Bước đầu tu tập

28/01/201417:36(Xem: 10596)
Bước đầu tu tập

hoa_sen (2)
BƯỚC ĐẦU TU TẬP

Trong Phật giáo cũng như bất cứ tôn giáo nào, một người bước vào ngưỡng cửa tín ngưỡng, cũng phải tìm hiểu về tôn giáo mình đang theo, ít ra nắm vững giáo lý của một tôn giáo do minh muốn chọn. Đó là nguyên tắc, nhưng phần lớn người đến với đạo Phật, họ đến bằng lòng sùng tín hơn là học hỏi tìm hiểu, vì thế, không tránh khỏi mê tín qua việc cầu khấn, đốt vàng mã, xin xăm bói quẻ và vô số hình thái mà giáo lý nhà Phật không hề khuyến khích.

Ở đây, ta đề cập đến những tâm hồn muốn đến với Phật giáo bằng trí tuệ để tiến hóa tâm linh chứ không vì lợi dưỡng trong cuộc sống. Qua giai đoạn khá dài cho việc "bước đầu học Phật" để nắm vững giáo lý (không phải là tín điều như các tôn giáo khác); người tín đồ bắt đầu bước vào lãnh vực tu tập, có nghĩa là chuẩn bị cho một hành trình giải thoát tâm linh mà hệ quả kiếp người chập chùng khổ đau do nghiệp nhân quá khứ đem đến một bài học trong cỏi luân hồi.

Thật vậy, tôn giáo không phải là vật trang trí cho tín đồ, mà tín đồ cũng không phải là nhân tố biểu trưng tầm vóc cho một tôn giáo để xác định ưu thế tôn giáo trong xã hội. Ý thức kiếp nhân sinh là Vô Thường, Giả tạo, Khổ đau, nên người đến với Phật giáo là người tự tìm cho mình con đường thoát khổ, tự mình thoát khổ ngay kiếp sống hiện tại mà không cậy vào ngoại lực Thần linh để trốn trách nhiệm nhân quả tích tụ trong nhiều đời do mình đã tạo.

Tứ Thánh Đế là giáo lý căn bản của Phật giáo giúp cho hành giả tìm được mấu chốt của vấn đề, sau khi nắm được mấu chốt, các pháp hành như Bát Chánh Đạo, lục độ, Tứ nhiếp pháp..,là những nấc thang tự chỉnh đốn thân khẩu ý thường nhật. Tuy nhiên, đó là những nấc thang tiệm tiến nếu tự thân không đi sâu vào pháp hành tâm linh thì sự hoán chuyển xấu thành tốt, bất thiện thành thuần thiện chỉ là lộ đồ giáo dục hành thiện.

Cố gắng bỏ xấu chọn tốt là công đoạn gỡ rối cho một cuộn chỉ, cái rối của nghiệp lực bao phủ kiếp nhân sinh mà ngổi gỡ từng manh mối thì e rằng trọn kiếp chưa đủ để giúp ta giải thoát khổ đau mà chỉ có khả năng giúp ta thành con người hoàn thiện giữa những cái bất thiện. Chính vì vậy, các tông phái Phật giáo đều có pháp hành chuyên biệt. Phật giáo Nam Tông thông dụng pháp Vipassana, Phật giáo Kim Cang thừa, tuy dùng nghi thức ngoại tướng để dẫn sâu vào tự tánh, Kim cương thừa có bốn thứ lớp Tantra: Kriya Tantra, Carya Tantra, Yoga Tantra và Annutarayoga Tantra. cũng không thiếu các chân sư lấy vô tướng, tịch tĩnh làm bạn song hành. Ta nghe Lạt ma Dilgo Khyentse Rinpochenói:

AN TRÚ NƠI CÔ TỊCH
LÀ THỰC HÀNH CỦA MỘT BỒ TÁT

Khi từ bỏ những nơi chốn không thuận lợi, những cảm xúc hỗn loạn dần dần phai nhạt;

Khi không có những phóng dật, các hoạt động tích cực phát triển một cách tự nhiên;

Khi sự tỉnh giác trở nên trong trẻo hơn, niềm tin nơi Giáo Pháp tăng trưởng –

An trú nơi cô tịch là thực hành của một Bồ Tát.

Khi bạn sống ở một nơi cô tịch, những cảm xúc tiêu cực của bạn dần dần giảm bớt, sự tự chủ và tiết chế của bạn tăng trưởng.

