Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:57(Xem: 3995)
Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

Phat thuyet phap

LỜI PHẬT DẠY
 HT. Thích Thiện Châu giảng giải
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

I- KINH PHẬT VÀ KINH TỔ

 

"Thuở xưa, này các Tỳ Kheo, dân chúng Dâssârahâ có một cái trống, tên là Anaka. Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dâssârahâ đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian này các Tỳ Kheo, cả các thùng ván của Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ hợp lại. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, những vị Tỳ Kheo sẽ thành trong tương lai."

          Những bài kinh nào do Như Lai thuyết thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, chúng sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ không lóng tai, chúng sẽ không an trú tâm chánh trí, và chúng sẽ không nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm ra, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những cây văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, chúng sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ lóng tai, chúng sẽ an trú tâm chánh trí và chúng sẽ nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, sẽ đi đến tiêu diệt (Tương Ưng Bộ II, 255)

 

          2- CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          - "Này Kassapa, Chánh pháp không biến mất, cho đến khi nào Tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời chánh pháp biến mất" (Tương Ưng Bộ, II, 212)

 

          3-  PHÂN BIỆT CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          -  "Này Upàli, những pháp nào mà ngươi biết không đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là không phải pháp, không phải luật, không phải lời dạy Thế Tôn. Và này Upàli, những pháp nào nhà ngươi biết đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là pháp, là luận, là lời dạy Thế Tôn"

(Tăng Chi IV, 117)

          -  "Này Gotami, những pháp nào người biết đưa đến tham dục (sârâgâ), không phải ly tham; đưa đến hệ phược; không đưa đến ly hệ; đưa đến tích tập; đưa đến dục lớn không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội; không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác; không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng; không đưa đến để nuôi dưỡng (sutharatàya). Này Gotami, hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đó không phải là pháp; đó không phải là luật; đó không phải là lời dạy của Đạo Sư".

          Và này Gomati, những pháp nào mà ngươi biết đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến hệ phược, đưa đến không tích tập; không đưa đến tích tập, đưa đến dục ít, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến để lấy nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng. Này Gotami hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư" (Tăng Chi Bộ IV, 219)

          Các lời Phật dạy trên trích trong các bản dịch của HT Thích Minh Châu. Số trang theo bộ cũ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11667)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16747)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9228)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17816)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9467)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8650)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10296)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21500)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8699)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8450)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.