3. Bài ca trong mưa của Mila

09/01/201106:17(Xem: 7426)
3. Bài ca trong mưa của Mila

3

Bài ca trong mưa của Mila

Một lần khi Jetsušn đang ở trong động Pelma Gel, ngài đi khất thực tại một chỗ đóng trại rộng lớn. Một nữ thí chủ trẻ lễ bái và cho một mẩu bơ nhỏ. Nhớ ra mình đã nhận phần thức ăn hàng ngày, ngài nói : “Ta không có ngay cả một thùng chứa để cất giữ món bơ này, hãy giữ nó cho con.”

Người đàn bà lấy làm lạ và xin ngài ở lại một buổi. Ngài nhận lời, ngồi ở ngoài xa. Một trận mưa như thác đổ rơi xuống, và bà nói với ngài : “Ô, hãy để tôi dựng tấm bạt che đầu.”

Mila trả lời với bài ca này :

Con đảnh lễ dưới chân viên ngọc quý trang sức cho đầu con,
Người đáp ứng mọi ước mong và nhu yếu.

Người đàn bà duyên dáng được ban ơn với con cái và sung túc,
Quản lý một kho dồi dào những tặng vật,
Mặc chiếc áo len của phước đức –
Hãy nghe đây, phu nhân sùng đạo.

Nếu bà không biết tên tôi,
Tôi là Milarepa của bình nguyên Gungthang –
Một người khất thực tự ý lang thang.
Xúc động bởi sự khốn khó của tôi vì gió và mưa,
Bà trao cho sự giúp đỡ này trong tinh thần nhân từ chân thật.
Những ý định tốt đẹp như vầy thật đáng ngạc nhiên.

Tôi đã du hành qua những đồng bằng của sáu cõi huyễn
Nơi cơn mưa của thống khổ rơi không ngừng nghỉ
Và sương mù tối tăm của vọng tưởng đầy đặc quanh tôi.

Tôi đã không có cái mũ rộng của chánh kiến,
Áo mưa của niềm tin không nao núng,
Và hang động khô ấm của sự quy y tốt đẹp.
Bị cuốn trôi bởi dòng sông tâm thức khát khao.
Bị sưng phồng vì những cơn mưa quất của nghiệp xấu,
Tôi đã bị đem tới chân trời xa của đại dương thống khổ,
Đẩy đưa trên những ngọn sóng của ba cõi thấp,
Và va vào những tảng đá của nghiệp dữ.

Sợ hãi những khổ đau không thể chịu nổi như thế
Trong những đời tương lai không thể tính đếm,
Tôi dựng lên chiếc lều trắng của chánh kiến
Trên bình nguyên bao la của niền tin không nao núng.

Tôi siết chặt những sợi thừng cột lều của kinh nghiệm thiền định.
Đóng chắc những cọc lều của sự thực hành không lầm lỗi
Dựng thẳng những cây chống của ba thân có được,
Và dương lên ngọn cờ của tịnh hạnh.

Tôi truyền bá tiếng trống thánh pháp đi mọi hướng,
Và trên ngai của thế giới bên ngoài đa dạng
Uống nước cốt của mọi giáo lý thâm sâu.

Trên cao nguyên rộng lớn của tình thương và bi mẫn,
Tôi chăn dắt đàn cừu của sáu cõi ra khỏi bờ vực
Và gom góp cam lồ của toàn trí
Không chướng ngại đối với mọi sự vật.

An lạc bên trong, tôi không ấp ủ
Cái ý niệm “Tôi đang khổ đau”
Khi cơn mưa không dứt đổ xuống bên ngoài.

Ngay cả trên những đỉnh núi tuyết trắng xóa
Ở giữa cơn mưa tuyết xoáy cuộn
Theo những ngọn gió đông đầu năm
Cái áo vải này cũng rực lên như lửa.

Người đàn bà trẻ xúc động với lòng tin mạnh mẽ. Chiều hôm đó bà bà cầu xin ban phước và lễ nhập môn, cúng dường một lễ cúng. Mọi người khác của chỗ đóng trại ấy cũng đến để kết duyên với Jetsušn. Họ dâng nhiều thứ cúng dường, nhưng ngài không nhận, hát bài ca này :

Con cầu nguyện dưới chân lama từ ái của con.
Mọi đồ ăn thức uống các bạn đã dùng
Qua suốt sanh tử từ vô thủy
Cho đến đời hiện nay
Đã không cho các bạn sự thỏa mãn hay hài lòng.
Bởi thế hãy ăn thức ăn này
Của chánh định, hỡi những người có phước.

Mọi sự thịnh vượng các bạn đã sở đắc
Từ thời vô thủy đến nay
Đã thất bại không thể đáp ứng mọi ham muốn của các bạn.
Bởi thế hãy trau dồi viên ngọc như ý này
Của sự điều độ, hỡi những người có phước.

Mọi bạn bè của bạn đã biết
Từ thời vô thủy đến nay
Đã không bao giờ ở lại bên cạnh bạn.
Bởi thế hãy giữ sự bầu bạn trường cửu
Với Đại Ấn bổn nguyên, hỡi những người có phước.

Biết rằng tài sản tích trữ rồi cũng bị bỏ lại đàng sau,
Tôi không khao khát sự thịnh vượng của một người giàu,
Và vì thế tôi không muốn các đồ cúng dường của các bạn.

Mong các bạn sống lâu, hạnh phúc và sức khỏe,
Thoát khỏi khổ đau và cái chết bất ngờ,
Và tái sanh trong một cõi thanh tịnh của Phật.

