3. Bài ca trong mưa của Mila

09/01/201106:17(Xem: 7572)
3. Bài ca trong mưa của Mila

3

Bài ca trong mưa của Mila

Một lần khi Jetsušn đang ở trong động Pelma Gel, ngài đi khất thực tại một chỗ đóng trại rộng lớn. Một nữ thí chủ trẻ lễ bái và cho một mẩu bơ nhỏ. Nhớ ra mình đã nhận phần thức ăn hàng ngày, ngài nói : “Ta không có ngay cả một thùng chứa để cất giữ món bơ này, hãy giữ nó cho con.”

Người đàn bà lấy làm lạ và xin ngài ở lại một buổi. Ngài nhận lời, ngồi ở ngoài xa. Một trận mưa như thác đổ rơi xuống, và bà nói với ngài : “Ô, hãy để tôi dựng tấm bạt che đầu.”

Mila trả lời với bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân viên ngọc quý trang sức cho đầu con,
Người đáp ứng mọi ước mong và nhu yếu.

Người đàn bà duyên dáng được ban ơn với con cái và sung túc,
Quản lý một kho dồi dào những tặng vật,
Mặc chiếc áo len của phước đức –
Hãy nghe đây, phu nhân sùng đạo.

Nếu bà không biết tên tôi,
Tôi là Milarepa của bình nguyên Gungthang –
Một người khất thực tự ý lang thang.
Xúc động bởi sự khốn khó của tôi vì gió và mưa,
Bà trao cho sự giúp đỡ này trong tinh thần nhân từ chân thật.
Những ý định tốt đẹp như vầy thật đáng ngạc nhiên.

Tôi đã du hành qua những đồng bằng của sáu cõi huyễn
Nơi cơn mưa của thống khổ rơi không ngừng nghỉ
Và sương mù tối tăm của vọng tưởng đầy đặc quanh tôi.

Tôi đã không có cái mũ rộng của chánh kiến,
Áo mưa của niềm tin không nao núng,
Và hang động khô ấm của sự quy y tốt đẹp.
Bị cuốn trôi bởi dòng sông tâm thức khát khao.
Bị sưng phồng vì những cơn mưa quất của nghiệp xấu,
Tôi đã bị đem tới chân trời xa của đại dương thống khổ,
Đẩy đưa trên những ngọn sóng của ba cõi thấp,
Và va vào những tảng đá của nghiệp dữ.

Sợ hãi những khổ đau không thể chịu nổi như thế
Trong những đời tương lai không thể tính đếm,
Tôi dựng lên chiếc lều trắng của chánh kiến
Trên bình nguyên bao la của niền tin không nao núng.

Tôi siết chặt những sợi thừng cột lều của kinh nghiệm thiền định.
Đóng chắc những cọc lều của sự thực hành không lầm lỗi
Dựng thẳng những cây chống của ba thân có được,
Và dương lên ngọn cờ của tịnh hạnh.

Tôi truyền bá tiếng trống thánh pháp đi mọi hướng,
Và trên ngai của thế giới bên ngoài đa dạng
Uống nước cốt của mọi giáo lý thâm sâu.

Trên cao nguyên rộng lớn của tình thương và bi mẫn,
Tôi chăn dắt đàn cừu của sáu cõi ra khỏi bờ vực
Và gom góp cam lồ của toàn trí
Không chướng ngại đối với mọi sự vật.

An lạc bên trong, tôi không ấp ủ
Cái ý niệm “Tôi đang khổ đau”
Khi cơn mưa không dứt đổ xuống bên ngoài.

Ngay cả trên những đỉnh núi tuyết trắng xóa
Ở giữa cơn mưa tuyết xoáy cuộn
Theo những ngọn gió đông đầu năm
Cái áo vải này cũng rực lên như lửa.

Người đàn bà trẻ xúc động với lòng tin mạnh mẽ. Chiều hôm đó bà bà cầu xin ban phước và lễ nhập môn, cúng dường một lễ cúng. Mọi người khác của chỗ đóng trại ấy cũng đến để kết duyên với Jetsušn. Họ dâng nhiều thứ cúng dường, nhưng ngài không nhận, hát bài ca này :

Con cầu nguyện dưới chân lama từ ái của con.
Mọi đồ ăn thức uống các bạn đã dùng
Qua suốt sanh tử từ vô thủy
Cho đến đời hiện nay
Đã không cho các bạn sự thỏa mãn hay hài lòng.
Bởi thế hãy ăn thức ăn này
Của chánh định, hỡi những người có phước.

