Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sư Bà Diệu Tâm: "Người gieo hạt Bồ Đề trên nền xi măng“

09/07/202120:20(Xem: 627)
Sư Bà Diệu Tâm: "Người gieo hạt Bồ Đề trên nền xi măng“
su ba dieu tam-3

Sư Bà Diệu Tâm:
"Người gieo hạt Bồ Đề trên nền xi măng“

Bài viết của Nguyễn Hữu Huấn
được đăng tải trên trang nhà Quảng Đức
Do Phật tử Diệu Danh diễn đọc




 

Có lẽ ít ai biết rằng, thành phố Hamburg đã được giới truyền thông Đức coi là thành trì Phật Giáo của các quốc gia Á châu tại Âu Châu với hơn 50 trung tâm, chùa chiền và các nhóm Phật Giáo từ nhiều tông khác nhau với nhiều pháp môn khác nhau nhưng trong cùng một nỗ lực truyền bá tư tưởng và giáo lý Phật Giáo. Nổi bật nhất phải nói đến ngôi chùa nữ Bảo Quang tại Hamburg-Billbrook, thuộc Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh của Việt Nam, có nguồn gốc từ Phật Giáo Lâm Tế Bắc Tông, kết hợp thiền-tịnh song tu, đồng thời cổ súy việc dấn thân trong các công tác từ thiện xã hội và hội nhập với cuộc sống hiện tại. Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm đã kiến lập từ một „Tịnh thất Bảo Quang“ khiêm tốn vào mùa hè năm 1984 chỉ vài tháng sau khi Sư Bà đặt chân lên mảnh đất Hamburg/Đức.

Tôi được con tàu nhân đạo Cap Anamur cứu sống, sau đó định cư tại Hamburg từ năm 1980 đến nay, nên tôi đã có nhiều cơ hội trực tiếp với Sư Bà ngay từ những ngày tháng đầu tiên khi Bà còn là một Ni Sư 45 tuổi, hiền hậu, sống đạm bạc một mình trong căn phòng nhỏ của một chung cư vùng Jenfeld, Hamburg. Ban đầu, khi nghe tin có một Ni Sư từ Việt Nam sang, tôi hơi ngạc nhiên vì Ni Sư không phải thuyền nhân được con tàu Cap Anamur cứu sống như đại đa số chúng tôi, cũng không phải là người từ Đông Đức trốn sang, vì thời gian đó hầu như rất hiếm hoi. Sau này tôi mới biết Sư Bà có 2 người em trai là bác sĩ Văn Công Trâm và kỹ sư Văn Công Tuấn, cả hai đều là sinh viên du học bên Tây Đức từ trước năm 1975. Hai anh đã đứng đơn bảo lãnh chị mình theo diện đoàn tụ gia đình. Sư Bà đã nhiều lần từ chối không muốn rời quê hương Quảng Nam của mình, nhưng sau những giải thích và kêu gọi của Hòa Thượng Thích Như Điển (lúc bấy giờ là Đại Đức), cộng thêm lời chỉ dạy của Ni Trưởng Bổn Sư của Sư Bà là cố Sư Cụ Thích Nữ Đàm Minh (sáng lập chùa Sư Nữ Bảo Quang, tại quận Hải Châu, Đà Nẵng), Sư Bà (lúc này còn là Ni Sư) đã y giáo phụng hành rời quê hương đất tổ sang Đức hoằng pháp độ sanh tại Hamburg vào mùa hè năm 1984. Ngày ngậm ngùi chia tay với Sư Cụ Bổn Sư, tâm nguyện của Sư Bà là nhất tâm với sứ mệnh „tác Như Lai sứ, Hành Như Lai Sự“, nguyện làm chiếc cầu nối, làm sứ giả Như Lai đem Pháp Phật vào đời. Ngược lại, Sư Cụ Bổn Sư tại quê nhà cũng hết lòng tin tưởng và yêu thương Sư Bà, trước khi viên tịch vào năm 1992 cũng nhắc đến người đệ tử đầu tiên rằng: „… Nhân duyên chúng ta đến đây tạm mãn …Đệ tử xuất gia của tôi tuy đông, nhưng Diệu Tâm và Diệu Cảnh là lớn, nay Diệu Tâm ở xa, tôi biết rất yêu thương tôi…“

 

