Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202308:04(Xem: 4794)
Nghi Thức Lễ Phật (do HT Thích Thiện Châu biên soạn, Phật tử Diệu Danh diễn đọc)


nghi thuc le phat-thich thien chau
NGHI THỨC LỄ PHẬT 
TRÚC LÂM
HT Thích Thiện Châu biên soạn
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

Dâng hương

O O O

 

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo vầng mây hương

Phưởng phất khắp mười phương

Cúng dường ba ngôi báu

Thề trọn đời sống đạo

Cùng tất cả chúng sanh

Như chính pháp tu hành

Phật từ bi gia hộ

Tâm bồ đề kiên cố

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng qua về bờ giác.  O O O

 

Lễ Phật

 

Đức Thế Tôn cao cả,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời, người,

Cha lành của bốn loại,

Trong một niệm quy y,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Ca ngợi và tán thán,

Ức kiếp không cùng tận. O

 

Chí tâm kính lễ Phật Pháp Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai ở khắp mười phương. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta bà, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền và hết thảy thánh hiền trong pháp hội. O (1 lạy)

 

Chí tâm kính lễ Phật Di Lặc sẽ giáng sinh và hết thảy Bồ tát thanh tịnh. O (1 lạy)

 

 

TÁN THÁN PHẬT

Vadanâ

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Kính lễ đức Thế Tôn, Ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn toàn. O (3lần)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammâ Sambuddhassa.

 

BA QUY Y

Tisarana

 

Con xin quy y Phật

Con xin quy y Pháp

     Con xin quy y Tăng. O

 Buddham saranam gacchâmi

 Dhamman saranam gacchâmi

    Sangham saranam gacchâmi. O

 

Lần thứ hai con xin quy  Phật

   Lần thứ hai con xin quy y Pháp

        Lần thứ hai con xin quy y Tăng. O

Dutiyampi Buddham saranam gacchâmi

 Dutiyampi Dhammam saranam gacchâmi

     Dutiyampi Sangham saranam Gacchâmi. O

 

Lần thứ ba con xin quy y Phật

Lần thứ ba con xin quy y Pháp

      Lần thứ ba con xin quy y Tăng. O

Tatiyampi Buddham saranam gacchâmi

Tatiyampi Dhammam saranam gacchâmi

Tatiyampi Sangham saranam gacchâmi. O

 

 

NĂM GIỚI

Pancasila

 

Chủ lễ đọc trước ; đại chúng đọc sau

 

Con nguyện giữ giới không sát hại

Pânâtipâtâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không trộm cướp

Adinnâdânâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

 Con nguyện giữ giới không tà hạnh

 Kâmesu micchâcârâ veramani sikkâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không dối trá

Musâvâdâ veramani sikkhâpadam samâdiyâmi

 

Con nguyện giữ giới không say rượu

Surâ-meraya-majja-pamâdatthânâ veramani sikkhâpa-dam sâmdiyâmi

                                                  O O O

 

 

CẦU NGUYỆN

 Mọi người cùng quỳ, chủ lễ đọc :

 

Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo.

Giờ đây, chúng con chân thành kính lễ các Đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương ; chúng con nhất tâm đọc tụng kinh điển nhiệm mầu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con nguyện noi theo chính pháp, tu dưỡng thân tâm, làm điều phước thiện và hướng về giác ngộ giải thoát. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán từ bi hộ niệm cho chúng con : phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, xa lìa khổ nạn, thân tâm thường được an lành, tâm bồ đề ngày càng kiên cố, hạnh nguyện giác ngộ cho mình và cho người đuề được trọn vẹn, để cùng tất cả chúng sinh chứng đạt chính đẳng chính giác.O

Ngưỡng mong đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật từ bi chứng minh, hộ niệm. O

Ngưỡng mong các đức Như Lai, các vị Bồ tát, La hán thường trú trong mười phương từ bi chứng minh, hộ niệm. O

 

Nếu thuận tiện thì cử tán một bài tán hương.

Nếu không thì cử chuông mõ đại chúng đồng tụng.

 

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

 

Đệ tử kính lạy,

Đức Phật Thích Ca.

Giáo chủ Ta bà,

Mười phương chư Phật,

Vô thượng Phật Pháp,

Và Thánh Hiền Tăng.

Đệ tử lâu đời lâu kiếp,

Nghiệp chướng nặng nề,

Tham giận kiêu căng,

Si mê lầm lạc,

Ngày nay nhờ Phật,

Biết sự lỗi lầm,

Thành tâm sám hối. O

Thề tránh điều dữ,

Nguyện làm việc lành.

Ngưỡng mong ơn Phật,

Từ bi gia hộ,

Thân không tật bệnh,

Tâm không phiền não.

