Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Hai Phước Duyên tròn đầy (kính tưởng niệm Sư Bà Diệu Tâm)

30/09/202118:47(Xem: 478)
Hai Phước Duyên tròn đầy (kính tưởng niệm Sư Bà Diệu Tâm)
su ba dieu tam
Bác sĩ Thị Minh Văn Công Trâm, Sư Bà Diệu Tâm & TT Tâm Phương (tháng 9/2018)



Hai Phước Duyên tròn đầy

 

Bài viết của: BS Thị Minh Văn Công Trâm

được đăng tải trên trang nhà Quảng Đức

Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh


 

Ai cũng nói, tôi có phước duyên lớn mới được làm bào đệ của Sư Bà Diệu Tâm.  Tôi cũng cảm thấy như thế, tuy không may mắn ít khi được sống gần Sư Bà. Thì quả đúng vậy, tuy là chị em cùng cha cùng mẹ nhưng làm sao có thể sống gần gũi với nhau trong cùng một mái nhà khi Sư Bà là tu sĩ phải sống trong chùa với ni chúng còn tôi lại là người thế tục.

Ngày Sư Bà còn ở Hội An thì tôi lại ra Huế học trường Bồ Đề Hàm Long. Khi tôi quay về Hội An đi học trường trung học Trần Quí Cáp thì lúc ấy Sư Bà đang chuẩn bị dọn đến Đà Nẵng, trước để cùng Sư phụ lập Chùa Sư Nữ Bảo Quang và sau đó trực tiếp lo chăm sóc cho hơn 200 trẻ em trong Cô Nhi Viện Diệu Định. Chỉ một năm học đệ nhất trường Phan Châu Trinh là tôi trú ở Thanh Khê vùng ngoại ô Đà Nẵng. Nhưng như vậy cũng không phải là được ở gần chùa Sư Bà. Lúc đó tôi lại phải dồn mọi nỗ lực cho một kỳ thi quyết định của một thanh niên trong hoàn cảnh chiến tranh leo thang dồn dập sau Tết Mậu thân. Sau khi thi đỗ tú tài toàn phần thì tôi lại du học sang Tây Đức ngay.

Ba má chúng tôi qua đời rất sớm, gia đình bốn chị em lưu lạc mỗi người mỗi ngã, nên từ bé chúng tôi ai cũng phải tự lập. Khi mới chỉ 10 tuổi tôi đã phải xa quê. Lúc ở Hội An có khi phải đi kèm trẻ ở nhờ nhà người để được cho ăn ở miễn phí. Sư Bà Diệu Tâm thì trước đó, từ khi 15 tuổi đã đi xuất gia và trong thời gian hành điệu không dễ gì được phép về thăm gia đình.

Trong những ngày cơ cực khó khăn ấy, mỗi khi có cơ hội gặp nhau Sư Bà vẫn thường khuyên bảo anh em chúng tôi phải biết chấp nhận kham khổ để tự vươn lên, không nhường bước cho số phận định đoạt cuộc đời mình. Sư Bà thường nhắc cho anh em chúng tôi nghe về câu chuyện lúc má chúng tôi trên giường bệnh. Bà đã không lo lắng vì bệnh tật hành hạ mà chỉ sợ hai đứa con trai còn bé quá sau này chắc sẽ bị thất học, không làm được gì lợi ích cho đời. Và như vậy chúng tôi đã níu chặt vào lời khuyên ấy của Sư Bà mà cố đứng lên sau nhiều lần vấp ngã, để đi tiếp phần còn lại của đời mình.

Ngay cả từ năm 1984, sau khi bảo lãnh Sư Bà đến định cư ở Hamburg, Đức quốc; do hoàn cảnh nghề nghiệp tôi đã phải đi làm việc ở một bệnh viện xa cách chùa Bảo Quang gần 500 cây số. Dù lúc này đang ở xứ người có nhiều phương tiện nhưng chúng tôi cũng chỉ có thể gặp nhau chừng 7, 8 lần trong một năm. Nhưng bù lại - và là một may mắn cho tôi -  thời gian cuối đời của Sư Bà tôi được cơ hội gần gũi và được chăm sóc sức khỏe Sư Bà, trong vai trò một người em trai mà cũng là cương vị của một bác sĩ. Đó là khoảng thời gian bắt đầu từ cuối năm 2013 đến khi Sư Bà viên tịch vào năm 2021, từ lúc vợ chồng chúng tôi đã hưu trí dọn hẳn về Hamburg. Đây chính là phước duyên lớn thứ hai cho tôi.

