ.

Niềm tin cá nhân của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ không phải là nguyên nhân dẫn đến tái sinh

Nhiều người tu Tịnh Độ có thể còn nghi ngờ về giáo pháp này và cho rằng Ba Tài Lực — niềm tin, nguyện vọng và hành trì — đều là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Vì vậy, không thích hợp khi nói rằng sự cứu độ thông qua Nguyện Cơ Bản của A Di Đà là “vô điều kiện”.

Họ cũng có thể lập luận rằng một người phải chủ động tin tưởng (niềm tin) và khát nguyện được tái sinh (nguyện vọng) thì mới có thể tái sinh, nên sự cứu độ của A Di Đà không hoàn toàn chủ động 100%. Hơn nữa, họ cho rằng ngoài việc niệm danh hiệu A Di Đà, niềm tin của người tu cần sâu sắc và nguyện vọng cần tha thiết để có thể chắc chắn tái sinh. Vì vậy, mối quan hệ này có phần tương hỗ chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào A Di Đà.

Một số người thậm chí còn cho rằng chỉ một niệm tin tưởng là nguyên nhân chính dẫn đến tái sinh, và danh hiệu A Di Đà chỉ là điều kiện bổ trợ. Điều này có vẻ hợp lý đối với nhiều người tu Phật, nhưng sự thật sâu xa và thâm diệu hơn bất cứ lập luận nào trong số này.

Một lần nữa, điểm này cần được nhấn mạnh: trong Phật giáo Tịnh Độ nguyên thủy, việc tái sinh chỉ đạt được nhờ danh hiệu A Di Đà. Như chúng ta đã tìm hiểu trong bài viết trước, niệm danh hiệu A Di Đà là một hành động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha!

Nếu chúng ta luôn niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất khi đi, đứng, ngồi và nằm, không bỏ danh hiệu ấy, chúng ta đã được bao bọc trong Nguyện thứ 18, bất kể thời gian hành trì là bao lâu.

Niệm danh hiệu A Di Đà là nghiệp (hành động) quyết định để chắc chắn tái sinh, như Thiện Đạo đại sư đã ghi nhận, nên tái sinh là kết quả của công đức và thiện hạnh của danh hiệu A Di Đà.

Đối với người niệm danh hiệu, bất kể người ấy hiểu hay không, tin hay không, khát nguyện hay không, kết quả chức năng của tái sinh vốn đã nằm sẵn trong danh hiệu A Di Đà. Mặc dù người ấy không biết và không thấy, vẫn hưởng được kết quả tương tự như người biết và thấy.

Đây chính là kết quả chức năng của việc niệm danh hiệu; đây cũng là tự tánh của danh hiệu.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, độ sâu của niềm tin vào sự cứu độ của A Di Đà được đo bằng sự chuyên nhất trong việc niệm danh hiệu A Di Đà.

Việc tái sinh của tất cả những người nguyện sinh sẽ được đảm bảo miễn là họ niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất cho đến cuối đời. Họ sẽ không bị quấy nhiễu hay gián đoạn bởi bất cứ điều gì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vì họ luôn được A Di Đà bao bọc và bảo vệ.

Thiện Đạo đại sư viết trong Ca ngợi nghi lễ tái sinh:
“Đức A Di Đà cao quý đã lập một nguyện vô cùng trang nghiêm. Ngài giảng dạy và cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng của Ngài. Điều này giúp họ có niềm tin, nguyện vọng và hành trì trong việc niệm danh hiệu A Di Đà. Ai niệm đến cuối đời, hay chỉ mười lần, hoặc chỉ một lần, cũng có thể dễ dàng tái sinh nhờ sức mạnh của Nguyện Cơ Bản của Ngài.”

Trong tuyên bố trên, điều thú vị là danh hiệu A Di Đà giúp chúng sinh có niềm tin vào sự cứu độ của Ngài và khát nguyện tái sinh về Cực Lạc.

Điều này ngụ ý rằng chính Phật A Di Đà, chứ không phải người tu Tịnh Độ, giữ vai trò chủ động và khởi xướng, thông qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng, để cung cấp tất cả Ba Tài Lực cần thiết cho việc tái sinh.

Điều này một lần nữa khẳng định rằng niềm tin của chúng ta vào sự cứu độ của A Di Đà phát sinh từ danh hiệu Ngài, chứ không phải từ tâm mê lầm của chính chúng ta.

https://www.buddhistdoor.net/features/how-does-faith-in-the-pure-land-teachings-arise/


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2025(Xem: 2709)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4150)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3179)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2383)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2697)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3564)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3451)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3516)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 2795)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển
27/10/2025(Xem: 2349)
Tam Chướng là ba thứ chướng ngại gặp thường. Phiền não, Nghiệp, Báo Chướng cản đường ta Tu. Ngăn ngại bước tiến tu Thánh đạo nữa ư! Cùng Thiện căn Gia hạnh từng Tu trước rồi.