Những Lời Mộc Mạc Của Thầy

23/04/202016:27(Xem: 8346)
Những Lời Mộc Mạc Của Thầy


ht dong chon 5

Những Lời Mộc Mạc Của Thầy



Trời vừa sáng, còn đang chấp tác công việc, bỗng nghe tin nhắn điện thoại…à thì ra lớp trưởng… lớp trưởng bảo: “viết bài cảm niệm ân sư, đền đáp ơn Thầy dạy dỗ”…

Giờ ngồi lại viết những dòng cảm nghĩ về Thầy, chúng con không biết mình sẽ viết gì nữa… Trên cõi trần này, tiễn người đi quá nhiều trong đời sống, những cảnh tượng ra đi của từng con người, dù người thân, người lạ… đều khiến chúng con có cái nhìn rõ hơn về trần thế này… Ôi… đau lòng lắm ạ!

Tính đến thời gian này, cũng đã mười mấy năm ròng rã, từng lớp giáo thọ ra đi, người hậu thế chúng con cứ lần lượt mà chứng kiến… việc sanh tử đại sự ai cũng thấu… không ai không nén nỗi đau thương… vậy nên Phật mới bảo: “thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã…”

Được ngồi trên ghế nhà trường của Phật Học Tu Viện Nguyên Thiều, chúng con được học duới sự chỉ dạy của Thầy, vừa học về kinh điển, còn được học về đạo đức người tu nữa… Những giờ học là những giờ Thầy vừa truyền trao giáo điển và truyền trao năng lượng tu tập, những cái truyền trao ấy thông qua lời dạy và lời kinh khi giảng và bằng thân giáo của Người. Giờ đây…! dù muốn nghe lại, muốn nhìn thấy cách Thầy giảng nói… cũng đã không còn nữa… Như chiếc là vàng lìa cành… rơi rụng… và mất đi…

Thầy đảm trách môn Sa Di Luật Giải và những môn liên quan về luật học, thầy nghiêm minh với chúng con như luật vậy, nhưng cũng hàm tiếu những cái vui để uyển chuyển trong đời sống thường nhật để thích hợp với bối cảnh cuộc sống. Từ chùa Bình An Thầy thẳng đến trường đến lớp, vô lớp niệm Phật và ngồi xuống lật sách ra, thế là đọc là dạy, một phong cách đặc trưng của thầy bốn năm không thay đổi…hihih…nhắc đến Thầy là bất kỳ ai cũng có thể hình dung cách dạy của Thầy, cách sống của Thầy, mà không thể vị giáo thọ nào cũng giống như thế!

… Hôm ấy… vào một giờ kiểm tra của tiết học, sau khi ra đề xong, vẫn như thói quen hằng ngày… Thầy vẫn ngồi yên đó… yên ngay trên ghế của giáo thọ. Chỉ cần ngồi yên như vậy thôi, thần thái uy nghiêm, lâu lâu mỉm cười cười…đủ để cả lớp yên lặng mà làm bài. Và rồi… thời gian trôi qua… 90 phút… sắp nghe tiếng kiểng reng lên hết giờ học… thế nhưng… vẫn im phăng phắt… Thầy đột nhiên lên tiếng: “…nay ai trực kiểng, mà không thấy đánh gì hết vậy … làm như siêng học vậy… hết giờ rồi… đi đánh kiểng coi… nộp bài đihông thầy về…”. Vẫn không ai đứng lên, vẫn im lặng, một vài tiếng cười vì nghe Thầy nói, nhưng lại nán thêm vài chữ… lại thêm vài phút trôi qua…và rồi Thầy đứng dậy, tay xách giỏ, dặm bước: “vài chữ được gì… thầy về đây, mấy con ngồi đó viết đi…”, vậy là cả lớp la làng lên, xin Thầy ngồi xuống và chạy lên nộp bài…vừa lén nhìn Thầy vừa cười, thấy rõ gương mặt của Thầy từ bi sao ấy, Thầy cười và ngồi xuống chờ nhận bài, lẩm bẩm vài câu chửi vui… “đồ lì như quỷviết chi cho cố…”.