Tôi là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, đã có thời gian đi tu để mong có ngày trở thành một Linh Mục Công Giáo nhưng „Chúa không gọi“ nên không thành „ông Cha nhà thờ“, đành ra đời lấy vợ rồi trở thành „ông cha bầy trẻ“, có con có cháu nội ngoại đầy đàn. Ấy thế mà cuộc đời đẩy đưa sao lại có nhiều „nhân duyên“ với Phật Giáo. Vợ tôi là tín đồ Phật Giáo nhưng chưa „quy y“, cũng chẳng có Pháp danh, nên khi lấy tôi thì theo đạo chồng, đúng theo quy luật của đạo Công Giáo thời đó (bây giờ thì đạo ai nấy giữ). Bà mẹ vợ thì ăn chay trường cho đến mãn đời, một bà chị em bạn dì của vợ tôi lại là một vị Sư trong một ngôi Chùa nữ bên Pháp. Ấy là chưa kể đến bà nội vợ tôi trước đây đã hơn một lần phát tâm „cúng dường Tam Bảo“ hiến đất cất Chùa mà mãi đến nay Chùa vẫn còn sinh hoạt.

Riêng tôi lại rất có „duyên“ với các tín đồ Phật Giáo, đặc biệt là với các vị tu sĩ. Có một lần gia đình tôi xuống Koblenz, tiện dịp ghé thăm chùa Bảo Thành, lúc đó đang được tu sửa. Cậu con rể vào ngay chánh điện lạy Phật, còn tôi đi vòng vòng viếng cảnh bên ngoài chùa. Tôi biết Ni Sư Minh Hiếu đang trụ trì ngôi chùa này. Sư là đệ tử của Sư Bà Bảo Quang, mà Sư cũng biết tôi. Không hiểu tại sao khi đứng trước một vị nữ tu, lòng tôi luôn có cái gì e dè, ngại ngùng trong cách xưng hô. Lần đầu gặp Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm, lúc đó còn là một Ni Sư 45 tuổi, tôi chẳng biết thưa gởi ra sao. Gặp các Thầy, dù nhỏ tuổi hơn, tôi cũng đều xưng „con“ một cách tự nhiên. Bây giờ đối diện với một Ni Sư chỉ hơn tôi 9 tuổi, mà lại xưng „con“, nghe nó sao sao ấy! Nhưng chẳng nhẽ lại xưng „chị chị em em“? Ban đầu tôi cố gắng xưng hô…“chung chung“ rồi miễn cưỡng xưng „tôi“ cho phải phép. Về nhà, sực nhớ mình đã đọc một bài viết của Hòa Thượng Thích Như Điển từ lâu lắm rồi, trong đó Hòa Thượng tự đặt câu hỏi rằng: „Tại sao có nhiều Phật tử gặp quý Thầy, quý Cô xưng bằng cháu hoặc em?“ -  Vì họ nghĩ rằng mình đáng vai cháu hoặc em của các vị Thầy này. Nghĩ như thế là nghĩ theo „thế gian pháp“ mà „Phật pháp“ không như „thế gian pháp“ được. Một thí chủ nam, nếu xưng „em“ với một Tăng sĩ thì nghe còn tạm được, mặc dù hơi chướng tai. Nhưng nếu một thí chủ nữ mà xưng „em“ với một vị Thầy thì nên coi chừng sẽ bị tai tiếng hoặc sự dòm ngó bên ngoài. Nhiều bà xưng với Sư Cô hoặc Sư Bà bằng „em“, điều này cũng có thể tạm được. Nhưng nếu một thí chủ nam không lẽ lại xưng với Sư Cô nhỏ tuổi hơn mình bằng „anh“ hay „bác“ sao? Và để kết luận, Hòa Thượng ghi rằng: „Do đó, xưng „con“ vẫn là hay hơn cả.“ Từ đó về sau, tôi luôn xưng „con“ với Sư Bà, không cư xử theo „thế gian pháp“, mà làm theo đúng „Phật pháp“ như Hòa Thượng đã viết.

