Tịnh Độ Nhân Gian

16/02/202308:12(Xem: 3915)
Tịnh Độ Nhân Gian

Tịnh Độ Nhân Gian

Thích Thiện Châu

 

 

 

Phần đông Phật tử Việt Nam tu dưỡng theo pháp môn Tịnh độ A Di Đà nên thường nhất tâm niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Tín ngưỡng phổ thông này tuy không phát xuất từ kinh điển căn bản song rất thích hợp với những người hằng mong cầu một đời sống an lành ở kiếp sau.

Tuy nhiên nếu Phật tử chỉ lo cho được sanh về thế giới Cực Lạc sau khi chết mà lãng quên hay chán ngán thế giới mình đang sống vì cho là ô uế, đau khổ, không đáng quan tâm thì đó là quan niệm không hợp với Phật lý.

Thế giới này quả thật là ô uế và đau khổ, điều này không ai có thể phủ nhận. Nhưng câu hỏi mà bất cứ người nào có ý thức xã hội cũng đặt ra là tại sao Phật tử không áp dụng Phật lý để cải tạo, thanh tịnh hóa, và biến nó thành thế giới thanh tịnh an lành? Đây cũng là vấn đề mà nhiều nhà Phật học đã đề cập: Tịnh độ nhân gian mà đại biểu là Tịnh độ Di Lặc.

Trong khi văn chương Tịnh độ Di Đà, Dược Sư ca ngợi những thế giới an lành xa xôi ngoài trái đất thì văn chương Tịnh độ Di Lặc khuyến khích xây dựng thế giới an lành ngay trong môi trường mà loài người đang sinh sống.

Theo kinh điển thì trong tương lai, Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) sẽ xuất hiện trên trái đất này tu hành thành Phật và cộng tác với Chuyển Luân Vương (Cakravartin) để cải tạo thế giới này thành Tịnh độ về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất thì đất sẽ sạch gai góc và cỏ mềm như nhung trải khắp nơi, cây cối xanh tươi, hoa quả thanh mậu, đường sá phẳng phiu, bóng lộn, phố phường đông đúc, nhà cửa thành quách được xây dựng bằng nhiều loại đá quí, âm nhạc hòa vang khắp nơi: về tinh thần thì dân chúng sống lâu, hòa hài, an lành, không có chiến tranh, áo cơm đầy đủ, của cải dư dả, nhà cửa khang trang nơi đại tiểu tiện đều thanh khiết, mọi người thông hiểu nhau bằng một thứ ngôn ngữ, thương yêu nhau như anh em, đời sống đạo  đức rất cao, không có giết chóc, trộm cướp nên không có tù tội và nhà lao v.v…(xem Tăng Nhất A Hàm, 44, Taishô, II, 787; Kinh Di Lặc Hạ Sanh, Diệu Không dịch).

Đọc qua những sự mô tả về cảnh sống lý tưởng trên chúng ta liên tưởng đến một phần nào tiến bộ vật chất nhờ khoa học kỹ thuật mang lại của thế giới hiện đại. Nhưng về phương diện tinh thần thì có lẽ phải đợi một thời gian  lâu nữa, thế giới này nếu có thay đổi về phương diện văn hóa, đạo đức mới mong có thể theo kịp Tịnh độ Di Lặc.

Điều cần lưu ý là tư tưởng Tịnh độ Di Lặc này được ghi chép trong kinh điển nguyên thủy và có thể chất phác hơn những tư tưởng Tịnh độ khác được phát triển về sau như tư tưởng Tịnh độ Di Đà, Tịnh Độ Dược Sư. Cũng vì vậy mà nó có vẻ thực tế, chất phác, và gần gũi với thế giới mà chúng ta đang sống. Do đó nó cũng thiết tha với những người có lý tưởng muốn cải tạo và xây dựng xã hội ngày nay, nhất là về phương diện văn hóa, đạo đức.

Có một điều làm cho chúng ta thắc mắc là vấn đề thời gian: bao lâu nữa thì Tịnh độ Di Lặc mới xuất hiện? Theo kinh điển thì còn lâu, có thể là cả triệu năm nữa. Con số thời gian ở đây phải được hiểu như là con số tượng trưng mà chúng ta thường thấy trong kinh điển được ghi chép ở Ấn Độ. Vì thế không nên câu nệ vào con số mà nên  nắm lấy ý nghĩa: cảnh sống lý tưởng sẽ xuất hiện trong  tương lai khi mọi người trên trái đất này đều giác ngộ chân lý, có tinh thần lợi tha và nhất là quyết tâm cùng nhau thực hiện cuộc sống đáng yêu đáng sống của loài người.

Điểm mâu thuẫn khác cũng cần được giải quyết là làm sao chúng ta có thể đợi chờ một cảnh sống lý tưởng trong khi mục đích của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Theo thiển ý: đối với người có đại nguyện lớn muốn kiến tạo Tịnh độ nhân gian thì số thời gian sống chết, lăn lộn để thực hành đạo Bồ Tát trên đường giác ngộ, dưới phục vụ chúng sanh - chẳng có gì là quan trọng. Bởi chúng ta không thể xa lìa chúng sanh mà độ được chúng sanh. Và dầu cho có chứng Niết Bàn rồi cũng phải trở lại độ chúng sanh trong luân hồi. Hơn nữa vì nguyện mà ở trong luân hồi thì không bao giờ khổ (khổ chăng vì nghiệp mà luân hồi). Lý "Niết Bàn luân hồi" giúp chúng ta nhẫn nhục, hoan hỉ, tự tại trong công cuộc kiến tạo Tịnh độ nhân gian. Đạo lý này cũng giúp chúng ta phá bỏ những tư tưởng sợ sệt chán ghét, và bi quan đối với cuộc đời.

Nói đến Tịnh độ nhân gian hay Tịnh độ Di Lặc tức là nói đến niềm hy vọng lớn về sự xuất hiện một mùa Xuân an lành mà mỗi chúng ta sẽ là một Di Lặc kiến tạo cảnh sống lý tưởng bằng cách liên tục, tích cực tham gia công tác kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa v.v… để thực hiện một uớc mơ cộng đồng cao đẹp của loài người: Biến thế giới ô uế khổ đau này thành thế giới thanh tịnh an lành.

 

 

Đây là Tịnh độ

Tịnh độ là đây

Mỉm cười chánh niệm

An trú hôm nay

 

Bụt là lá chín

Pháp là mây bay

Tăng thân khắp chốn

Quê hương nơi này

 

Thở vào hoa nở

Thở ra trúc lay

Tâm không bận rộn

Tiêu dao tháng ngày…

Thích Nhất Hạnh

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11667)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16747)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9226)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17816)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9467)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8650)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10294)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21497)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8698)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8450)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.