Hằng ngày an vui tu tập,

Phép Phật nhiệm mầu,

Để mau ra khỏi luân hồi,

Minh tâm kiến tính,

Trí tuệ sáng suốt,

Thần thông tự tại,

Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng,

Cha mẹ anh em,

Thân bằng quyền thuộc,

Cùng tất cả chúng sinh,

Đồng thành Phật đạo. O O O

 

KỆ KHAI KINH

 

Thăm thẳm cao siêu pháp nhiệm mầu

Trăm ngàn vạn kiếp dễ tìm đâu

Nay con nghe thấy xin trì tụng

Nguyện hiểu Như Lai nghĩa rộng sâu.

 

(Trên đây là phần khai kinh, quí Phật Tử muốn tụng kinh nào tùy theo sự cầu nguyện, tiếp theo đây là phần hồi hướng)

 

TÂM KINH ĐẠI TRÍ HUỆ SIÊU VIỆT

 

Bồ tát Quán tuệ tại, khi tu chứng đại trí tuệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thả khổ ách.

Này Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác Sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá Lợi Tử! Thể không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong chân không, không có sắc thọ tưởng hành thức, Không nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý. Không sắc thanh hương vị xúc pháp. Không nhãn giới cho đến ý thức giới. Không vô minh, cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết: Không khổ, tập, diệt, đạo, không quán trí, cũng không chứng đạt, vì không gì để chứng.

Bồ tát nương trí tuệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ hãi, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt đến Niết Bàn. Chư Phật ba đời nương trí tuệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, chân chính và cao nhất.

Vì thế nên biết rằng trí tuệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí tuệ  siêu việt rút ra tinh yếu như vầy:

Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.

 

BỐN NGUYỆN LỚN

 

Chúng sanh không số lượng, thề nguyện đề độ khắp

Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch.

       Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học.

       Phật đạo không gì hơn, thề nguyện được trọn thành. O

 

BA TỰ QUY Y

 

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm vô thượng. O (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển. O  ( 1 lạy)

Tự quy  Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. O  (1 lạy)

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Nguyện đem công đức này,

  Hướng về khắp tất cả,

   Đệ tử và chúng sinh,

   Đều trọn thành Phật đạo.

 

O O O

 

Chú thích: O = tiếng chuông

Sau phần tụng niệm nên ngồi thiền theo phương pháp Quán niệm hơi thở vào và hơi thở ra (Anâpânasati)

 

PHƯƠNG PHÁP QUÁN NIỆM

HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA

 

Phương pháp Quán niệm hơi thở vào - hơi thở ra gồm 16 chủ đề quy vào 4 nhóm: I. Quán niệm về thân, II. Quán niệm về thọ, III. Quán niệm về tâm. IV. Quán niệm về Pháp. Do đó, thiền sinh nếu có thời giờ thì tuần tự tu tập theo 16 chủ đề. Nếu không, thì ít nhất tu tập 4 chủ đề đầu và chủ đề 3.

 

I- Bốn đề tài về Thân:

 

1-    Thở vô dài, tự biết: Tôi thở vô dài,

     Thở ra dài, tự biết: Tôi thở ra dài.

 

2-    Thở vô ngắn, tự biết: Tôi thở vô ngắn,

     Thở ra ngắn, tự biết: Tôi thở ra ngắn.

 

3-    Cảm giác toàn thân, tôi thở vô,

     Cảm giác toàn thân, tôi thở ra.

 

4-    An tịnh thân hành, tôi thở vô,

     An tịnh thân hành, tôi thở ra.

 

II- Bốn đề tài về Thọ:

 

5-    Cảm giác hỷ thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác hỷ thọ, tôi thở ra.

 

6-    Cảm giác lạc thọ, tôi thở vô,

     Cảm giác lạc thọ, tôi thở ra.

 

7-    Cảm giác tâm hành, tôi thở vô,

     Cảm giác tâm hành, tôi thở ra.

 

8-    An tịnh tâm hành, tôi thở vô,

     An tịnh tâm hành, tôi thở ra.

 

III- Bốn đề tài về Tâm:

 

9-    Cảm giác về tâm, tôi thở vô,

     Cảm giác về tâm, tôi thở ra.

10   -Với tâm hân hoan, tôi thở vô,

  Với tâm hân hoan, tôi thở ra.

 

11   -Với tâm định tĩnh, tôi thở vô,

 Với tâm định tĩnh, tôi thở ra.

 

12   - Với tâm giải thoát, tôi thở vô,

  Với tâm giải thoát, tôi thở ra.

 

IV- Bốn đề tài về Pháp:

 

13   - Quán vô thường, tôi thở vô,

   Quán vô thường, tôi thở ra.

 

14   - Quán ly tham, tôi thở vô,

  Quán ly tham, tôi thở ra.

 

15- Quán đoạn diệt, tôi thở vô,

 Quán đoạn diệt, tôi thở ra.

 

16- Quán từ bỏ, tôi thở vô,

      Quán từ bỏ, tôi thở ra.

