Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

18/04/202018:25(Xem: 7857)
Năm Tháng Có Đợi Chờ ?


ht dong chon 1ht dong chon 2





Năm Tháng Có Đợi Chờ ?

 Thấm thoát đã hai mươi mấy năm, kể từ ngày con rời xa thầy vào trong miền Nam học Đạo. Đường đời vạn nẻo, đường chơn tu vạn thử thách cho kẻ sơ cơ. Cuộc sống có những thăng trầm và muôn vàn thử thách mà người xuất gia học đạo cần phải “kiên tâm, bền chí, và giữ vững đạo tâm thì mới đạt được chí nguyện của mình”. Lời thầy dạy vẫn còn vang lên trong con như mới hôm nào, từng cái gõ đầu nhắc nhở, bao lần thầy la con để trang nghiêm giới pháp cho con…. ..Vẫn còn đâu đó ký ức hẳn như mới mẽ. Ấy vậy mà, thoảng chốc như cung tên bắn mạnh vào trời không, con chợt ngỡ ngàng chựng lại khi chiều nay nghe tin “Thầy đã thâu thần thị tịch”.

Thầy ơi, con thật muốn hét lên trong muôn vàng nỗi nhớ. Cảm xúc bao năm tháng xưa cứ mồn một ùa về khiến lòng con đau nhói, cả bầu trời Phan Rang – Ninh Thuận nơi con ở, cũng như chợt xầm lại, buồn tiếc thương trong nổi nhớ thầy.

Nhớ ngày ấy, con còn dại lắm, bước đầu xuất gia học Đạo con còn nhiều vụng về thiếu biết. Lúc được Bổn Sư dẫn con đến chùa Bình An thọ giáo và học Giới luật nơi thầy, cùng Tăng- Ni thời bấy giờ, lòng con vô cùng háo hức, nhưng cũng pha chút sợ sệt trước uy nghiêm của thầy. Từ 4 giờ sáng, con đạp xe từ chùa Nhạn Sơn xuống chùa Bình An, cùng các điệu chúng nấu bữa cháo sáng cho thầy. Rồi ngay ngắn ngồi vào chiếc bàn gỗ cũ kỹ, đợi thầy lên dạy. Đều đặn như vậy mỗi sáng, dù là lúc thầy bệnh, thầy cũng thường nhật lên lớp dạy Luật cho chúng con. Cứ một muỗng cháo một hồi giảng, cho đến khi hết thời giờ sáng mà thầy vẫn còn chưa húp xong bát cháo. Vì thương chúng con thầy thật chẳng chút nề hà mà truyền trao từng lời dạy.

Con hẳn còn nhớ, các huynh đệ theo học có cả các Tăng- Ni sinh trong lớp Trung cấp Nguyên Thiều tới học Luật, riêng con lúc nào cũng bị thầy rầy nhiều nhất. Thầy bảo “sao con ngu thế, học thế bao giờ mới biết”, còn lúc thầy còn cốc đầu con rồi vừa nghiêm khắc vừa cười thương. Có lúc con cũng thật ngơ ngáo không hiểu sao thầy cứ rầy hoài. Đến nỗi về sau cả lớp lần lượt nghỉ học vì có duyên sự, chỉ còn mình con theo thầy học, thầy cũng còn rầy con là “ngu quá”. Ngu vậy, nhưng thầy cũng không bỏ con mà một thầy một trò, vẫn dạy và học cho đến câu “Nhất tâm bất sanh, Vạn pháp câu tức” câu cuối cùng “Quy Sơn Cảnh Sách”, rồi thầy mới nghỉ. Con vẫn còn nhớ cái buổi học cuối cùng đó. Lần đầu tiên trong đời thầy không gõ đầu và cười với con. Thầy bảo “con ngu lắm. Đời dạy học của thầy, con là đứa học trò theo học thầy bốn cuốn Luật mà không bỏ xót một chữ nào. Sau này hãy nương vào đó mà thực hành cho tinh tấn chớ để xao lãng. Sau này nếu còn duyên, con về đây thầy sẽ dạy kinh Di Đà cho mà hiểu, thầy cũng mong trước lúc ra đi dạy nốt cho con cuốn kinh này”.

Ấy vậy mà thời gian nào có đợi, con còn bận bịu Phật sự chưa kịp về thăm thì thầy đã ra đi thật rồi. Trong con hãy còn nhiều điều chưa kịp nói, chưa kịp một lần về tạ ơn thầy thì thầy đã khuất bóng. Nếu ngày ấy thầy chẳng nghiêm khắc dạy cho con nên người, nếu bao lần thầy chẳng gõ đầu cho con tỉnh ngộ, dạy cho con biết cái ngu “trong vô minh vô thỉ” thì có lẽ con đã không thể nào lãnh ngộ được “giới luật- mạng mạch Phật Pháp” vậy.

Vâng lời thầy, con vẫn ngày đêm nghiêm tầm và dịch sách, từng lời thầy dạy xưa nay con hằng khắc ghi trong lòng và dịch chú giải lại bộ “ LUẬT TRƯỜNG HÀNG” , như một lời cảm ơn và kế thừa tâm nguyện của thầy.

Hôm nay thầy đã xa rồi

Bóng hình dầu khuất sau đồi cỏ xanh

Lời thầy “giới đức tu hành”

Con nguyện xin giữ đặng thành Đạo Tâm.

Đệ tử Đồng Niệm xin được lần nữa hướng về Thầy với lòng biết ơn vô hạn. Nguyện một đời nối gót hiền nhân, tiếp nối lời Thầy trên mỗi bước đi. Thành kính đảnh lễ và nguyện cầu Thầy, Hòa thượng Thích Đồng Chơn, người thầy khả kính, bậc cao giới luật hạnh nghiêm, cao đăng Phật Quốc!

 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 15969)
Tôi người Quảng Bình, 1 trong 3 nơi mà Huyền Trân công chúa mới đáng là thành hoàng. Tổ tiên gốc người Hải dương, 4 cha con cùng có mặt trong đạo quân tiếp quản Quảng Bình, rồi định cư ở 3 làng. Thuận Lý là con trưởng, kế đó, Phương Xuân là con thứ 2. Diêm điền, làng tôi, là nơi Tổ của làng tôi cùng con út định cư.Làng tôi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng bình chỉ có chừng 600 mét đường chim bay.
27/03/2013(Xem: 18433)
Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư, Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 01 (2007, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 02 (2008, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 03 (2019, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 04 (2010, Đức) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 05 (2011, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 06 (2012, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 07 (2013, Hoa Kỳ) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 08 (2014, Úc) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 09 (2015, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 10 (2016, Canada) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 11 (2018, Pháp) Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn - lần 12 (2020, Úc)
18/03/2013(Xem: 8688)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8845)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9872)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11644)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13158)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24820)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10461)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8810)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.