Những Lời Mộc Mạc Của Thầy

23/04/202016:27(Xem: 7009)
Những Lời Mộc Mạc Của Thầy


ht dong chon 5

Những Lời Mộc Mạc Của Thầy



Trời vừa sáng, còn đang chấp tác công việc, bỗng nghe tin nhắn điện thoại…à thì ra lớp trưởng… lớp trưởng bảo: “viết bài cảm niệm ân sư, đền đáp ơn Thầy dạy dỗ”…

Giờ ngồi lại viết những dòng cảm nghĩ về Thầy, chúng con không biết mình sẽ viết gì nữa… Trên cõi trần này, tiễn người đi quá nhiều trong đời sống, những cảnh tượng ra đi của từng con người, dù người thân, người lạ… đều khiến chúng con có cái nhìn rõ hơn về trần thế này… Ôi… đau lòng lắm ạ!

Tính đến thời gian này, cũng đã mười mấy năm ròng rã, từng lớp giáo thọ ra đi, người hậu thế chúng con cứ lần lượt mà chứng kiến… việc sanh tử đại sự ai cũng thấu… không ai không nén nỗi đau thương… vậy nên Phật mới bảo: “thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã…”

Được ngồi trên ghế nhà trường của Phật Học Tu Viện Nguyên Thiều, chúng con được học duới sự chỉ dạy của Thầy, vừa học về kinh điển, còn được học về đạo đức người tu nữa… Những giờ học là những giờ Thầy vừa truyền trao giáo điển và truyền trao năng lượng tu tập, những cái truyền trao ấy thông qua lời dạy và lời kinh khi giảng và bằng thân giáo của Người. Giờ đây…! dù muốn nghe lại, muốn nhìn thấy cách Thầy giảng nói… cũng đã không còn nữa… Như chiếc là vàng lìa cành… rơi rụng… và mất đi…

Thầy đảm trách môn Sa Di Luật Giải và những môn liên quan về luật học, thầy nghiêm minh với chúng con như luật vậy, nhưng cũng hàm tiếu những cái vui để uyển chuyển trong đời sống thường nhật để thích hợp với bối cảnh cuộc sống. Từ chùa Bình An Thầy thẳng đến trường đến lớp, vô lớp niệm Phật và ngồi xuống lật sách ra, thế là đọc là dạy, một phong cách đặc trưng của thầy bốn năm không thay đổi…hihih…nhắc đến Thầy là bất kỳ ai cũng có thể hình dung cách dạy của Thầy, cách sống của Thầy, mà không thể vị giáo thọ nào cũng giống như thế!

… Hôm ấy… vào một giờ kiểm tra của tiết học, sau khi ra đề xong, vẫn như thói quen hằng ngày… Thầy vẫn ngồi yên đó… yên ngay trên ghế của giáo thọ. Chỉ cần ngồi yên như vậy thôi, thần thái uy nghiêm, lâu lâu mỉm cười cười…đủ để cả lớp yên lặng mà làm bài. Và rồi… thời gian trôi qua… 90 phút… sắp nghe tiếng kiểng reng lên hết giờ học… thế nhưng… vẫn im phăng phắt… Thầy đột nhiên lên tiếng: “…nay ai trực kiểng, mà không thấy đánh gì hết vậy … làm như siêng học vậy… hết giờ rồi… đi đánh kiểng coi… nộp bài đihông thầy về…”. Vẫn không ai đứng lên, vẫn im lặng, một vài tiếng cười vì nghe Thầy nói, nhưng lại nán thêm vài chữ… lại thêm vài phút trôi qua…và rồi Thầy đứng dậy, tay xách giỏ, dặm bước: “vài chữ được gì… thầy về đây, mấy con ngồi đó viết đi…”, vậy là cả lớp la làng lên, xin Thầy ngồi xuống và chạy lên nộp bài…vừa lén nhìn Thầy vừa cười, thấy rõ gương mặt của Thầy từ bi sao ấy, Thầy cười và ngồi xuống chờ nhận bài, lẩm bẩm vài câu chửi vui… “đồ lì như quỷviết chi cho cố…”.

Thế đó, giờ chúng con mỗi đứa một phương, đủ lớn để tung đôi cánh của mình giữa vùng trời rộng, nhưng vẫn là những cánh chim nhỏ bé giữa biển người, tri thức không đủ để đáp ứng giữa rừng người trong xã hội, mới thấy kiến thức nhỏ bé dường nào, mới thấy kiến thức khi còn đi học quý giá biết bao… và… mới thấy được kiến thức Thầy dạy cho chúng con ứng dụng vào đời sống quả thật không sai bao giờ. Câu nói không thể quên được trong một giờ học: “danh lợi nhạt như nước – sứ mệnh nặng tựa non”… mấy con ráng mà nhớ…” khiến chúng con hiểu được thâm ý của Thầy muốn gửi đến chúng con, và còn…một lần vì để sách tấn chuyện học, Thầy dạy: “lập chí biết suy là tuấn kiệt – học hành nên gắng hết công phu”… “ học mà đạo hạnh không cầm – khác gì cỏ dại mọc mầm đồi hoang

Chắc hẳn ai trong chúng con, nếu lần lượt được làm giáo thọ cho thế hệ sau, hẳn sẽ rõ và hiểu được tâm tư của một vị thầy giáo nó như thế nào… phải cố gắng hết mực vì đền ơn Phật mà truyền trao. Riêng bản thân chúng con chưa đủ phước duyên để đứng trên bục giảng, nhưng cái công của một vị thầy giáo dù đạo hay đời đều ý nghĩa cao tột, nhưng hai chữ “giáo thọ”chỉ duy nhất là người con Phật mới thấu hiểu, không đơn thuần chỉ dạy học như ngoài xã hội không thôi. Vậy nên Usinxki có nói: “nhân cách của người Thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học trò, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”