 

Đặc điểm của phương pháp này là: nhóm I đưa đến tĩnh chỉ (samatha), nhóm II đưa vào ngưỡng cửa của minh sát, nhóm III phát triển minh sát. Nhóm IV thành tựu tuệ quán (vipassana)

 

 

 buddha-5

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/05/2013(Xem: 20202)
Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát mà chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử quen biết xa gần đều rất khó quên : Nơi các Đại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chẩn tế trong những ngày lễ hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đai chúng; nơi các bịnh nhân, Thầy là vị lương y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu Kinh ngắn chú nguyện, người bịnh mang về uống là có thể hết bịnh (đã có nhiều người hết bịnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…
12/05/2013(Xem: 8214)
Lời Người Dịch: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ -- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 -- sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thích Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.
23/04/2013(Xem: 12981)
Quyển NGỮ LỤC này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư DUYÊN LỰC trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời. Cứ hằng tháng Ngài cho mở một khóa tu bảy ngày ở mỗi Thiền đường cho các hành giả tu Thiền, gọi là “đả thiền thất” để hướng dẫn đại chúng chuyên sâu trong sự nghiệp tu hành. Những lời dạy trước sau đều được đồ đệ ghi âm lại để làm tài liệu tham khảo.
23/04/2013(Xem: 8687)
Như đã kết thiện duyên từ thuở ấy, Giọt mưa trời tưới ngọt đất Hồ Nam. Tiêu phụ thân và từ mẫu họ Nhan Dòng vọng tộc, làm quan Thanh triều đại.
22/04/2013(Xem: 9322)
Kể từ khi loài người biết phát huy trí tuệ, chúng ta thấy rõ có hai khuynh hướng phát triển, khuynh hướng hướng nội và khuynh hướng hướng ngoại. Khuynh hướng hướng ngoại, gọi là ngoại quan, tức quan sát sự hiện hữu và diễn tiến của sự vật bên ngoài giúp cho con người có được nhận thức đúng đắn về sự sống của hiện tượng giới.
22/04/2013(Xem: 24041)
Ba năm về trước, khi bổn-sư (và cũng là chú ruột) của tôi là cố Hòa-Thượng Ðại-Ninh THÍCH THIỀN-TÂM viên-tịch, trong buổi lễ thọ tang ngài tôi có dâng lời nguyện trước giác-linh Hòa-Thượng cầu xin ngài chứng-minh và gia-hộ cho tôi - vừa là đệ-tử và cũng là cháu ruột của ngài - được đầy đủ đạo-lực cùng minh-tâm, kiến-tánh thêm hơn để nối-tiếp theo gót chân ngài, hoằng-dương pháp môn Tịnh-độ nơi hải-ngoại ....
17/04/2013(Xem: 7774)
Con, Tỳ kheo ni Hạnh Thanh, vừa là môn phái Linh Mụ ; nhưng thật ra, Ôn, cũng như con và cả Đại chúng Linh Mụ đều là tông môn Tây Thiên pháp phái. Vì Ôn Đệ tam Tăng thống tuy Trú trì Linh Mụ quốc tự, nhưng lại là đệ tử út của Tổ Tâm Tịnh, Khai sơn Tổ Đình Tây Thiên, được triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định sắc phong là Tây Thiên Di Đà tự. Ôn Cố Đại lão Hòa thượng Đôn Hậu có cùng Pháp tự chữ Giác với quý Ôn là Giác Thanh, trong Sơn môn Huế thường gọi là hàng thạch trụ Cửu Giác và có thêm một hàng gọi là bậc danh tăng thạc học Cửu Trí (Chỉ cho các ngài Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siệu v..v...) Cố đô Huế là vậy ; đó là chưa kể nơi phát sinh ra danh Tăng ưu tú ngũ Mật nhị Diệu (Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không) và cũng là nơi đào tạo tăng tài, xây dựng trường Đại học Phật giáo đầu tiên không những chỉ cho Huế mà cả miền Trung việt Nam nữa. Ở Huế thường kính trọng các bậc chơn tu thực học, đạo cao đức trọng nên thường lấy tên chùa để gọi pháp
11/04/2013(Xem: 17826)
Một con người với nhiều huyền thoại bao phủ theo từng bước đi, dù ngàn năm trôi qua nhưng dấu ấn vẫn còn đong đầy trong tận cùng tâm thức, hạnh nguyện độ sanh vẫn lớn dần theo nhịp tử sinh, in dấu trên từng hoá độ, kỳ bí trong vô cùng không tận, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Một sự lặng thinh phổ cập trên từng đường nét, chỉ có cõi lòng thành kính tri ơn, nhớ ơn, biết ơn, được nhân dân tôn thờ lễ bái
10/04/2013(Xem: 11638)
Ngày 15-2-1965, tôi và thầy Chơn Thanh cũng như các học Tăng khác từ các nơi tập trung về Phật học viện Huệ Nghiêm dự thi tuyển vào khóa II của Phật học viện. Thầy thì từ Phật học đường Phổ Quang Gia Định đến, tôi thì từ Phật học đường Lưỡng Xuyên- Trà Vinh lên, tất cả cùng một chí hướng, một mục đích và một ước nguyện là thi đậu vào Phật học viện. Kết quả, thầy thi đậu lớp Sơ trung 2, tôi thi đậu vào lớp Sơ trung 1
10/04/2013(Xem: 14351)
Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng - Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: “Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về”.