Mọi sự thịnh vượng các bạn đã sở đắc
Từ thời vô thủy đến nay
Đã thất bại không thể đáp ứng mọi ham muốn của các bạn.
Bởi thế hãy trau dồi viên ngọc như ý này
Của sự điều độ, hỡi những người có phước.

Mọi bạn bè của bạn đã biết
Từ thời vô thủy đến nay
Đã không bao giờ ở lại bên cạnh bạn.
Bởi thế hãy giữ sự bầu bạn trường cửu
Với Đại Ấn bổn nguyên, hỡi những người có phước.

Biết rằng tài sản tích trữ rồi cũng bị bỏ lại đàng sau,
Tôi không khao khát sự thịnh vượng của một người giàu,
Và vì thế tôi không muốn các đồ cúng dường của các bạn.

Mong các bạn sống lâu, hạnh phúc và sức khỏe,
Thoát khỏi khổ đau và cái chết bất ngờ,
Và tái sanh trong một cõi thanh tịnh của Phật.

Rồi Mila bỏ đi đến Núi Khối Đỏ đồng bằng Gungthang.

Một thiền giả đến để khám phá về con người mà danh tiếng đã lan truyền khắp Tây Tạng. Như thế, bài ca đầu tiên của Mila nhằm vào bản chất lừa dối của tên tuổi và tiếng tăm. Thiền giả bối rối khi thấy hoàn cảnh đơn độc, khổ hạnh mà Mila thích ở để tu hành – cực kỳ nhàm chán đối với những hành giả đương thời. Mila hát cho ông nghe một bài ca về tính không sợ hãi của hành thiền và một bài ca về những giáo huấn-ngắn, những bài phát biểu cốt lõi như là những chìa khóa để hiểu và thực hành. Ở đây chúng đề cập đến bản chất giải thoát tự nhiên của thế giới hình tướng và phương cách trừ sạch những thành kiến sai lầm khiến chúng ta tri giác lầm lẫn thế giới như chúng ta vẫn thường làm. Dầu cho không được đề cập đến, những giáo huấn này ám chỉ sự thực hành Đại Ấn và là những chỉ hướng chính xác.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6359)
Tin 1 triệu người thuộc giai cấp cùng đinh của Ấn Độ từ bỏ Ấn giáo, quy y Tam Bảo tại viện Ambedkar, thủ đô Delhi Ấn Độ, đã tạo ra cơn sửng sốt cho các đảng lãnh đạo Ấn giáo của chính phủ Ấn Độ và gây chấn động khắp thế giới. Thanh Tâm đã phỏng vấn đại đức Thích Nhật Từ, tu sĩ Việt Nam duy nhất tham dự đại lễ quy y này.
10/04/2013(Xem: 6711)
Để hiểu rõ thêm về vai trò lịch sử trọng đại của Hoàng Đế Asoka không những đối với dân-tộc A?, mà còn đối với nhân loại qua sự truyền bá Phật giáo đến các nước khác, ta nên ôn lại đôi chút về bối cảnh lịch sử A? độ đương thời.
10/04/2013(Xem: 6351)
Hiện nay có khá nhiều bản dịch ra Anh ngữ về những Pháp dụ của Vua Asoka vốn được viết bằng tiếng Brahmi (Prakrit). Bản dịch Việt ngữ này đã dựa vào 2 bản Anh ngữ phổ thông nhất và được nhìn dưới 2 góc độ tiêu biểu: 1). Giới hàn lâm, của các tác giả Nayarayanrao Appurao Nikam và Richard McKeon thuộc Viện Đại học Chicago, ấn hành năm 1959 (Viết tắt "Bản Nikam") và 2).
10/04/2013(Xem: 6180)
Trung Quốc trải qua 10 năm đại nạn "đại cách mạng văn hóa", Phật giáo đứng mũi chịu sào, tự viện bị chiếm, Phật tượng bị đập phá, tăng ni bị trục xuất khỏi chùa. Cho đến vào khoảng thập niên 70, nhà nước thực hành cải cách đổi mới, bắt đầu toàn diện quán triệt thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự viện lần lượt khôi phục sinh hoạt tôn giáo, tăng ni xuất gia càng ngày càng đông, nhưng tăng tài của Phật giáo lại quá hiếm hoi, không đủ người kế tục sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, tiếp dẫn hậu lai, làm sao có thể thay đổi được vận mệnh của Phật giáo ?