Có lần vào năm 2015, sau khi đi bác sĩ khám bệnh về, vị bác sĩ của Sư Bà có nhờ tôi tiếp tục làm một số khám nghiệm tại nhà, để khỏi phải phiên dịch qua lại mất thì giờ cả hai bên. Lúc nắm tay Sư Bà thấy tay Sư Bà run run vì đã quá ốm, tôi hơi buồn và lo. Nhận thấy nỗi lo của tôi Sư Bà mới với tay lấy cuốn kinh trên kệ sách và nhờ tôi đọc giúp, nói là vì không có chiếc kính lão ở đó (Sư Bà vẫn thường như vậy, người thường giả bộ nhờ ai đó đọc giúp cho một câu, một đoạn sách báo gì đó nhưng thật ra là để cho chính họ hiểu và tự suy ngẫm.

Đó là một câu chuyện ngày nào ở nước Xá Vệ, rừng cây Kỳ Đà.

An Nan quan sát thân Như Lại, lấy hai tay sờ chân Như Lai, rồi nói như vầy: “Thân thể của đấng Thiên Tôn vì sao thế này? Thân nhăn quá vậy! Thân Như Lai không như xưa.”

Thế Tôn bảo: “Thật vậy, A-nan, đúng như những gì ông nói. Nay thân Như Lai, da thịt đã nhăn, thân thể hiện tại không như xưa. Sở dĩ như vậy là vì, phàm có thân thể là bị bệnh thúc ép. Đáng bệnh, chúng sanh bị bệnh vây khốn; đáng chết, chúng sanh bị chết bức bách. Nay Như Lai tuổi đã suy vi, đã hơn 80.”         

A-nan nghe những lời này, buồn khóc nghẹn ngào không tự nén được  liền nói lời này: “Than ôi! Sự già đã đến đây rồi!” (…)

Ngay lúc đó tôi cũng đã thật sự có cảm nhận như vậy. Tôi mơ hồ nhận ra rằng, đã sắp đến ngày chị em chúng tôi sẽ phải chia tay nhau. Lúc đó Sư Bà mới giải thích thêm cho tôi. „Đã mang thân tứ đại này thì ai cũng bước qua ngưỡng cửa sanh già bệnh chết. Cậu là bác sĩ thấy hoài cảnh ấy mà suy nghĩ làm chi. Tôi đã sắp tám mươi rồi chứ ít gì“ (lúc đó là 2015, giống như đa số người Việt Nam mình Sư Bà cũng nói ăn gian vậy, chứ thật ra năm đó người mới 77 tuổi ta)

Y Khoa Đức đào tạo đám sinh viên chúng tôi bảy năm thành bác sĩ. Suốt bảy năm đó, từ một học sinh vừa hết bậc trung học, chưa hề có ý niệm gì về khám và chữa bệnh sinh viên phải học để trang bị đầy đủ cho mình các kiến thức để chữa trị và săn sóc bệnh nhân, như xã hội kỳ vọng ở một người thầy thuốc. Y học Tây phương đã dạy cho chúng tôi, là những bác sĩ đứng cùng phía với bệnh nhân để chiến đấu hầu đánh gục bệnh tật. Trong cuộc tranh đấu kẻ mất người còn này, chúng tôi hoặc dùng thuốc, hoặc dùng phương tiện mổ xẻ hòng đè bẹp được những căn bệnh nan y. Cuộc tranh đấu gay go ấy tôi đã làm hằng ngày suốt hơn 30 năm trường; kết quả lúc này lúc kia, tưởng chừng như bất phân thắng bại. Nhưng nghiệm cho cùng, sao có nhiều người ra đi về bên kia thế giới và dịch bệnh vẫn cứ tràn lan? Sao bệnh viện vẫn cần nhiều bác sĩ miệt mài chiến đấu với bệnh từ thế hệ này sang thế hệ khác? Ai thắng ai thua?

Nhưng ngược lại, trong bảy năm gần gũi với Sư Bà tôi đã học được cả khối việc, những việc mà trường Y không dạy cho tôi được. Phải chăng, cũng vì lý do ấy mà bác sĩ Kỳ Đà ngày xưa đã có được bao nhiêu niềm hỷ lạc khi được có cơ hội hầu hạ chúng Tăng và đức Phật. Nói lời như thế chắc cũng không ngoa!