Thế đó, giờ chúng con mỗi đứa một phương, đủ lớn để tung đôi cánh của mình giữa vùng trời rộng, nhưng vẫn là những cánh chim nhỏ bé giữa biển người, tri thức không đủ để đáp ứng giữa rừng người trong xã hội, mới thấy kiến thức nhỏ bé dường nào, mới thấy kiến thức khi còn đi học quý giá biết bao… và… mới thấy được kiến thức Thầy dạy cho chúng con ứng dụng vào đời sống quả thật không sai bao giờ. Câu nói không thể quên được trong một giờ học: “danh lợi nhạt như nước – sứ mệnh nặng tựa non”… mấy con ráng mà nhớ…” khiến chúng con hiểu được thâm ý của Thầy muốn gửi đến chúng con, và còn…một lần vì để sách tấn chuyện học, Thầy dạy: “lập chí biết suy là tuấn kiệt – học hành nên gắng hết công phu”… “ học mà đạo hạnh không cầm – khác gì cỏ dại mọc mầm đồi hoang

Chắc hẳn ai trong chúng con, nếu lần lượt được làm giáo thọ cho thế hệ sau, hẳn sẽ rõ và hiểu được tâm tư của một vị thầy giáo nó như thế nào… phải cố gắng hết mực vì đền ơn Phật mà truyền trao. Riêng bản thân chúng con chưa đủ phước duyên để đứng trên bục giảng, nhưng cái công của một vị thầy giáo dù đạo hay đời đều ý nghĩa cao tột, nhưng hai chữ “giáo thọ”chỉ duy nhất là người con Phật mới thấu hiểu, không đơn thuần chỉ dạy học như ngoài xã hội không thôi. Vậy nên Usinxki có nói: “nhân cách của người Thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học trò, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”

Giờ đây, chúng con chỉ nhìn thấy Thầy qua di ảnh, thì bao nhiêu ký ức về Thầy hiện về, cũng chỉ là tái hiện lại những gì Thầy dạy, tái hiện lại bao hình ảnh về Thầy trước mặt chúng con, cũng chỉ như thế thôi, cũng chỉ là tái hiện … mà không còn hình ảnh thực để nhìn thấy rõ, nghe rõ nữa. Giới hạnh – công hạnh tròn đầy của Thầy sẽ luôn là tấm gương mà chúng con cần soi rõ. Dẫu biết ở cái cõi trần này, phước duyên không dễ dàng đến với người kém phước như chúng con, đúng là chỉ thấy hỗ thẹn khi chưa làm được gì mà Phật pháp cần, giáo hội cần, bản thân còn chưa hoàn thiện những việc nhỏ nhặt…Thế nên viết về Thầy, để mong còn nhìn lại hình ảnh Thầy qua tâm khảm, nhắc nhở mình thêm đôi chút để vững vàng trong tu tập, chỉ cần còn được khoác chiếc áo đơn điệu này mà Thầy hay bảo: “còn mặc cái áo này, đầu tròn này là quý lắm con, chủng tử Phật trong con sẽ không mất đi, đã là hình ảnh đẹp chung cho giáo hội và cõi trần này” đây là lời Thầy dạy khi đi đảnh lễ Thầy vào một dịp Tết, vì vậy mà chúng con tự nhủ “Dạ Thầy! chúng con sẽ cố gắng giữ gìn hình tướng người tu nhất có thể, sống đàng hoàng, nội tâm cho vững, thì đây cũng là cách đền ơn nhỏ nhất có thể rồi..”

Kính lạy Thầy! giờ cũng chỉ cúi đầu lạy Thầy qua tưởng niệm, qua ảnh Thầy trên cao kia, cúi đầu thêm nhiều lần nữa để tưởng nghĩ về Thầy, dù chúng con có ở nơi xa xôi nào nữa, được học dưới sự hướng dẫn của Thầy, được thấu đượm lời Phật truyền qua cách dạy của Thầy, chúng con chỉ biết ngưỡng nguyện báo ơn Thầy qua tâm trí, làm được gì chút chút cho người chưa biết Phật pháp thì cố gắng làm, và giữ trọn hình ảnh người tu “đầu tròn áo vuông” này là quý lắm rồi phải không bạch Thầy! Ngưỡng nguyện Thầy thùy từ gia lực cho chúng con thêm chân cứng đá mềm, vững vàng trong nội tâm, để chúng con cũng được “tư lương” như Thầy mà mang về cõi Phật như Thầy đã từng làm.

Kính bái biệt Thầy giáo thọ khả kính của chúng con!

Học trò Thích nữ Minh Lượng

Cựu Ni sinh khóa 3 Trường Trung cấp Phật học Bình Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2013(Xem: 8745)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9681)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11484)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12860)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24192)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10150)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8638)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8544)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8438)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9608)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964