Chính Gyalse Thogme đã nói:

Ở một nơi cô tịch,

Không có kẻ thù để đánh bại,

Không có người thân để bảo vệ,

Không có người trên để tôn kính,

Không có thuộc hạ để chăm nom.

Vì thế, ngoài việc điều phục tâm mình,

Bạn sẽ phải làm điều gì khác ở đó, hỡi những người trì tụng Mani?1

Phật giáo Bắc truyền còn nhiều pháp hành tùy mỗi thời đại, mỗi quốc độ căn cơ khác nhau mà chư tổ chế tác ra pháp hành khác nhau, mỗi pháp hành là một phương tiện giúp hành giả tiến sâu vào thế giới tâm linh, vì thế, pháp hành không phải là cứu cánh tuyệt đối. Chính vì thế một pháp hành không thể thích ứng cho mọi đối tượng, mỗi đối tượng tự mình tìm hiểu một pháp môn thích hợp với căn cơ của mình mới đưa đến kết quả nhất định.
Bước đầu chọn pháp, biết thế nào là một pháp thích hợp căn tánh của đương cơ? Cũng như dùng thuốc, nếu thuốc Tây, trong ba ngày biết được hiệu quả của thuốc, thuốc Bắc từ một tuần trở lên; pháp hành từ ba tháng mà cảm thấy có an lạc, có tiến bộ qua nhân cách và trí tuệ thì đó là pháp tương thích với đương cơ. Một pháp kiên trì suốt thời gian dài mà không thấy thay đổi thân tâm thì nên chuyển hướng. Đừng nên bắt chước số đông đang hành một pháp mà hãy chọn một pháp để tâm hành được tiến bộ. Vô lượng pháp môn tu tương thích với vô lượng căn cơ của hành giả.

Điều quan trọng là tín giả phải có lòng khát khao cầu pháp và chí hướng giải thoát.Không chỉ có một pháp môn thích hợp mà còn cần có một chân sư hoàn hảo, chỉ có chân sư hoàn hảo mới nắm bắt được nghiệp căn của đệ tử mà truyền năng lượng tuệ giác trong quá trình đệ tử hành trì. Năng lượng tâm linh của một vị minh sư giúp đỡ đệ tử rất nhiều; thứ nhất là năng lượng dương sẽ bạt nghiệp âm của đệ tử để tín giả đủ công năng hành trì đến khi đắc pháp, bấy giờ đệ tử mới đủ năng lực tự chuyển hóa nghiệp lực. Dĩ nhiên tính miên mật cho việc hành trì là điều tối cần. Bạn sẽ hỏi: làm sao tìm được một minh sư hoàn hảo, hay biết ai là minh sư hoàn hảo và xác định thế nào về sự hoàn hảo của một chân sư?

Thực ra tín giả khó mà tìm một chân sư hoàn hảo, chỉ có chân sư hoàn hảo tìm đến khi tâm thành của tín giả đạt đến một mức độ cảm ứng vô hình. Như vậy điều kiện tiên quyết cần phải có cho một tín giả đặt chân lên ngưỡng cửa tâm linh:

1/ hiểu đúng giá trị con đường tâm linh chứ không phải hình thức tôn giáo

2/ lòng khát khao chân thành tìm đường giải thoát

3/ chọn một pháp hành tương thích với căn cơ

4/ tâm luôn trong tình trạng xả ly và nuôi dưỡng tâm từ cao độ

5/ thể hiện tự tánh Tam bảo của tự thân.

6/ hiểu và nắm vững giáo lý Phật giáo để tránh sự lầm lạc trong quá trình hành trì.

7/ không nuôi thân bằng mạng sống của các động vật.

Như gạo đun đủ lửa, nước, thì tự khắc cơm sẽ chín, nghĩa là tự thân chuẩn bị đủ những tiêu chuẩn tâm linh thì minh sư hoàn hảo là một năng lượng tuệ giác sẽ đến với tín giả một cách tình cờ thông qua một hình thức nào đó.Đó là bước sơ khởi đi vào lãnh vực tu tập tâm linh. Trên con đường thẩm thấu tâm linh, hành giả còn phải kinh qua lắm chướng duyên, bế tắt do nghiệp thức lạc dẫn, nhưng bên cạnh hành giả, luôn có lực lượng minh sư bảo hộ như sự bảo hộ của chư Thần Kim Cang dành cho các hành giả Kim Cang Thừa.

MINH MẪN 27/01/2014

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2025(Xem: 2524)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 2830)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4289)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3503)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2445)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2800)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3692)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3584)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3649)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 3104)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển