Vu Lan

16/02/202308:13(Xem: 3691)
Vu Lan

VU LAN

Lễ báo hiếu

 

Vu Lan là lễ quan trọng thứ hai, sau lễ Phật Đản, của Phật tử ở những nước chịu ảnh hưởng Phật Giáo đại thừa như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản v.v... Lễ này bắt nguồn từ kinh Vu Lan Bồn (Ulumbana ; giải thoát nỗi khổ bị treo ngược) do pháp sư Dharmaraksa dịch từ chữ Sanskrit ra chữ Trung Quốc vào đời Tây Tấn (266-316). Ý kinh có thể tóm tắt như sau :

Mục Kiền Liên (Maugalyâyâna), sau khi giác ngộ nhờ có thần thông, thấy Mẹ đang bị đọa đày, đói khát trong cảnh giới quỉ đói (ngả quỉ). Ngài đến thăm và dâng cơm cho mẹ. Mẹ Ngài bốc cơm ăn nhưng cơm hóa lửa (vì nghiệp chướng) không ăn được. Mục Kiền Liên hết sức đau đớn. Song tự một mình mình không cứu được mẹ. Theo lời Phật đến ngày rằm tháng bảy, ngày mãn mùa tu học của chư tăng, ngài cúng dường và cầu chư tăng khắp mười phương chuyển nghiệp cho mẹ. Kết quả là mẹ Ngài và những chúng sanh cùng cảnh ngộ đều được giải thoát.

Gần đây, kinh Vu Lan được tụng đọc rất nhiều trong ngày rằm tháng bảy hay suốt cả mùa Vu Lan tháng bảy. Các chùa xã hội Phật giáo đều tổ chức long trọng lễ Vu Lan như lễ cúng dường chư tăng vào dịp « tự tứ » (lễ sám hối sau 3 tháng tu học) để cho phật tử tại gia có dịp cầu phước cho ông bà cha mẹ mà chưa khai triển hết tinh thần của lễ.

Đó là chưa nói đến việc đối với phần đông dân chúng còn giữ phong tục cũ, lễ Vu Lan vẫn là lễ « xá tội vong nhân » hay lễ « cúng cô hồn ». Do đó, nhiều hình thức mê tín dị đoan được phát sinh trong ngày lễ này : cúng kiến bừa bãi dưới gốc đa, gốc đề, ở ngã ba đường cái, có cả heo, gà, rượu, vàng mã kể cả xe ô tô, máy truyền thanh, truyền hình bằng giấy...Lễ Vu Lan cũng bị những kẻ đầu cơ tôn giáo, thầy pháp, thầy phù thủy làm sai lạc ý nghĩa, có hại cho dân chúng và đất nước.

Ngày nay, trong hoàn cảnh mới của đất nước, với khí thế đi lên của dân tộc, lễ Vu Lan phải được hiểu và tổ chức một cách đúng đắn lợi ích để một mặt ngăn chặn những tập quán mê tín dị đoan, và mặt khác, phát huy truyền thống văn hóa tố đẹp của dân tộc.

Như vậy, ý nghĩa lễ Vu Lan là gì? Có thể nói rằng Vu Lan là lễ báo hiếu của Phật tử.

