Kinh Những Con Thiêu Thân (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:45(Xem: 4992)
Kinh Những Con Thiêu Thân (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

con thieu than
KINH NHỮNG CON THIÊU THÂN

HT. Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

I/ Giới thiệu

 

Đây là những bài kinh ngắn được rút ra từ tập "Phật tự thuyết" (Udâna) (2) phẩm thứ 6 trang 72 (Pali texet Society) thuộc tiểu bộ kinh (Khuddaka Nikâya) gồm 15 quyển.

Nội dung kinh nói về: Một hôm  Phật đang ngồi giữa trời, trong đêm tối, bên cạnh dĩa đèn dầu cháy sáng. Sau khi thấy những con kiến cánh, mối bay, dế mèm v.v… tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu và chết một cách thảm thương, Phật liền nói lên bài kệ mà đại ý như sau:

Trong thế gian có nhiều người giàu lý tưởng, có quyết tâm, đầy thiện chí, luôn luôn muốn mang hết sức cố gắng vượt qua những phiền phức, khó khăn, nhiều khi phải hy sinh cả mạng sống để tìm cầu và thực hiện Chân Thiện Mỹ. Song rất ít người thành tựu được ước nguyện. Nguyên nhân vì đâu? Theo Phật thì bởi vì người đời thiếu trí tuệ  sáng suốt để phân biệt được phải trái, lành ác, chơn giả v.v… hoặc bởi vì không có bạn tốt, thầy sáng dắt dìu chia sẻ kinh nghiệm đứng đắn nên dễ dàng chấp nhận những điều thấy nghe sai lạc của mình hay tin tưởng những lời dạy kinh sách tà vạy, phương pháp tu dưỡng nguy hiểm của kẻ khác mà phải rơi vào vực thẳm tà kiến, vọng tưởng, mê lầm; cuối cùng phải mang lấy tai ương đau khổ. Chúng ta phải chịu đọa đày đau khổ  vì bị rơi vào tà đạo, điều ấy là tất nhiên. Tuy nhiên dù có gặp chánh đạo mà cố chấp nghi lễ, văn tự, tạo thêm những điều ràng buộc phi lý, vô ích gây thêm nhiều phiền não cho mình, cho người và không tự nhận chân lý nơi thực tế thì chúng ta vẫn bị giam hãm trong ngục tù vọng tưởng hay chơi vơi  trên mấy lý luận nói bàn để cười đùa cho vui mà không đem lại thật lợi ích.

Bài học đạo lý của Phật về những con thiêu thân quả thật là giản dị, nhưng chí lý và ích lợi cho những ai muốn trông thấy và được sống trong ánh sáng ấm áp tươi đẹp của mặt trời.

 

 II/ Chánh kinh

 

Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn ở tại  Savatthi trong vườn ông Anathapindika và rừng cây Jeta (3). Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời , trong đêm tối đen nghịt, với những dĩa đèn dầu cháy sáng. Khi ấy nhiều côn trùng có cánh (4) tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu ấy, gặp phải tai họa, phải bị hủy diệt, gặp tai họa và bị hủy diệt.

Thế Tôn khi đã thấy những côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu cháy sáng, gặp phải tai họa, phải bị hủy diệt, gặp tai họa và bị hủy diệt, và sau khi Thế Tôn hiểu được ý nghĩa này, liền nói lên lời cảm hứng này : „chúng chạy gấp, song không tới nơi chân thật, lại làm tăng thêm điều ràng buộc mới mẻ. Những người cố chấp vào những điều thấy nghe giống như những côn trùng rơi vào lửa đèn“

 

III/ Chú thích sơ lược

 

1-    Tựa này do dịch giả đặt ra theo ý nghĩa của kinh.

2-    Phật tự thuyết- Đây là quyển thứ ba trong 15 quyển thuộc tiểu bộ kinh (Kuddaka Nikâya).  L. Woodward dịch ra Anh ngữ; Pâli text society ấn hành 1935. Thượng Tọa Thích Minh Châu đã dịch ra Việt ngữ, tủ thư Phật học Vạn Hạnh ấn tống 1978.

3-    Vườn ông Anathapindika và rừng cây Jeta: ông Anathapindika cảm mộ Phật nên lấy vàng lát đất để mua vườn cho Phật ở (nhưng không lót vàng được những chỗ có cây). Còn thái tử Jeta vì cảm mến lòng thành của ông Anathapindika đối với Phật nên dâng cúng rừng cây cho Phật; do đó mới có danh từ này.

4-    Những côn trùng có cánh như kiến cánh, mối bay, dế mèn, phù du v.v…

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 11718)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16773)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 9258)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17843)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.
09/04/2013(Xem: 9487)
Bác Phạm Đăng Siêu sinh ngày 4 tháng 7 năm Nhâm tý (1912) tại Phú Hòa, kinh đô Phú Xuân, thành phố Huế. Nguyên quán thôn Tân Niên Đông, huyện Tân Hòa, phủ Tân Định, tỉnh Gò Công. Song thân Bác là cụ ông Phạm Đăng Nghiệp và cụ bà Tôn Nữ Thị Uyên, thuộc gia đình quý tộc giàu có.
09/04/2013(Xem: 8661)
Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.
09/04/2013(Xem: 10310)
Hòa Thượng thế danh Phan Công Thành, pháp danh Nguyên Trạch, tự Chí Công, Hiệu Giác Lâm, thuộc đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế, pháp phái Liễu Quán.
09/04/2013(Xem: 21587)
TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầy xuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Di sớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của người làm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Nam cũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuất gia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, cho nên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêng năng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngài kể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dưới bàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật, sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đã thấy được trí tánh thông minh của Thầy......
09/04/2013(Xem: 8711)
Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này.
09/04/2013(Xem: 8458)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận-Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðét miền Nam nước Việt, sinh Năm Ất Hợi (1935). Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu.