Bảy bước chân thánh

20/03/201216:41(Xem: 10052)
Bảy bước chân thánh
BẢY BƯỚC CHÂN THÁNH
Ngẫu Hồ

phatdansinh7hoasen-contentPhật tử chúng ta đến chùa thường hay bắt gặp hình cảnh một vị tiểu Phật cao khoảng 3 bộ, bụ bẫm, xinh đẹp, quấn ngang người một tấm vải từ vai xuống, giống như cách phục sức của một vị tăng, đứng trên một hoa sen đầu tiên và trước mặt là 6 đóa hoa sen giống như nhau, ngón trỏ tay phải chỉ lên trời, ngón trỏ tay trái chỉ xuống đất. Được biết có chùa đặt vị tiểu Phật ở hoa sen thứ bảy, sau lưng là 6 đóa hoa sen và cũng cùng một thế chỉ trời và đất như vậy.

Hình cảnh này bắt nguồn từ câu chuyện trong kho tàng văn học của Phật Giáo rằng, bà Hoàng Hậu Maya, vợ vua Tịnh Phạn, vào thời gian có mang Đức Phật ở những ngày sau cùng, một hôm đi dạo chơi với các tì nữ hầu cận trong vườn Thượng Uyển, thì bỗng trở dạ và sanh ngài luôn tại đây. Lúc vừa lọt qua lòng mẹ, thì ngài đứng luôn dạy, nhận khăn vải từ một tì nữ, tự quấn ngang người, rồi bước lên một hoa sen hiện ra từ mặt đất, rồi bước tới bông sen thứ hai cũng hiện ra ngay sau đó từ mặt đất, rồi bông sen thứ ba, cho đến bông sen thứ bảy thì ngừng lại và một ngón trỏ của bàn tay phải chỉ lên trời và ngón trỏ của bàn tay trái chỉ xuống đất, miệng thì thốt ra câu:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quý”

Đây là một câu chuyện gây tranh cãi cho phần lớn Phật tử tri thức, vì nó hoàn toàn mang tính huyền hoặc và nhất là nó mâu thuẫn với lịch sử của Phật Giáo. Lịch sử như chúng ta biết là ngài lúc 5 tuổi theo cha ra đồng để dự lễ Hạ Điền mà Hoàng Gia tổ chức cho nông dân vui chơi đầu mùa xuân, trước khi nông dân gieo mạ, lúc mọi người đang vui chơi, thì ngài tìm một bóng cây và ngồi theo thế thiền định. Ngài lớn lên trong sự quan tâm và giáo dục đặc biệt của vua cha và mẹ kế và cũng là dì ruột của mình, năm 19 tuổi thì lập gia đình, có một con trai tên là Aluha, năm 29 tuổi thì xuất gia, sau 6 năm trời tu khổ hạnh tìm chân lý, nhưng không thỏa ước nguyện, ngài đã quyết tâm tu thiền và ngài đã thành đạo năm ngài 35 tuổi, đến năm 80 tuổi thì ngài chấm dứt việc giáo hóa chúng sinh. Ngài truyền trao giáo đoàn lại cho vị cao tuổi nhất của ngài là ngài Đại Ca Diếp cùng với pháp tối thượng, rồi sau đó nhập diệt.

phat-dansinh-0012-thumbnailCâu chuyện lịch sử của Phật Thích Ca vừa mới tóm lược như trên và câu chuyện 7 bước với lời tuyên bố mang tính huyền thoại của ngài lúc vừa mới lọt lòng mẹ, nếu để đứng cạnh nhau, thì thật là mâu thuẫn, đến độ mang tính loại trừ, nghĩa là, nếu có chuyện này thì không thể có chuyện kia. Vì rõ ràng nếu ta chỉ tìm ý nghĩa ngay trên mặt chữ, thì câu chuyện bảy bước và lời tuyên bố đầy cao ngạo của một trẻ sơ sinh chỉ là chuyện hoang đường, mờ ảo, tuyệt nhiên không thể là một câu chuyện phát tích của một vị thày của toàn thể tri thức lúc đó và ngay cả bây giờ nữa. Phải chăng đây là một biểu tượng cho một thâm sâu vi diệu nào đó? Vậy ta thử chịu khó suy tư và đào sâu vào câu chuyện bảy bước này xem sao:

Này nhé, một vị tiểu Phật vừa mới ra đời cũng đồng nghĩa với một người xưa nay chưa từng tiếp xúc với Phật pháp, mà nay vì một duyên tình cờ nào đó, lại được gặp Phật pháp, và thấy rằng Phật pháp quả thật là có thể lý giải được những nghi ngờ, khúc mắc của ta trước đây, và ngay tại điểm này ta bùng vỡ một cái thấy, ý nghĩa rõ ràng, sau đó, ta tự nhủ rằng, từ nay sẽ xem Phật pháp là kim chỉ nam, là phương tiện thù thắng, để giải đáp cho ta những vấn đề thâm sâu hơn, thì cũng ngay tại điểm này, ta chính là một vị tiểu Phật vừa mới ra đời.

Nhưng là một vị tiểu Phật ra đời, không có nghĩa là ta thành quả vị Phật ngay đâu, mà ta phải học, và tu những Phật pháp từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó và sau cùng, ta phải đứng và bước đi được trên 7 hoa sen. Đây chính là cái thâm sâu của câu chuyện 7 bước hoa sen.

Phải chăng 7 hoa sen tượng trưng cho 7 thức sau khi đã được thanh tịnh hóa, đó là Tỉ, Thiệt, Nhãn, Nhĩ, Thân, Ý và Mạt Na Thức. Tổng cộng là 7 thức = 7 hoa sen.

Phải chăng việc đứng và đi trên 7 hoa sen là hoàn toàn làm chủ được các thức tình này. Mà khi thanh tịnh và làm chủ được 7 thức tình này, thì thức thứ 8 là A Lại Da Thức (Alaya) cũng chính là chân tâm, cũng chính là chân ngã thức, sẽ được hoàn toàn giải thoát và lúc được giải thoát rồi, thì chân ngã thức mới được gọi là tôn quý. Cho nên mới nói: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, tức là:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta (ngã) là tôn quý”

Ngã đây chính là chân ngã, là một trong 4 ý nghĩa của lý giải thoát là: Thường, Lạc, Ngãvà Tịnh.

Xin được giải thích về cái ngã trong lý vô ngã của Đức Thích Ca. Khi có người hỏi tại sao đạo Phật chủ trương vô ngã, mà trong đây lại nói là có một cái ngã giải thoát (tức là có cái ta giải thoát), sao lại có sự mâu thuẫn này? Thưa đúng vậy, cái ngã đã được giải thoát chính là cái ngã vô ngã.

Sự giải thoát có thể dụ cho một sự sáng không bờ mé, ngăn ngại và cái ngã đã được giải thoát (vô ngã) dụ cho một cái sáng khác ở trong cái sáng không bờ mé đó, sẽ chẳng ai thấy cái sáng của ta (giải thoát, vô ngã) mà chính ta cũng không thấy cái sáng này (vô ngã), nhưng ta luôn luôn biết rằng, ta có sáng (có giải thoát=vô ngã).

Vậy câu chuyện 7 bước của một vị tiểu Phật vừa mới ra đời và câu nói “Trên trời, dưới đất, chỉ ta là tôn quý” chỉ là một hình cảnh biểu tượng, gói ghém trọn vẹn đạo lý giải thoát của Đức Thích Ca Mâu Ni.

Trên đây, xin đóng góp một vài lý giải thô thiển, nếu chư vị Phật tử thấy hợp ý, thì xin được phổ biến, giải thích cho những người khác khi được hỏi tới 7 bước chân Phật để cùng nhau tin tưởng chánh pháp của Đức Thích Ca.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật tử Ngẫu Hồ.