Rồi Mila bỏ đi đến Núi Khối Đỏ đồng bằng Gungthang.

Một thiền giả đến để khám phá về con người mà danh tiếng đã lan truyền khắp Tây Tạng. Như thế, bài ca đầu tiên của Mila nhằm vào bản chất lừa dối của tên tuổi và tiếng tăm. Thiền giả bối rối khi thấy hoàn cảnh đơn độc, khổ hạnh mà Mila thích ở để tu hành – cực kỳ nhàm chán đối với những hành giả đương thời. Mila hát cho ông nghe một bài ca về tính không sợ hãi của hành thiền và một bài ca về những giáo huấn-ngắn, những bài phát biểu cốt lõi như là những chìa khóa để hiểu và thực hành. Ở đây chúng đề cập đến bản chất giải thoát tự nhiên của thế giới hình tướng và phương cách trừ sạch những thành kiến sai lầm khiến chúng ta tri giác lầm lẫn thế giới như chúng ta vẫn thường làm. Dầu cho không được đề cập đến, những giáo huấn này ám chỉ sự thực hành Đại Ấn và là những chỉ hướng chính xác.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 7162)
Mạc Tư Khoa, Nga – “Thi thể của Giáo trưởng Lạt ma Itigelov đã được khai quật vào ngày 10 tháng 9, năm 2002, trong khu nghĩa trang gần thành phố Ulan Ude (Liên Bang Nga). Lạt ma thị tịch và được an táng vào năm 1927, và việc khai quật này đã được thực hiện với sự hiện diện của thân nhân, viên chức, và chuyên gia.”
10/04/2013(Xem: 6146)
Có một nhà sư rất khiêm tốn, chỉ tự nhận là một người tu hành, một nhà sư Phật giáo mà thôi. Ngài tên là Tenzin Gyatso, sinh năm 1935. Nhưng người ta lại gán cho Ngài cái tước hiệu là Đạt-Lai Lạt-Ma thứ XIV, và Ngài đã nhận giải Nobel Hoà Bình vào tháng 9 năm 1989. Ngài rất yêu thương con người, nhân loại và dân tộc của Ngài.
10/04/2013(Xem: 6328)
Đêm Hy Mã Lạp Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập lòe bên kia sườn đồi. Dưới vòm trời sao, trên lối mòn tăm tối giữa những hàng thông, một nhóm người hành hương trong y phục tả tơi đang bước đi, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Ngay trước lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết ở phía sau nhuộm màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa Namgyal ba tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên lặng.
10/04/2013(Xem: 12815)
Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13
10/04/2013(Xem: 7330)
Khi tìm những bài nói về về tương lai Phật giáo hoặc Phật giáo và tuổi trẻ, tôi lấy làm ngạc nhiên vì không dễ kiếm được nhiều bài nói về đề tài phức tạp này để cống hiến cho đọc giả của đặc san. Có lẽ do vì thống kê sinh hoạt Phật pháp không được đầy đủ và nền sinh hoạt tại các chùa không mấy liên quan với nhau. Tìm mãi thì cuối cùng qua internet, tôi đã kiếm được bài: “Phật Giáo Thịnh Suy (The Decline and Development of Buddhism)” do Sư Sayadaw U. Sumana viết.
10/04/2013(Xem: 6914)
Miền Bắc giáp Bangladesh, Ấn Độ, Trung Hoa. Miền đông giáp Lào, Thái Lan. Miền Nam giáp Mã Lai Á và miền Tây giáp với biển Ấn Độ. Một dãi giang sơn trãi dài qua các đồng bằng, núi non và biển cả. Miến Điện có lịch sử hơn 3000 năm tồn tại và phát triển. Ngày xưa Miến Điện được gọi là Bumua và ngày nay là Myanmar.
10/04/2013(Xem: 6427)
Thế kỷ 16, sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh nhiều năm khổ nạn giữa các thủ lãnh, sự xuất hiện của Shabdrung- Ngawang- Namgyal (1594- 1651) đã khiến Bhutan thực hiện công cuộc thống nhất toàn quốc.
10/04/2013(Xem: 21122)
Đây là cuốn sách đầu tiên ghi lại lịch sử Phật Giáo ở Úc Châu và ảnh hưởng của Phật Giáo đối với thơ ca, mỹ thuật và đời sống tâm linh của người Úc.
10/04/2013(Xem: 11957)
Hội Từ Thiện Từ Tế (Tzu Chi) dưới sự lãnh đạo của ni sư Chứng Nghiêm, một nữ tu đầy đức độ và khả kính của Phật giáo Đài Loan, đã mở một chiến dịch nhân đạo cứu trợ nạn nhân sóng thần tsumani ở các quốc gia vùng biển Ấn Độ Dương. Hội Từ Tế luôn luôn có mặt tại khắp mọi nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và hữu hiệu. Hội này đã cứu trợ khắp mọi nơi từ Châu Á (trong đó có Việt nam), Châu Phi, Châu Mỹ (luôn cả bắc Mỹ).
10/04/2013(Xem: 7273)
Từ thập niên 80 trở lại, Đông phương với trào lưu cải cách mở cửa đã phổ cập khắp các đại lục, khắp nơi đã diễn ra một cách sôi nổi hùng hồn. Cùng với sự nhảy vọt của nền kinh tế, trăm hoa đua nở của văn hóa và sự chuyển hình của xã hội, nhiều bậc đống lương thạch trụ quốc gia mang trong lòng nỗi âu lo và trách nhiệm cao độ, khiến họ có ý thức sâu sắc trong việc tự giác tiến hành, cải cách chấn hưng một nền văn hóa.