 

Khi Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm bắt đầu định cư tại Hamburg vào năm 1984, thì người Việt tại đây đã có một „Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam“ được thành lập vào tháng 12 năm 1980 và một „Hội người Việt tỵ nạn CS“ được thành lập vào tháng 8 năm 1981 và do ông H.T. vừa là “Cộng đoàn trưởng“, vừa là „Chủ tịch Hội“. Đây là „Hội người Việt tỵ nạn CS“ đầu tiên trên nước Đức được thành lập và có ghi danh hoạt động với tòa án Hamburg. Qua năm 1982, Ban Liên Lạc Phật Giáo đã nhờ Hội Người Việt tỵ nạn CS Hamburg sắp xếp phòng ốc và viết thư kêu gọi các Phật tử tham dự „Lễ cầu an, cầu siêu và thuyết pháp“ do Hòa Thượng Thích Như Điển (hồi đó còn là Đại Đức) đến giảng pháp trong một hội trường lớn của giáo hội Tin Lành của Đức vào ngày 07 tháng 8 năm 1982 với đề tài „Bổn phận người Phật tử đối với Đạo Pháp“. Chính trong dịp này, Ban Liên Lạc Phật Giáo chính thức được đổi thành Chi Hội Phật Tử Việt Nam tại Hamburg dưới sự chứng minh của Đại Đức Thích Như Điển. Điều thú vị là…“một ông cộng đoàn trưởng Công Giáo đi kêu gọi một ông Mục sư Tin Lành cho mượn hội trường của nhà thờ, để một ông Đại Đức thuyết pháp về Phật Giáo!“ Một hình ảnh rất đẹp và hiếm có, vẫn còn giữ được cho đến ngày nay. Hamburg vẫn luôn là mảnh „đất lành chim đậu“, ít nhất đối với người Việt tỵ nạn tại đây. Chính vì thế, khi Sư Bà đến Hamburg đã được Chi Hội Phật Tử và toàn thể người Việt tỵ nạn tại đây hân hoan đón tiếp rất nồng hậu.

 

Thuở ban đầu năm 1984, Sư Bà cư ngụ trong một chung cư 4 tầng nằm trên đường Kreusburger Str. tại khu phố Jenfeld, vỏn vẹn 77 thước vuông gồm 1 phòng ngủ và 1 phòng khách. Phòng khách trở thành chánh điện của Tịnh Thất Bảo Quang- là chỗ dựa tinh thần rất đơn sơ cho các Phật tử và cũng là nơi Sư Bà tổ chức những buổi lễ Phật định kỳ cho Phật tử tại Hamburg. Nơi đây cũng là khổi điểm cho ngôi Chùa Bảo Quang nguy nga to lớn đầy nét quê hương nằm bên bờ sông nên thơ yên bình sau này. Những ngày ấy, Sư Bà đã lặn lội đeo theo từng chặng xe buýt đi thăm hỏi, làm quen từng gia đình tại Hamburg, khuyến khích và cổ võ Phật sự, không phân biệt tôn giáo hay chính kiến và luôn nhận được lòng mến mộ kính trọng của mọi người, kể cả các tín đồ Công Giáo. Người hàng xóm thân thiện nhất của Sư Bà lúc đó lại là một bà Công Giáo Bắc Kỳ di cư năm 1954. Người tầng 2 kẻ tầng 1, hàng ngày đi lên đi xuống quấn quýt thăm hỏi nhau. Thoạt đầu, bà Công Giáo Bắc kỳ cứ than phiền là… “Cái bà Sư sao nói thứ tiếng gì mà câu hiểu câu không?“. Vài tuần sau bà vừa cười vừa nói: „Thế mà nghe mãi bây giờ cũng hiểu hết đấy chứ!“. Một bà „Công Giáo Bắc kỳ di cư“, một bà „Ni Sư con dân xứ Quảng“ lại là một cặp bài trùng thân thiện cho tận đến ngày bà Bắc Kỳ Công Giáo di cư „về với nước Chúa“. Bây giờ đây, một bà đã „lên Thiên Đàng hưởng dung nhan Thánh Chúa“, một bà đã đã „về cõi Niệt Bàn cao đăng Phật Quốc“. Hai bà còn có cơ hội gặp lại nhau chăng???

 

