V.

11/03/201104:02(Xem: 14381)
V.

NHỮNG GIAI THOẠI HUYỀN BÍ
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

CHƯƠNG MƯỜI HAI: VÀI MẨU CHUYỆN BÊN LỀ

V.

Ngày đầu năm 1881, tôi ngồi vào bàn làm việc đến hai giờ khuya để viết bài cho tạp chí Theosophist. Nói chung thì trong những tuần lễ đầu năm, mọi việc vẫn bình thường, không có gì đáng kể, trừ ra những dịp chúng tôi tiếp xúc và có những mối quan hệ thân thiện hay không thân thiện với một vài nhân vật.

Tác giả quyển sách nổi tiếng “Nhựa sống”, với bút danh là Mirza Murad Ali Beg, đến với chúng tôi lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 1. Anh ta là một thanh niên Anh, thuộc dòng dõi của gia đình Mitford đã từng đào tạo ra nhiều nhà văn nổi tiếng ở Anh quốc. Anh ta sinh trưởng tại Madras, có một nếp sống dị thường, và theo Hồi giáo.

Khi gặp chúng tôi thì anh ta đang giữ một chức vụ trong quân đội của vị Đại vương xứ Bhavnagar, với cấp bậc “sĩ quan kỵ binh”, nhưng trên thực tế thì đó chỉ là một chức vụ ngồi không ăn lương. Anh ta sống một cuộc đời phiêu lưu, phóng dật, dẫy đầy những nỗi trắc trở gian lao. Anh ta đã từng thực hành khoa bàng môn tả đạo, và cho tôi biết rằng tất cả những nỗi khổ đau mà anh đã trải qua trong vòng vài năm trước đây đều có thể trực tiếp truy nguyên từ những tác động hiểm ác của vài loại âm binh bất hảo mà anh đã kêu gọi để trợ giúp trong việc chinh phục một người con gái đức hạnh mà anh ta thèm muốn.

Tuân theo sự chỉ dẫn của một nhà phù thuœy hắc phái Hồi giáo, anh ta đã ngồi suốt bốn mươi ngày trong một gian phòng kín, mắt nhìn chăm chú vào một cái chấm đen trên vách tường, dùng trí tưởng tượng hình dung khuôn mặt của người con gái ấy và niệm một câu thần chú nửa Ả Rập và nửa tiếng Phạn, lặp đi lặp lại đến cả trăm ngàn lần. Anh ta phải tiếp tục làm như vậy cho đến khi nhìn thấy khuôn mặt của người con gái ấy linh động như thật, và khi thấy đôi môi nàng mấp máy như sắp sửa nói chuyện thì khi đó nàng đã hoàn toàn bị quyến rũ bởi ma lực và sẽ tự động tìm đến với anh ta.

Tất cả sự việc đã xảy ra y như đã dự liệu trước. Ý đồ hiểm ác xấu xa của anh ta được thực hiện. Cô gái kia bị hại trong tay anh, nhưng chính anh lại bị phụ thuộc vào quyền năng của những âm binh bất hảo mà anh không có đủ sức mạnh tinh thần để chế ngự sau khi đã nhờ đến sự giúp sức cưỡng ép của chúng.

Thật sự là anh ta đang rơi vào một tình trạng bi đát, khốn cùng. Thần kinh anh ta căng thẳng, dễ bị kích động, không quyết đoán được điều gì, luôn phải nô lệ những cảm xúc của chính mình, nhìn thấy những khả năng cao quý của bản chất con người nhưng lại bất lực không thể đạt tới.

Anh ta đến với chúng tôi để tìm nơi ẩn trú, và đã ở lại nhà chúng tôi trong vài tuần. Tuy là người Anh, nhưng anh ta lại có một hình thù dị dạng. Anh ta mặc y phục của người Hồi giáo, gồm một cái áo vải trắng rộng và dài phủ đến chân. Anh để tóc dài màu nâu lợt, bới cao lên phía sau đầu như phụ nữ; nước da trắng và mắt xanh.

Từ ngày anh ta đến với chúng tôi, dường như anh trải qua một cơn xung đột mãnh liệt trong nội tâm. Anh than phiền rằng mình bị lôi cuốn, giằng co từ mọi phía, trước hết bởi những ảnh hưởng tốt lành, và kế đó bởi những lực lượng bất hảo.

Anh ta có một bộ óc thông minh, đã đọc qua nhiều sách vở và rất muốn gia nhập Hội Thông thiên học. Nhưng vì tôi không tin tưởng nơi căn bản đạo đức của anh ta nên đã từ chối. Tuy nhiên, vì bà Blavatsky đề nghị chịu trách nhiệm về anh ta, nên tôi không phản đối và để cho bà bảo trợ sự gia nhập của anh ta.