Trong quá trình hành nghề, tôi đã tiếp xúc nhiều bệnh nhân. Thông thường khi họ quá đau đớn, khi xin thuốc giảm đau thì họ nhăn nhó, có khi bực dọc, hò hét, la chửi… Bác sĩ ở Đức với tất cả những phương tiện tân tiến trong tay, dùng thuốc không hạn chế nhưng nhiều khi cũng phải bó tay nếu bệnh nhân không cùng hợp lực để chữa trị cho mình. Việc hợp tác chữa bệnh có khi không dễ chịu, phải đau đớn, cần nhiều nghị lực. Nói vậy, có nghĩa là các bác sĩ chúng tôi thường chỉ chăm lo cái thân vật lý của con bệnh. Nói theo ngôn ngữ nhà chùa là cái thân tứ đại. Giờ thì tôi mới ngộ ra rằng, cái thân của một con người có thể rất yếu, rất bệnh; nhưng nếu tinh thần đủ mạnh, ý chí và tâm đạo vững vàng, thì họ có thể đủ sức tự vượt qua những khúc quanh ngặt nghèo, những hoạn nạn trong cuộc sống, kể cả bệnh tật. Sư Bà Diệu Tâm, dưới mắt nhìn y khoa của tôi là một trường hợp như vậy.

Hơn ai hết, tôi biết rất rõ: Sư Bà lọt lòng mẹ sớm, chỉ mới hơn 7 tháng cưu mang. Chữ thông thường giới y khoa Đức nói với nhau, tuy không ghi trong văn bản, là „Frühchen“. Thống kê y tế cho biết những đứa bé này dễ bị bệnh tật và khó có tuổi thọ như những trẻ em cưu mang đủ 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ. Nhưng nếu so với tuổi thọ của người Việt Nam thông thường thì đến ngày viên tịch Sư Bà đã thọ đến 83 tuổi, tức là được xếp vào hàng „thọ“ rồi.

Thời trẻ còn ở Việt Nam Sư Bà đã mang bệnh tim mạch và suyễn với triệu chứng thường phát nặng vào những mùa đông lạnh mưa bão ở miền Trung. Chính vì lý do đó trước khi xin phép vào chùa xuất gia, ba má chúng tôi rất lo lắng là không biết Sư Bà có chịu đựng nổi đời sống cơ cực nhà chùa trong thời gian hành điệu hay không. Nhưng rồi mọi việc đâu cũng vào đó. Lúc bấy giờ ni chúng chùa Sư nữ Bảo Thắng Hội An ngoài các thời công phu khuya sớm còn phải tự chăm sóc, canh tác ruộng vườn. Các điệu thường mỗi ngày luân phiên gánh rau, hoa quả lên chợ Hội An, cách chùa độ 4, 5 cây số để bán cho có thêm nguồn thu nhập. May thay khi các điệu gánh lên đến chợ thì thường đã có những Phật tử đón mua trọn cả gánh và các điệu không cần ngồi ngoài chợ bán lẻ từng bó rau, từng củ bắp… như người thường.

Nhìn vào hồ sơ bệnh lý thì có lẽ năm 2016 là năm có các triệu chứng y khoa quyết định đời sống Sư Bà:

-  Tháng 2/2016 Sư Bà bị sưng phổi nặng phải đưa vào bệnh viện điều trị 2 tuần lễ.

-  Tháng 5 sau đó bị tai nạn gãy tay phải và phải giải phẫu đặt vào một miếng kim loại và 3 con vít.

-  Tháng 11 bị đột quỵ và hầu như bị tê liệt nửa người.

-  Sau đó tuy độ nghẹt động mạch tim tăng lên, nhưng bác sĩ giải phẫu cân nhắc và khuyên không nên giải phẫu nữa mà chỉ chữa trị bằng thuốc loãng máu.

Nhìn chung tình trạng sức khỏe của Sư Bà từ cuối năm 2016 đã bước hẳn vào một giai đoạn vô cùng khó khăn. Vậy mà ai cũng ngạc nhiên, kể cả vị bác sĩ nhà, không hiểu vì lý do gì mà Sư Bà còn sống vui và an nhiên tự tại mãi đến tháng 6 năm 2021, khi mọi Phật sự đã viên mãn mới an lòng ra đi?

