Kinh Những Con Thiêu Thân (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

16/02/202307:45(Xem: 4958)
Kinh Những Con Thiêu Thân (Do HT. Thích Thiện Châu giảng giải và Phật tử Diệu Danh diễn đọc)

con thieu than
KINH NHỮNG CON THIÊU THÂN

HT. Thích Thiện Châu giảng giải

Phật tử Diệu Danh diễn đọc

I/ Giới thiệu

 

Đây là những bài kinh ngắn được rút ra từ tập "Phật tự thuyết" (Udâna) (2) phẩm thứ 6 trang 72 (Pali texet Society) thuộc tiểu bộ kinh (Khuddaka Nikâya) gồm 15 quyển.

Nội dung kinh nói về: Một hôm  Phật đang ngồi giữa trời, trong đêm tối, bên cạnh dĩa đèn dầu cháy sáng. Sau khi thấy những con kiến cánh, mối bay, dế mèm v.v… tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu và chết một cách thảm thương, Phật liền nói lên bài kệ mà đại ý như sau:

Trong thế gian có nhiều người giàu lý tưởng, có quyết tâm, đầy thiện chí, luôn luôn muốn mang hết sức cố gắng vượt qua những phiền phức, khó khăn, nhiều khi phải hy sinh cả mạng sống để tìm cầu và thực hiện Chân Thiện Mỹ. Song rất ít người thành tựu được ước nguyện. Nguyên nhân vì đâu? Theo Phật thì bởi vì người đời thiếu trí tuệ  sáng suốt để phân biệt được phải trái, lành ác, chơn giả v.v… hoặc bởi vì không có bạn tốt, thầy sáng dắt dìu chia sẻ kinh nghiệm đứng đắn nên dễ dàng chấp nhận những điều thấy nghe sai lạc của mình hay tin tưởng những lời dạy kinh sách tà vạy, phương pháp tu dưỡng nguy hiểm của kẻ khác mà phải rơi vào vực thẳm tà kiến, vọng tưởng, mê lầm; cuối cùng phải mang lấy tai ương đau khổ. Chúng ta phải chịu đọa đày đau khổ  vì bị rơi vào tà đạo, điều ấy là tất nhiên. Tuy nhiên dù có gặp chánh đạo mà cố chấp nghi lễ, văn tự, tạo thêm những điều ràng buộc phi lý, vô ích gây thêm nhiều phiền não cho mình, cho người và không tự nhận chân lý nơi thực tế thì chúng ta vẫn bị giam hãm trong ngục tù vọng tưởng hay chơi vơi  trên mấy lý luận nói bàn để cười đùa cho vui mà không đem lại thật lợi ích.

Bài học đạo lý của Phật về những con thiêu thân quả thật là giản dị, nhưng chí lý và ích lợi cho những ai muốn trông thấy và được sống trong ánh sáng ấm áp tươi đẹp của mặt trời.

 

 II/ Chánh kinh

 

Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn ở tại  Savatthi trong vườn ông Anathapindika và rừng cây Jeta (3). Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi giữa trời , trong đêm tối đen nghịt, với những dĩa đèn dầu cháy sáng. Khi ấy nhiều côn trùng có cánh (4) tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu ấy, gặp phải tai họa, phải bị hủy diệt, gặp tai họa và bị hủy diệt.

Thế Tôn khi đã thấy những côn trùng có cánh tiếp tục rơi vào những dĩa đèn dầu cháy sáng, gặp phải tai họa, phải bị hủy diệt, gặp tai họa và bị hủy diệt, và sau khi Thế Tôn hiểu được ý nghĩa này, liền nói lên lời cảm hứng này : „chúng chạy gấp, song không tới nơi chân thật, lại làm tăng thêm điều ràng buộc mới mẻ. Những người cố chấp vào những điều thấy nghe giống như những côn trùng rơi vào lửa đèn“

 

III/ Chú thích sơ lược

 

1-    Tựa này do dịch giả đặt ra theo ý nghĩa của kinh.

2-    Phật tự thuyết- Đây là quyển thứ ba trong 15 quyển thuộc tiểu bộ kinh (Kuddaka Nikâya).  L. Woodward dịch ra Anh ngữ; Pâli text society ấn hành 1935. Thượng Tọa Thích Minh Châu đã dịch ra Việt ngữ, tủ thư Phật học Vạn Hạnh ấn tống 1978.

3-    Vườn ông Anathapindika và rừng cây Jeta: ông Anathapindika cảm mộ Phật nên lấy vàng lát đất để mua vườn cho Phật ở (nhưng không lót vàng được những chỗ có cây). Còn thái tử Jeta vì cảm mến lòng thành của ông Anathapindika đối với Phật nên dâng cúng rừng cây cho Phật; do đó mới có danh từ này.

4-    Những côn trùng có cánh như kiến cánh, mối bay, dế mèn, phù du v.v…

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 5870)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9565)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28310)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13661)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9183)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16656)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12090)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20743)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17686)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12128)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.