Vài tháng sau đó, anh ta trả ơn bà một cách đích đáng bằng cách giật lấy cây gươm của một lính canh ở ga Wadhwan và toan đâm chết bà, rồi la lớn lên rằng bà và các chân sư đều là ma quỉ! Nói tóm lại, anh ta đã nổi điên.

Đây nhắc lại khi trí óc anh ta còn lành mạnh và đang ở chung với chúng tôi. Anh ta có viết vài bài đăng trong tạp chí “Theosophist” và một đêm nọ, sau một cuộc nói chuyện với chúng tôi, anh ta ngồi viết một bài tham luận về quyền năng của ý chí và tác dụng của nó đối với sự sống lâu. Bà Blavatsky và tôi còn ngồi lại trong phòng, và khi anh ta bắt đầu viết, bà bước đến gần và đứng phía sau lưng anh ta, cũng như hồi ở New York bà đã đứng phía sau lưng họa sĩ Harisse khi người này đang vẽ bức chân dung của một vị chân sư theo sự hướng dẫn bằng phương pháp chuyển di tư tưởng của bà.

Bài tham luận của Mirza Sahib được sự chú ý của mọi người khi nó xuất hiện trên tạp chí, và được coi như một trong những bài có giá trị nhất trong văn chương đạo lý của Hội Thông thiên học. Anh ta tỏ ra có trình độ trí thức, và có nhiều triển vọng cứu vãn phần lớn những khả năng tâm linh đã bị mất nếu anh ta chịu ở lại với chúng tôi. Nhưng sau khi đã hứa làm như vậy, anh ta lại tuân theo một động lực vô hình không thể cưỡng, và bỏ đi theo tiếng gọi của sự diệt vong.

Anh ta không thể nào phục hồi lại được sự thăng bằng của trí não. Sau đó, anh ta theo đạo Gia Tô, rồi quay trở lại Hồi giáo, rồi sau cùng anh ta chết và được chôn tại Junagadh. Tại đây tôi có nhìn thấy nắm mồ sơ sài của y.

Trường hợp của Mirza Sahib là một trường hợp đáng sợ về cái hiểm họa chờ đợi những người nào thực hành bàng môn tả đạo trong khi còn những đam mê thú dục tiềm ẩn trong lòng.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/11/2012(Xem: 11253)
Ngôi Thánh địa Già lam Bạch Mã, ngôi chùa cổ xưa nhất ở Trung Quốc, tọa lạc khoảng 6 dặm Anh, cách Thành phố Lạc Dương, thuộc tỉnh Hà Nam, miền Đông Trung Quốc. Ngôi Già lam Bạch Mã Cổ Tự được sáng lập từ thời Minh Đế của triều đại Đông Hán (từ năm 29 sau Công Nguyên đến năm 75 sau Công Nguyên), gắn liền với truyền thuyết thần kỳ về sự kiến tạo thuở sơ khai.
12/09/2012(Xem: 10285)
Quan Âm Cổ Tự (Gwaneumsa-觀音古寺) nằm phía Đông bắc dưới chân núi Halla (漢拏山), Ara-dong, Thành phố Jeju. Ngôi Cổ tự được thành lập vào thế kỷ thứ 10, vào triều đại Cao Ly ‘Goryeo’ (AD 918 ~ 1392). Trong những năm 1700, triều đình Joseon (Triều Tiên) tôn sùng Nho giáo và phế Phật vì thế Phật giáo vùng Jeju lâm vào Pháp nạn, các Tự viện bị phá hủy trong đó có ngôi Quan Âm Cổ Tự. Đầu thế kỷ 20, năm Nhâm Tý (1912) vị Pháp sư Tỳ Kheo ni An Phùng - Lệ Quán (安逢麗觀) mới tái tạo lại. Năm Giáp Thìn (1964), trùng tu nguy nga tráng lệ như hiện nay. Ngôi Danh lam cổ tự hùng tráng này là cơ sở thứ 23 của Thiền phái Tào Khê, Phật giáo Hàn Quốc.
19/06/2012(Xem: 4231)
Sa mạc Gobi (Trung Quốc) nổi tiếng thế giới bởi sự khắc nghiệt, xứng danh là một trong các vùng đất “khó sống” nhất trên hành tinh. Những đụn cát cao ngút, những trận bão sa mạc và nạn thổ phỉ kinh hoàng trong truyền thuyết xảy ra liên miên, cướp đi sinh mạng của biết bao nhiêu thương nhân khi qua đây. Nó trở thành nỗi ám ảnh lớn với rất nhiều người và không mấy ai nghĩ địa điểm này thích hợp cho sự sống. Ấy thế mà đã có một hồ “trăng lưỡi liềm” và mảnh đất thiên đường “rơi” xuống sa mạc Gobi và trở thành một trong những ốc đảo tuyệt vời nhất trên Trái đất này.
20/05/2012(Xem: 13005)
Nói đến chùa, không thể không nhắc đến Huế. Cố đô là nơi có mật độ chùa chiền thuộc loại cao nhất Việt Nam với trên một trăm ngôi chùa lớn nhỏ. Lần nào đến Huế tôi cũng đến thăm, lễ Phật và thưởng ngoạn tại ít nhất là 1 ngôi chùa.
02/03/2012(Xem: 5016)
Trên đường đến Linh Thứu sơn thuộc thành Vương Xá, nay là Rajgir, cách trường đại học Na Lan Đà khoảng 1500 m, đoàn chúng tôi có viếng thăm nhà kỷ niệm ngài Huyền Trang (Huyền Trang Kỷ Niệm Đường) mặc dù ngoài trời mưa vẫn còn nặng hạt...
12/02/2012(Xem: 19095)
Qua ký sự, tác giả giới thiệu những vùng đất tâm linh của Phật giáo đồng thời nói lên niềm cảm khái của mình trước các vùng đất thiêng liêng, và cảm xúc của ông về thế giới hiện đại.
11/01/2012(Xem: 12594)
Ý tưởng về một cuộc hành hương về xứ Phật là do chính Đức Phật nói ra. Trước khi Người nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn, Phật đã khuyên những đệ tử kính đạo nên viếng thăm, chiêm bái bốn nơi để được tăng thêm sự truyền cảm về tâm linh của mình sau khi Người từ giã trần gian. Những nơi đó là Lumbini, nơi Đức Phật đản sinh; Bodhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Đức Phật chứng đạt Giác Ngộ Tối Thượng; Vườn Nai ở Sarnath, nơi Đức Phật khai giảng bài Thuyết Pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân; và Kusinara (Câu Thi Na), nơi Người nhập diệt Đại Bát-Niết-bàn...
28/12/2011(Xem: 5129)
Trong khi nhiều tôn giáo truyền thống khuyến khích tín đồ lên đường hành hương, như Đức Phật Thích Ca là một bậc thầy vô thượng mà tất cả Phật tử hướng về quy y và những giáo huấn của Ngài chúng ta thực hành một cách tốt nhất để đi theo, đối với chúng ta những thánh địa thiêng liêng nhất là những nơi Đức Phật đã giảng dạy và hành động vì lợi ích của chúng sinh. Trong khi chúng ta nên ngưỡng vọng và thăm viếng những nơi này, một cách truyền thống bốn thánh tích được xem như quan trọng nhất là: * Lâm tỳ ni, nơi Sĩ Đạt Ta sinh ra trong thế giới này như một người bình thường. * Đạo Tràng Giác Ngộ, nơi Sĩ Đạt Ta trở nên giác ngộ. * Lộc Uyển, nơi Ngài giảng dạy con đường đến giác ngộ, và * Câu thi na, nơi Ngài nhập niết bàn.
01/08/2011(Xem: 5252)
Từ 13/3 đến 28/3/1994, Viện Nghiên cứuPhật học Việt Nam đã tổ chức một đoàn chiêm bái các Phật tích tại Ấn Độ, gồm 19 người, do cố Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu làm Trưởng đoàn, cố Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu làm Phó đoàn, với Ban Thư kýgồm Hòa thượng Thích Giác Toàn và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn. Chuyến đi được Hòa thượng Thích Chơn Thiện lúc ấy đang chuẩn bị trình luận án tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ giúp sắp xếp các việc cần thiết và đề xuất kế hoạch, lộ trình chi tiết. Sau ngày thống nhất đất nước, đây là chuyến xuất ngoại dân sự đầu tiên có tổ chức của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, mở đầu cho việc hội nhập của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo đăng tải lại dưới đây bài tường thuật do cố Đại lão Hòa thượng Thích Minh Châu thực hiện, như một kỷ niệm để tưởng nhớ ngài.
22/07/2011(Xem: 6971)
Du khách đến Dubai sẽ được chiêm ngưỡng một tác phẩm tuyệt vời của bàn tay con người. Đó là khu vườn 65 triệu bông hoa trong khí hậu khắc nghiệt của sa mạc.