Người ta thường nói: „Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà“, điều này không ngoa. Thế nhưng Sư Bà đã „Ba lần dọn Chùa“ nhưng mỗi lần „dọn Chùa“ thì Chùa lại càng khang trang, rộng rãi, bề thế hơn. Lần thứ nhất vào năm 1988, từ ngôi „Tịnh Thất Bảo Quang“ nhỏ bé, Sư Bà dọn đến một căn nhà riêng rộng gấp 2 gấp 3 lần, lại có thêm mảnh vườn nho nhỏ tại vùng Wandsbek Markt. Tại đây „Tịnh Thất Bảo Quang“ đã trở thành „Chùa Bảo Quang“ với số Phật tử ngày càng tăng. Sư Bà dần dần tạo được rất nhiều uy tín và lòng ngưỡng mộ không những từ các Phật tử Hamburg mà còn từ các vùng phụ cận, và cùng với sự đóng góp rất tích cực của các Phật tử. Lần thứ hai vào năm 1991, do các Phật tử đóng góp, Sư Bà đã mua được một ngôi nhà riêng, rộng lớn hơn nữa, có vườn cỏ, đất đai trồng hoa trái, có sân đậu xe hơi, có hàng rào sắt bao quanh với hai mặt tiền ngay ngã tư đường Schiffsbeker Weg và Manshardt Str. vùng Bildstedt. Và lần thứ ba vào năm 2008, Chùa Bảo Quang chính thức chuyển đến khu công nghiệp Billwerder tại Hamburg. Đây là một xưởng sửa chữa ghe tàu nhỏ được tu sửa thành một ngôi Chùa lớn, nằm bên nhánh sông nhỏ chảy vào sông Elbe nổi tiếng tại Hamburg. Chùa có cổng Tam Quan theo lối kiến trúc Phật Giáo Bắc Tông. Và mới đây, Chùa lại được nới rộng thêm nữa với một tòa nhà lớn nằm sát bên cạnh. Công đức và sự khôn ngoan khéo léo của Sư Bà cộng với thiện tâm đóng góp nhân lực, tài lực và trí tuệ lớn lao của các Phật tử đã tạo nên ngôi Chùa Bảo Quang, Hamburg nổi tiếng ngày nay. Ở đây không quên nhắc đến công lao rất lớn của các vị Ni Sư, Sư Cô đệ tử của Sư Bà cũng như hai người em trai của Sư Bà là bác sĩ Thị Minh Văn Công Trâm, kỹ sư Nguyên Đạo Văn Công Tuấn và cư sĩ Phù Vân Nguyễn Hòa, chủ bút báo Viên Giác tại Đức, cùng với một số đạo hữu khác đã luôn cận kề sát cánh bên Sư Bà ngay từ những tháng ngày đầu tiên cho đến nay.

 

Những ngày còn tại thế, Sư Bà đã từng tâm nguyện xây dựng được một ngôi già lam rộng rãi khang trang cho các Phật tử gần xa ngày càng đông đảo tìm đến lễ bái và tu học. Với 83 năm tuổi đời, 57 năm tuổi đạo và gần 40 năm trời trôi qua từ ngày đặt chân đến Hamburg, với biết bao khó khăn gian truân và thử thách như Sư Bà thường nói: “Khó khăn như kẻ đi gieo hạt bồ đề trên nền xi-măng“. Sư Bà đã toại nguyện để tận mắt thấy được thành quả của mình. Sư Bà đã làm trọn sứ mạng „tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự“ của mình. Sư Bà đã đạt được mục đích tối thượng của một Ni Trưởng là „thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sinh“, khiến chúng sinh quý trọng, thân cận, tin tưởng và học hỏi. Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm, thế danh Văn Thị Mai, đã thực sự thanh thản an nhiên thị tịch về với chư Phật lúc 18,59 phút, ngày 12.6.2021 trong ngôi già lam Bảo Quang tại Hamburg nước Đức, do chính Sư Bà kiến tạo.

 

Sư Bà sinh năm Kỷ Mão 1939, tuổi con Mèo. Vợ tôi sinh năm Tân Mão 1951, cũng là con mèo, sau Sư Bà đúng một con Giáp. Chẳng biết có phải hai con mèo hội ngộ nên hợp nhau hay không, mà sau lần đầu gặp gỡ Sư Bà, vợ tôi về nhà cứ khen Sư Bà hiền từ nhưng thẳng thắn, phúc hậu nhưng cương nghị, mà càng lớn tuổi lại càng thêm phúc hậu. Vợ tôi nhận xét không sai, Sư Bà đã „hạ hóa chúng sinh“ qua những cử chỉ gần gũi, khoan thai với giọng nói miền quê hương xứ Quảng, tạo nên cái đẹp hiền hòa của một vị Ni Trưởng đáng kính. Tôi đã tiếp xúc nhiều với các nữ tu Công Giáo và sau này với các nữ tu Phật Giáo. Tất cả các vị nữ tu chân chính, Ma Sơ hay Ni Cô, Ni Sư đều trong sáng, hiền lành và dịu dàng đáng mến, trong đó còn tiềm ẩn những nét thông minh. Cũng vì „cái hiền“, „cái dịu dàng đáng mến“ ấy mà ông thi sĩ Nguyễn Tất Nhên đã sáng tác bài thơ „Em hiền như Ma Sơ“ và sau đó được ông nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Dịu hiền như các Ni Cô/Ni Sư thì hai ông chẳng nhắc đến. Có phải là một thiếu sót chăng??