Theo ý kiến của tôi thì có 3 lý do:

1. Việc đầu tiên là tinh thần:

Là một người tu nên Sư Bà luôn hướng tâm về chư Phật, chư Tổ. Từ ngày còn trẻ hành điệu ở chùa Sư Bà đã luôn tâm nguyện cứu độ chúng sinh, xông xáo trong các hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội.

2. Thứ hai là việc dinh dưỡng:

Tuy trường trai chay tịnh đã bảy mươi năm nay, nhưng Sư Bà ăn theo lối dinh dưỡng, có đầy đủ chất cho cơ thể và rất nhiều rau quả. Sư Bà không chạy theo thời trang chỉ ăn chay một chất thôi như phong trào chỉ ăn gạo lức… Quan trọng nhất là Sư Bà luôn cố gắng không bao giờ bỏ bữa ngay cả những lúc bệnh hoạn hay rất bận rộn. Ni chúng chùa Bảo Quang ai cũng biết về việc đúng giờ giấc của Sư Bà.

Ngày nay y khoa đã xác nhận về phương pháp dinh dưỡng để chữa bệnh này. Hiện nay có một chương trình truyền hình y tế ở Đức rất được ưa chuộng là chương trình „Ernährung Docs“ nói về dinh dưỡng để chữa bệnh mà ít hay không dùng thuốc.

3. Thứ ba là việc vận động:

Ngày Sư Bà chưa bị liệt bán thân thì Sư Bà rất siêng năng lạy Phật. Khi nhập thất Sư Bà chỉ chuyên cần lạy Phật nhiều thời trong ngày. Trong sáu bảy năm cuối đời, sau khi bị đột quị thì Sư Bà luôn chấp nhận vận động tập thể dục ít nhất 3, 4 lần mỗi tuần. Tuy có khi rất đau đớn nhưng vẫn luôn cố gắng vượt qua. Nhiều lúc đau quá thì Sư Bà cũng nhăn nhó than phiền, nhưng cho đến những ngày cuối đời Sư Bà vẫn cố vượt qua mọi đau đớn cơ thể để tập luyện vận động.

 

Tóm lại, với tôi sau bảy năm gần gũi chăm sóc sức khỏe Sư Bà tôi đã học được những gì?

Bài học thứ nhất: sự vận hành của thân và tâm. Là bác sĩ Tây y chúng tôi thường rất (hay chỉ) quan tâm về thân bệnh. Đó là điều chúng tôi đã học từ trường đại học. Giờ đây tôi mới cảm nhận được và hiểu thêm rằng, chỉ dùng thuốc, phẫu thuật, phương tiên y học… thì chưa đủ. Phải săn sóc, rèn luyện phần tinh thần – tức phần tâm của con người. Khi tinh thần đủ mạnh thì bệnh tật sẽ dễ vượt qua. Chính nhờ vào sức mạnh tinh thần này mà Sư Bà đã sống thọ đến tuổi 83, cũng để trả lời cho câu hỏi nêu bên trên.

Bài học thứ hai: Thuận thế vô thường. Sau hơn 30 năm làm việc trong Khu Săn Sóc Đặc Biệt (Intensivstation) tại các bệnh viện ở Đức, nơi mà xác suất tử vong cao nhất trong mỗi bệnh viện, chúng tôi đã chứng kiến không biết bao nhiêu ca tử vong. Trong giờ phút chót từ giã cõi đời ai cũng cố đem chút sức tàn chiến đấu với tử thần. Và thông thường thì thua nhiều hơn thắng. Nhưng chưa thấy ai, lúc rời cõi trần lại ra đi một cách an lạc, ung dung và bình yên như trường hợp Sư Bà Diệu Tâm. Trong giây phút cuối cùng, lúc nghe một đệ tử hiểu ý vọng lên câu hỏi: Sư Phụ muốn đi theo Phật? Sư Bà gật nhẹ đầu rồi hai mắt từ từ bắt đầu nhắm chặt lại. Trên môi nở nụ cười tươi và hơi thở nhẹ đi rồi tắt dần giữa tiếng niệm Phật „Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật“ của đại chúng liên tục vang lên. Với cung cách ấy người đã ra đi. Không một cử chỉ nhăn nhó đau đớn hay luyến tiếc.

