Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:57(Xem: 3980)
Lời Phật Dạy (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

Phat thuyet phap

LỜI PHẬT DẠY
 HT. Thích Thiện Châu giảng giải
Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

I- KINH PHẬT VÀ KINH TỔ

 

"Thuở xưa, này các Tỳ Kheo, dân chúng Dâssârahâ có một cái trống, tên là Anaka. Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dâssârahâ đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian này các Tỳ Kheo, cả các thùng ván của Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ hợp lại. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, những vị Tỳ Kheo sẽ thành trong tương lai."

          Những bài kinh nào do Như Lai thuyết thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, chúng sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ không lóng tai, chúng sẽ không an trú tâm chánh trí, và chúng sẽ không nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm ra, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những cây văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, chúng sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng. Chúng sẽ lóng tai, chúng sẽ an trú tâm chánh trí và chúng sẽ nghĩ rằng: các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, sẽ đi đến tiêu diệt (Tương Ưng Bộ II, 255)

 

          2- CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          - "Này Kassapa, Chánh pháp không biến mất, cho đến khi nào Tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp không hiện ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời chánh pháp biến mất" (Tương Ưng Bộ, II, 212)

 

          3-  PHÂN BIỆT CHÁNH PHÁP VÀ TƯỢNG PHÁP

 

          -  "Này Upàli, những pháp nào mà ngươi biết không đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là không phải pháp, không phải luật, không phải lời dạy Thế Tôn. Và này Upàli, những pháp nào nhà ngươi biết đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn, thời này Upàli, phải nhất hướng thọ trì là pháp, là luận, là lời dạy Thế Tôn"

(Tăng Chi IV, 117)

          -  "Này Gotami, những pháp nào người biết đưa đến tham dục (sârâgâ), không phải ly tham; đưa đến hệ phược; không đưa đến ly hệ; đưa đến tích tập; đưa đến dục lớn không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội; không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác; không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng; không đưa đến để nuôi dưỡng (sutharatàya). Này Gotami, hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đó không phải là pháp; đó không phải là luật; đó không phải là lời dạy của Đạo Sư".

          Và này Gomati, những pháp nào mà ngươi biết đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến hệ phược, đưa đến không tích tập; không đưa đến tích tập, đưa đến dục ít, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến để lấy nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng. Này Gotami hãy thọ trì nhất hướng rằng: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư" (Tăng Chi Bộ IV, 219)

          Các lời Phật dạy trên trích trong các bản dịch của HT Thích Minh Châu. Số trang theo bộ cũ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8984)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 10695)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12774)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7596)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10324)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9707)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10980)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9434)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8950)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8898)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.