 

Có điều lạ là hình như đa số các Tăng Ni trong hàng giáo phẩm tại Đức đều có cội nguồn cùng một quê hương xứ Quảng. Người ta gọi mảnh đất nghèo nàn này là „địa linh nhân kiệt“ cũng không phải là quá đáng, vì chính nơi xứ Quảng đã sinh ra lắm danh nhân, người tài như: Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Trần cao vân, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Phú Thứ… Có nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, nhạc sĩ Trần Quảng Nam… Có thi sĩ Hà Nguyên Thạch, thi sĩ Đinh Trầm Ca… mà cũng không ít các vị Cao Tăng nổi tiếng như quý Hòa Thượng Thích Như Vạn, HT Thích Long Trí, HT Thích Chân Phát, HT Thích Như Huệ, HT Thích Bảo Lạc… Tại nước Đức, Hòa Thượng Thích Như Điển và Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm cũng đều có cùng một quê hương xứ Quảng. Điều làm tôi ngưỡng mộ Hòa Thượng Thích Như Điển với chủ trương Tăng Ni dù có đức hạnh vẫn chưa đủ, mà cần phải đi đôi với trí tuệ và học lực. Tôi nhớ mãi một lần trò chuyện trong thư phòng, Hòa Thượng chân tình nói với tôi rằng: „Các Linh Mục Công Giáo bên anh, ai ai cũng có trình độ học vấn rất cao, thấp nhất phải có trình độ đại học. Phật Giáo trước đây lại không mấy quan tâm đến việc này, đây là điều rất thiếu sót. Do đó tôi buộc các đệ tử của tôi phải cố gắng học hành, mà phải đỗ đạt điểm cao mới được…“

Tính đến nay Hòa Thượng có trên dưới hơn 50 đệ tử xuất gia, đại đa số tốt nghiệp Cử nhân, Cao học, Thạc sĩ, Tiến sĩ tại các đại học danh tiếng Âu châu, Mỹ châu và Á châu với trên 20 ngôi chùa tại nước Đức. Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm cũng cùng một đường lối với Hòa Thượng Thích Như Điển: Ngoài việc giáo dục đồ chúng, giảng dạy Phật pháp cho Phật tử, Sư Bà đã đào tạo được 10 đệ tử, đa số đều có học vị bằng cấp cao và đang trụ trì những ngôi già lam nữ như Chùa Bảo Quang (Hamburg), Chùa Bảo Đức (Oberhausen), Chùa Bảo Thành (Koblenz), Chùa Bảo Vân tại Việt Nam, Chùa Bảo Liên tại Đan Mạch và thậm chí tại Nga với Chùa Thảo Đường.

 

Sau 83 năm tuổi đời trong đó là 57 năm tuổi đạo với đức tính „Tứ Vô Lượng Tâm“, Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm đã ra đi thanh thản vào ngày 12.6.2021, sau mấy năm bệnh duyên, nhưng những công hạnh và gương sáng của Sư Bà vẫn còn miên viễn. Sự ra đi của Sư Bà- một bậc Ni Trưởng từ hòa đức độ, là một mất mát lớn cho Giáo Hội PGVNTN Châu Âu. Phật tử thương tiếc Sư Bà vì mất đi chỗ dựa tâm linh vững chắc và đáng tin cậy, người VIệt Nam trong và ngoài nước xúc động sâu xa vì mất đi một tấm gương sáng và mẫu mực.

Riêng tôi và gia đình cũng xin kính gởi đến quý Ni Sư, Sư Cô TN Tuệ Đàm Nghiêm và quý Phật tử Chùa Bảo Quang, Hamburg lời chia buồn sâu sắc nhất trước sự mất mát lớn lao này.