Trong suốt thời gian tang lễ, khi nghe chư tôn đức đọc đi đọc lại tiểu sử Sư Bà với câu: Thuận thế vô thường Sư Bà đã thị tịch vào giờ, ngày, tháng, năm ấy tôi mới giật mình nghĩ lại. Thật vậy, chuyện gì suốt cả đời Sư Bà cũng đều tính toán sắp xếp chặt chẽ tình lý phân minh cả. Xưa kia là việc của Giáo hội, rồi đến việc Chùa, việc chúng. Từ năm 2012 Sư Bà đã lo ghi lại di chúc để lại. Từ năm 2013 đã giao chùa cho đệ tử trụ trì. Rồi Sư Bà đã hỗ trợ tinh thần cho môn đồ, pháp quyến các nơi kiến lập, phát triển các ngôi Già Lam, các Ni chúng tu tập như Bảo Thành, Bảo Liên, Bảo Đức, Thảo Đường, Linh Thứu... Việc gì Sư Bà cũng dạy: Phật sự thuận duyên thì làm dù khó cách mấy, dù bao nghịch cảnh vẫn không nên chùn chân bước. Chính năng lượng ấy đã hỗ trợ để Sư Cô kế vị Chùa Bảo Quang phát triển thêm cơ sở của Chùa qua việc mua ngôi nhà kế bên làm Tăng xá. Rồi lúc vô thường đến thì Sư Bà vui bước ra đi. Không biết do vô tình hay hữu ý mà người đã chọn ngay giữa hai thời điểm dịch bệnh Covid đã giảm và chính quyền các nước Âu Châu đã nới rộng các biện pháp phòng ngừa.

Do cách sống giản dị, hòa đồng ấy mà Sư Bà được tất cả chư Tôn Đức và Phật tử khắp nơi kính mến thương yêu. Hàng trăm chư Tôn Đức Tăng Già trên cả Âu Châu đã đến Bảo Quang Hamburg đưa Sư Bà về với chư Tổ chư Phật.

 

***

Bây giờ Sư Bà đã đi xa. Người không còn đó để nhờ tôi đọc Kinh sách cho người nghe nữa. Nhớ hình bóng Sư Bà với cánh tay hơi run run và cặp mắt thiếu chiếc kính lão ngày xưa, tôi đã tự tìm đoạn Kinh cũ ấy rồi tự mình đọc tiếp. Ở đoạn kế tiếp theo đó, đức Phật dạy thêm cả Hội Chúng Tỳ Kheo:

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Có bốn pháp được người thế gian ái kính. Thế nào là bốn? Tuổi trẻ tráng niên được người thế gian ái kính; không có bệnh đau được người ái kính; tuổi thọ được người ái kính; ân ái tụ hợp được người ái kính. Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn pháp được mọi người thế gian ái kính.

“Lại nữa Tỳ-kheo, lại có bốn pháp không được người thế gian ái kính.Thế nào là bốn? Tỳ-kheo nên biết, tuổi trẻ tráng niên đến lúc già bệnh, người đời không thích; người không bệnh sau lại mắc bệnh, người đời không thích; được tuổi thọ mà sau lại mạng chung, người đời không thích; ân ái hội hợp sau lại chia lìa. Đó là những điều người đời không thích. Tỳ-kheo, đó gọi là có bốn pháp cùng đời xoay chuyển. Chư thiên, người đời cho đến Chuyển luân Thánh vương, chư Phật, Thế Tôn cùng có pháp này.

(Kinh Tăng Nhất A-hàm, Bốn pháp, phẩm 25-31, Kinh số 6. Dịch giả: Thích Đức Thắng và Thích Tuệ Sỹ).

 

Tôi ghi ý Kinh thêm ra lần nữa cho chính mình.

Bốn ái kính là: trẻ khỏe, không bệnh, tuổi thọ, gần gũi người thân. Bốn ái kinh là: già nua, bệnh tật, mạng chung, chia lìa. Phật dạy rõ ràng: ai mà chẳng sống với bốn pháp ấy, dù muốn hay không.

Nhưng nghiệm cho cùng, cái phước duyên thứ nhất, cùng là thân tộc chị em với Sư Bà là do nghiệp lực từ bao nhiêu kiếp trước nên tôi may mắn nhận được phước báu ấy. Nhưng phước duyên thứ hai được gần gũi chăm sóc sức khỏe Sư Bà quả là một món quà lớn mà Sư Bà đã từ bi ban phát riêng cho tôi. Xin đê đầu đảnh lễ và cầu chúc Sư Bà vui với cuộc ra đi về Phật quốc và sớm quay trở lại cõi Ta Bà này để cứu giúp chúng sinh như tâm nguyện của Sư Bà lúc sinh tiền.