chữ hiếu

Trước khi bàn đến báo hiếu, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua ý nghĩa chữ hiếu theo tinh thần đạo Phật áp dụng trong thực tại Việt Nam. Hiếu là sự kính thương, phụng dưỡng, nối chí đối với những người đã cho ta sự sống. Hiếu không những chỉ là bổn phận mà còn là quyền lợi thiêng liêng của con người biết ân nghĩa. Cha mẹ là người đã sinh thành ta. Vì thế, chúng ta phải hiếu với cha mẹ. Song sự sống còn, nhất là sự sống có ý nghĩa, của ta là nhờ công ơn của chúng sanh xã hội. Vì thế, chúng ta phải hiếu với cả đồng bào, nhân loại : đồng bào nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ ta, nhân loại (anh em bạn bè trên thế giới có quan hệ tốt với ta ) sống chung và ủng hộ ta. Hơn nữa, nhìn vào chiều sâu thăm thẳm của thời gian thì sự sống quí báu của kiếp người mà chúng ta có trong hiện tại, ngoài công đức của cha mẹ và xã hội, còn nhờ công đức của nhiều chúng sanh khác, trong tình nghĩa cha mẹ, anh em bà con, qua nhiều đời nhiều kiếp ở quá khứ. Nói cách khác, trong những người mà chúng ta có quan hệ tốt trong đời này nhất định có rất nhiều người là cha mẹ, trong nghĩa hẹp cũng như trong nghĩa rộng, của chúng ta trong quá khứ. Chính những người này đã giúp đỡ chúng ta có đủ điều kiện tích lũy phước đức để được làm người hôm nay.

Vì thế, theo đạo Phật, hiếu với cha mẹ trong hiện tại là tròn bổn phận làm con, còn hiếu với nhiều chúng sanh qua nhiều đời nhiều kiếp là tu hành theo hạnh Bồ tát.

báo hiếu

Đối tượng báo hiếu đã rộng và nhiều như thế cho nên phương thức báo hiếu phải rất là phong phú. Đối với « cha mẹ » đã mất thì tri ân tưởng niệm là cần thiết. Song đối với « cha mẹ » còn sống thì thay đổi cuộc đời khổ đau, xây dựng cuộc sống an lành là quan trọng. Muốn đổi thay cuộc đời cho « cha mẹ » chúng ta phải vận dụng mọi phương tiện trong nhiều phạm vi gồm cả chính trị, kinh tế, văn hóa v.v... Như vậy là chúng ta phải báo hiếu với tất cả tài năng, trí tuệ, của cả cuộc đời hay nhiều đời và điều chắc chắn là phải nhờ cậy và cộng tác với nhiều người khác nữa.

Riêng Phật tử Việt Nam hiếu có nghĩa là kính thương, phụng dưỡng và nối chí không những đối với cha mẹ sanh thành mà còn đối với những anh hùng liệt nữ trong nước, bè bạn trên thế giới, từ bao nhiêu thế hệ, đã tranh đấu, hy sinh cho sự sống cón có ý nghĩa tốt đẹp của chúng ta hôm nay.

 Hành động báo hiếu cụ thể của Phật tử Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước là cùng với mọi người cố gắng liên tục giải thoát cha mẹ, bà con đồng bào ra khỏi tình trạng nghèo thiếu, dốt nát mất nhân phẩm. Ngoài ra, trên bình diện chúng sanh xã hội, chúng ta nên ủng hộ và cộng tác với anh em bè bạn tiến bộ  trên thế giới trong sự nghiệp xây dựng hòa bình và an lạc cho toàn thể nhân loại.

lễ Vu Lan

Với ý nghĩa trên thì lễ Vu Lan phải được tổ chức thế nào để người tham dự, qua nghi lễ giản dị trang nghiêm, hiểu được ý nghĩa sâu sắc, cao rộng của chữ Hiếu và cảm thấy được hướng dẫn đầy đủ trong hành động báo hiếu có hiệu quả. Theo thiển ý, lễ Vu Lan có thể được tổ chức với hai mục đích sau đây :

1. Biểu lộ lòng biết ân với cha mẹ và những người đã cho ta sự sống (đối với người đã mất thì tổ chức tưởng niệm, đối với người còn sống thì lễ chúc tụng)

2. Để ra phương thức báo hiếu cụ thể nhằm đưa dân tộc (trong đó có cha mẹ), nhân loại ra khỏi tình trạng nghèo khổ bất an, tiến tới cuộc sống no ấm, an lành.

Paris, mùa Vu Lan 2520-1976

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11667)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16746)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9225)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17816)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9467)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8650)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10294)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21494)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8698)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8450)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.