Xem thêm:

HUYỀN THOẠI ĐẢN SINH - Thích nữ Tịnh Quang
ĐẾN ĐỂ THẤY, THẤY ĐỂ TIN: LÂM TỲ NI NƠI PHẬT ĐẢN SINH - Tâm Diệu
NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN BÀN VỀ TÍCH ĐẢN SANH- Tâm Diệu

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2025(Xem: 2611)
Có những ngày không chỉ được ghi lại bằng hình ảnh hay lời nói, mà bằng chính sự rung động trong tim. Ngày truyền thống của Gia Đình Phật Tử Miền Bắc California năm nay là một ngày như thế – một ngày Chủ nhật tháng Mười, trời trong xanh lạ thường, như lòng người đang mở ra để đón nhận ánh nắng của ân tình và đạo nghĩa.
31/10/2025(Xem: 2922)
(1):Tôi làm thơ chuyên về những Điều Răn Dạy. Trước giúp mình: cố học lấy Điều Hay. Sau, Mong Người Thích: hãy Thực Tập hằng ngày. Hy vọng đời thay đổi, tốt thay: Lành Nhiều!
31/10/2025(Xem: 4364)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
31/10/2025(Xem: 3825)
Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!
31/10/2025(Xem: 2509)
Không kể là người tại gia hay xuất gia, cần phải: trên kính dưới hòa, nhẫn những điều mà người không thể nhẫn, làm những việc mà người khác không thể làm, [gánh vác] thay người việc khó nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
28/10/2025(Xem: 2883)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bốn mươi hai bài kinh do hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Hai ngài này là người Ấn Độ, sang Trung Hoa vào thời đại nhà Tiền Hán, tức Hán Minh Đế. Trong quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập một, trang 52, tác giả Nguyễn Lang do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành năm 1973, trong đó có đoạn nói về Kinh Tứ Thập Nhị Chương, theo giáo sư Nguyễn Lang cho rằng: “Kinh này hình thức và nội dung đã khác nhiều với Kinh Tứ Thập Nhị Chương lưu hành ở thế kỷ thứ hai. Nhiều tư tưởng Thiền và Đại thừa đã được thêm vào”.
28/10/2025(Xem: 3858)
LỜI ĐẦU SÁCH Kinh Di Giáo là một bộ kinh mà đại đa số người xuất gia đều phải học. Chúng tôi dùng chữ “Phải” trong tiếng Anh gọi là “must be”, chớ không phải “have to”. Động từ must be nó có nghĩa là bắt buộc phải làm. Còn động từ “have to” cũng có nghĩa là phải, nhưng không có bắt buộc, có thể làm mà cũng có thể không làm. Nói thế để thấy rằng, bản kinh này bắt buộc người xuất gia nào cũng phải học.
28/10/2025(Xem: 3662)
LỜI ĐẦU SÁCH Trong giới học Phật, ai cũng biết trong 49 năm hoằng hóa độ sanh, đức Phật tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết sâu cạn cao thấp của mỗi chúng sanh mà Ngài thuyết giáo. Mục đích là để cho họ được an vui hạnh phúc trong đời sống. Vì thế mà trong toàn bộ hệ thống giáo điển của Phật giáo có đề cập đến khế lý và khế cơ. Có những bộ kinh chuyên thuyết minh về khế lý như Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa chẳng hạn.
27/10/2025(Xem: 3784)
Thời gian đó Hòa thượng Tông trưởng vẫn còn sinh tiền khỏe mạnh. Về thính chúng ngoài chư Tăng, Ni tại Tổ Đình ra, còn có một số quý Phật tử tại gia bên ngoài vào tham dự. Vì tôi giảng vào mỗi buổi tối hằng ngày. Chúng tôi dựa vào những lời khuyến nhắc của Tổ mà triển khai thêm. Xét thấy những lời Tổ dạy rất thiết yếu cho việc tu học, nhất là đối với những người mới xuất gia vào chùa.
27/10/2025(Xem: 3256)
TÍNH CẢM TRI VÀ TÂM PHẬT: LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÚNG? Nguyên tác: Sentience and Buddha-Mind: How Do We Recognize Them?*1 Tác giả: Gereon Kopf Việt dịch: Quảng Cơ Biên tập: Tuệ Uyển