 

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

 

Thị Minh Văn Công Trâm

Nhân Lễ Chung Thất Sư Bà thượng Diệu hạ Tâm

30/08/2021



facebook-1
***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/201101:28(Xem: 3744)
BBC Giới thiệu Đôi nét về Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thích Nhất Hạnh là một thiền sư nổi danh trên thế giới, là một văn nhân, một thi nhân, một học giả, mà cũng là một người đấu tranh cho hòa bình. Bên cạnh đức Đạt Lai Lạt Ma thì Thầy là bậc đạo sư nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay. Ngoài ra Thầy còn là tác giả của trên một trăm cuốn sách, trong đó gồm có những "xếp hạng bán chạy nhất“ (bestsellers) như những cuốn Hòa Bình Từng Bước Chân (Peace is Every Step), Phép lạ của sự Tỉnh thức (The Miracle of Mindulness), Chúa nghìn đời, Bụt nghìn đời (Living Buddha Living Christ) và Giận (Anger)
13/06/201106:43(Xem: 9678)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
03/01/202007:26(Xem: 2840)
Biểu đồ truyền thừa các tông phái Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam: Biểu đồ I.1: Thiền tông Ấn Độ Biểu đồ I.2: Thiền Ấn Độ Đến Trung Quốc Biểu đồ I.3: Thiền Trung Quốc – Huệ Năng và Môn Đệ Biểu đồ II.1: Dòng Mã Tổ Biểu đồ II.2: Dòng Mã Tổ Biểu đồ III.1: Tông Tào Động Biểu đồ IV.1: Tông Lâm Tế Biểu đồ IV.3: Dòng Lâm Tế – Viên Ngộ Biểu đồ V: Tông Vân Môn & Pháp Nhãn Biểu đồ VI.1: Thiền Nhật Bản – Cội nguồn của Phong Trào Ngũ Sơn Thập Sát Biểu đồ VI.2: Thiền Nhật Bản – Việc truyền bá thiền Lâm Tế từ Trung Quốc sang Nhật Biểu đồ VI.3: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế I Biểu đồ VI.4: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.5: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.6: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch I – Dòng Nam Phố Thiệu Minh Biểu đồ VI.7: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch II – Dòng Bạch Ẩn Biểu đồ VI.8: Thiền Nhật Bản – Đạo Nguyên và Tông Tào Động Biểu đồ VII.1: Thiền tông Việt Nam – Thiền phái Tì-ni-đa Lưu-c
06/06/201213:35(Xem: 9758)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
26/04/201215:06(Xem: 12225)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
05/06/201111:56(Xem: 7455)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
08/09/201212:12(Xem: 4971)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
19/03/201002:09(Xem: 3877)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
06/10/201319:35(Xem: 51192)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này
03/09/201817:23(Xem: 5033)
Nhiều lời Đức Phật dạy trong kinh điển có thể được nhìn thấy qua nhà thơ Bùi Giáng. Toàn thân Bùi Giáng chính là Khổ Đế hiển lộ qua cái được thấy. Tương tự, với Tập Đế. Nụ cười của Bùi Giáng chính là Đạo Đế hiển lộ an lạc qua cái được thấy. Tương tự, với Diệt Đế. Bùi Giáng đùa giỡn ca ngâm với lời lời ẩn nghĩa chính là diệu chỉ tâm không dính mắc của Kinh Kim Cang, hiển lộ qua cái được thấy và cái được nghe. Bùi Giáng đi đứng nằm ngồi giữa phố như không một nơi để tới chính là diệu chỉ sống với cái Như Thị của Kinh Pháp Hoa, hiển lộ qua cách thõng tay vào chợ. Bùi Giáng viết xuống chữ nghĩa xa lìa có/không, dứt bặt đúng/sai, hễ viết xuống là gửi vào tịch lặng bờ kia chính là diệu chỉ gương tâm rỗng rang của Bát Nhã Tâm Kinh. Đó là hình ảnh nhà thơ Bùi Giáng trong tâm tôi nhiều thập niên qua.