 

Nguyễn Hữu Huấn

Tháng 7 năm 2021

facebook-1


***
youtube

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/04/201101:28(Xem: 3744)
BBC Giới thiệu Đôi nét về Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thích Nhất Hạnh là một thiền sư nổi danh trên thế giới, là một văn nhân, một thi nhân, một học giả, mà cũng là một người đấu tranh cho hòa bình. Bên cạnh đức Đạt Lai Lạt Ma thì Thầy là bậc đạo sư nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay. Ngoài ra Thầy còn là tác giả của trên một trăm cuốn sách, trong đó gồm có những "xếp hạng bán chạy nhất“ (bestsellers) như những cuốn Hòa Bình Từng Bước Chân (Peace is Every Step), Phép lạ của sự Tỉnh thức (The Miracle of Mindulness), Chúa nghìn đời, Bụt nghìn đời (Living Buddha Living Christ) và Giận (Anger)
13/06/201106:43(Xem: 9678)
Ôi, trong giáo pháp Phật đà của ta, việc trọng đại nhất là gì ? Con người sinh ra không từ cửa tử mà đến, chết không vào cửa tử mà đi. Thế nên người nằm non ở tổ, bỏ ngủ quên ăn, chẳng tiếc thân mạng, đều vì việc lớn sinh tử. Ở thời giáo suy pháp mạt này mà có người vì việc lớn sinh tử như Hòa thượng Liễu Quán, thật là hy hữu.
03/01/202007:26(Xem: 2840)
Biểu đồ truyền thừa các tông phái Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam: Biểu đồ I.1: Thiền tông Ấn Độ Biểu đồ I.2: Thiền Ấn Độ Đến Trung Quốc Biểu đồ I.3: Thiền Trung Quốc – Huệ Năng và Môn Đệ Biểu đồ II.1: Dòng Mã Tổ Biểu đồ II.2: Dòng Mã Tổ Biểu đồ III.1: Tông Tào Động Biểu đồ IV.1: Tông Lâm Tế Biểu đồ IV.3: Dòng Lâm Tế – Viên Ngộ Biểu đồ V: Tông Vân Môn & Pháp Nhãn Biểu đồ VI.1: Thiền Nhật Bản – Cội nguồn của Phong Trào Ngũ Sơn Thập Sát Biểu đồ VI.2: Thiền Nhật Bản – Việc truyền bá thiền Lâm Tế từ Trung Quốc sang Nhật Biểu đồ VI.3: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế I Biểu đồ VI.4: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.5: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.6: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch I – Dòng Nam Phố Thiệu Minh Biểu đồ VI.7: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch II – Dòng Bạch Ẩn Biểu đồ VI.8: Thiền Nhật Bản – Đạo Nguyên và Tông Tào Động Biểu đồ VII.1: Thiền tông Việt Nam – Thiền phái Tì-ni-đa Lưu-c
06/06/201213:35(Xem: 9758)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
26/04/201215:06(Xem: 12225)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
05/06/201111:56(Xem: 7455)
Ngôi chùa nhỏ nằm khiêm tốn trong khoảng đất rộng đầy cây trái. Buổi tối, mùi nhang tỏa ra từ chánh điện hòa với mùi thơm trái chín đâu đó trong vườn.
08/09/201212:12(Xem: 4971)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
19/03/201002:09(Xem: 3877)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
06/10/201319:35(Xem: 51192)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này
03/09/201817:23(Xem: 5033)
Nhiều lời Đức Phật dạy trong kinh điển có thể được nhìn thấy qua nhà thơ Bùi Giáng. Toàn thân Bùi Giáng chính là Khổ Đế hiển lộ qua cái được thấy. Tương tự, với Tập Đế. Nụ cười của Bùi Giáng chính là Đạo Đế hiển lộ an lạc qua cái được thấy. Tương tự, với Diệt Đế. Bùi Giáng đùa giỡn ca ngâm với lời lời ẩn nghĩa chính là diệu chỉ tâm không dính mắc của Kinh Kim Cang, hiển lộ qua cái được thấy và cái được nghe. Bùi Giáng đi đứng nằm ngồi giữa phố như không một nơi để tới chính là diệu chỉ sống với cái Như Thị của Kinh Pháp Hoa, hiển lộ qua cách thõng tay vào chợ. Bùi Giáng viết xuống chữ nghĩa xa lìa có/không, dứt bặt đúng/sai, hễ viết xuống là gửi vào tịch lặng bờ kia chính là diệu chỉ gương tâm rỗng rang của Bát Nhã Tâm Kinh. Đó là hình ảnh nhà thơ Bùi Giáng trong tâm tôi nhiều thập niên qua.