Giờ đây, chúng con chỉ nhìn thấy Thầy qua di ảnh, thì bao nhiêu ký ức về Thầy hiện về, cũng chỉ là tái hiện lại những gì Thầy dạy, tái hiện lại bao hình ảnh về Thầy trước mặt chúng con, cũng chỉ như thế thôi, cũng chỉ là tái hiện … mà không còn hình ảnh thực để nhìn thấy rõ, nghe rõ nữa. Giới hạnh – công hạnh tròn đầy của Thầy sẽ luôn là tấm gương mà chúng con cần soi rõ. Dẫu biết ở cái cõi trần này, phước duyên không dễ dàng đến với người kém phước như chúng con, đúng là chỉ thấy hỗ thẹn khi chưa làm được gì mà Phật pháp cần, giáo hội cần, bản thân còn chưa hoàn thiện những việc nhỏ nhặt…Thế nên viết về Thầy, để mong còn nhìn lại hình ảnh Thầy qua tâm khảm, nhắc nhở mình thêm đôi chút để vững vàng trong tu tập, chỉ cần còn được khoác chiếc áo đơn điệu này mà Thầy hay bảo: “còn mặc cái áo này, đầu tròn này là quý lắm con, chủng tử Phật trong con sẽ không mất đi, đã là hình ảnh đẹp chung cho giáo hội và cõi trần này” đây là lời Thầy dạy khi đi đảnh lễ Thầy vào một dịp Tết, vì vậy mà chúng con tự nhủ “Dạ Thầy! chúng con sẽ cố gắng giữ gìn hình tướng người tu nhất có thể, sống đàng hoàng, nội tâm cho vững, thì đây cũng là cách đền ơn nhỏ nhất có thể rồi..”

Kính lạy Thầy! giờ cũng chỉ cúi đầu lạy Thầy qua tưởng niệm, qua ảnh Thầy trên cao kia, cúi đầu thêm nhiều lần nữa để tưởng nghĩ về Thầy, dù chúng con có ở nơi xa xôi nào nữa, được học dưới sự hướng dẫn của Thầy, được thấu đượm lời Phật truyền qua cách dạy của Thầy, chúng con chỉ biết ngưỡng nguyện báo ơn Thầy qua tâm trí, làm được gì chút chút cho người chưa biết Phật pháp thì cố gắng làm, và giữ trọn hình ảnh người tu “đầu tròn áo vuông” này là quý lắm rồi phải không bạch Thầy! Ngưỡng nguyện Thầy thùy từ gia lực cho chúng con thêm chân cứng đá mềm, vững vàng trong nội tâm, để chúng con cũng được “tư lương” như Thầy mà mang về cõi Phật như Thầy đã từng làm.

Kính bái biệt Thầy giáo thọ khả kính của chúng con!

Học trò Thích nữ Minh Lượng

Cựu Ni sinh khóa 3 Trường Trung cấp Phật học Bình Định

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2013(Xem: 12342)
Đây là tài liệu do cố thi sĩ Bùi Giáng ghi chép ngay trong cuốn sổ tay của chúng tôi vào một buổi trưa ngày mùng 10 tháng 11 năm 1993 tại chùa Pháp Vân, Gia Định, Sàigòn.
29/03/2013(Xem: 12216)
Đức Đại Lão Hòa thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn Chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên. . .
29/03/2013(Xem: 9156)
Trường trung học chưa được cất. Ngoài giờ học, bọn trẻ tha hồ đi rong chơi. Khi lên núi Lăng, khi lên Thạch Động, lúc ra biển Mũi Nai. Mấy đứa con trai rắn mắt, thích cảm giác mạnh thì rủ nhau hái trộm xoài, đặt bẫy, bắn chim hoặc xuống mé biển dưới chân hòn Kim Dự, ...
29/03/2013(Xem: 7929)
Nói đến thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lý phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đã được tồn đọng trong con người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lãng đãng như sương sớm, mây chiều.
29/03/2013(Xem: 7572)
Những năm tháng dùi mài kinh điển trong các tự viện để thể nhập Phật học huyền vi, u hiển, một thời nào đó đã lầu thông giáo lý cao siêu giải thoát, hướng thân lập mệnh trên con đường giác ngộ, để rồi hôm nay là thành quả hiển nhiên có được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy đang phô diễn như ý nghĩa cao siêu của Đại Bi Tâm.
29/03/2013(Xem: 8204)
Đây là chủ đề bài thuyết trình của diễn giả Nguyên Siêu, tác giả 650 trang sách trong tác phẩm “Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ, Và Phương Trời Mộng” tập 1 và tập 2 vừa hoàn thành và được chính thức ra mắt tại hội trường của Hiệp Hội Người Việt tại San Diego, miền Nam California.
29/03/2013(Xem: 15036)
Tôi người Quảng Bình, 1 trong 3 nơi mà Huyền Trân công chúa mới đáng là thành hoàng. Tổ tiên gốc người Hải dương, 4 cha con cùng có mặt trong đạo quân tiếp quản Quảng Bình, rồi định cư ở 3 làng. Thuận Lý là con trưởng, kế đó, Phương Xuân là con thứ 2. Diêm điền, làng tôi, là nơi Tổ của làng tôi cùng con út định cư.Làng tôi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng bình chỉ có chừng 600 mét đường chim bay.
27/03/2013(Xem: 17696)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8437)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8626)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.