10/04/2013(Xem: 11695)
Nhằm mục đích giúp cho những bệnh nhân vào thời kỳ cuối của bệnh ung thư sống những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời một cách thanh thản, bình yên về mặt tinh thần cũng như tâm linh trên phương diện y tế được đón nhận sự chăm sóc một cách toàn diện về thân thể, tâm lý và xã hội. Vào ngày 8 tháng 8 năm 1996 Bệnh Viện Đa Khoa Từ Tế Phật Giáo ở Hoa Liên Đài Loan đã thành lập "AN NINH LIỆU HỘ BỆNH PHÒNG"chuyên môn chăm sóc những bệnh nhân thời kỳ cuối của bệnh ung thư và được Ni Sư Chứng Nghiêm (người sáng lập Hội Từ Tế) đặt tên là "Tâm Liên Bệnh Phòng".
10/04/2013(Xem: 10622)
Ngài Huyền Trang là Cao Tăng đời nhà Đường. Ngài phụng mệnh Đường Thái Tông sang Ấn Độ thỉnh Kinh. Hành trình trên 10 năm thỉnh về hơn 650 bộ Kinh. Sau đó, Ngài đã cùng đệ tử dịch ra Hán Văn được 75 bộ gồm 1335 quyển. Đối với sự phát triển của Phật Giáo Trung Quốc. Ngài là một người có công rất lớn.
10/04/2013(Xem: 5990)
Vùng đất hiện nay được gọi là Mông Cổ cho mãi đến thế kỷ XIII mới có được lịch sử theo tư liệu văn bản. Vào khoảng thế kỷ IX-X, bộ lạc Khiết Đan (Kidans), một bộ lạc nói tiếng Mông Cổ, thành lập nước Đại Liêu ở miền Bắc Trung Quốc. Đến thế kỷ XI-XII, tất cả các bộ lạc Mông bước vào lịch sử được biết dưới các tên Nguyên Mông, Tartar, Kerait và Jalair; họ thường gây hấn và chém giết lẫn nhau cho đến khi một lạc trưởng tên Temudjin chinh phục và thống nhất tất cả, đặt tên chung là Mongol và tự xưng là Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan).
10/04/2013(Xem: 6294)
Nhân một thiện duyên, chúng tôi đọc thấy một tài liệu ngắn giới thiệu một chương trình thu tập các tư liệu gồm các thủ bản và mộc bản quý hiếm đánh dấu sự hiện hữu của Phật giáo tại Mông Cổ từ khi đất nước này bắt đầu có sử liệu vào khoảng thế kỷ XIII. Đây là một lĩnh vực chúng tôi chưa học hiểu đến, nhưng cảm thấy tài liệu này có giá trị sử học và nghiên cứu, nhất là hiện tại còn rất ít thông tin về nền Phật giáo tại Mông Cổ, cho nên cố gắng lược dẫn tài liệu này để cống hiến độc giả NSGN và những ai quan tâm đến sự phát triển của Phật giáo trên thế giới.
10/04/2013(Xem: 7277)
Nhật báo Orange County Register hôm chủ nhật 19-1-2003 đã bắt đầu đăng phần thứ nhất trong loạt bài 4 kỳ về một tu sĩ trẻ Việt Nam -- 16 tuổi -- đang tu học trong 1 Phật học viện ở Ấn Ðộ của Phật Giáo Tây Tạng.
10/04/2013(Xem: 6059)
Trên tay tôi là 2 cuốn sách, một cuốn là Phật Giáo Khắp Thế Giới (Buddhism throughout the World) của tác giả Thích Nguyên Tạng, xuất bản lần thứ nhất năm 2001 tại Australia và cuốn kia là Tôn Giáo và Lịch Sử Văn Minh Nhân Loại Phật Giáo Việt Nam và Thế Giới của Thiền Sư Định Lực và Cư sĩ Nhất Tâm, do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Thông Tin in xong vào tháng 1 năm 2003 mà tôi vừa mới mua.