Cảm niệm Ân sư

29/03/202012:54(Xem: 6610)
Cảm niệm Ân sư

Cảm niệm Ân sư



Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch  chư Tôn đức

Chỉ còn vài phút nữa thôi, môn đồ pháp quyến chúng con thành tâm cung thỉnh Kim quan của Hòa thượng Bổn sư nhập bảo tháp, chúng con kính xin chư Tôn Thiền đức dành cho chúng con chút thời gian quý báu nầy để dâng nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con lên Giác linh Hòa thượng Bổn sư, người đã dày công giáo dưỡng chúng con nên người hôm nay.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng

Chúng con – những người học trò thân thương, những đệ tử tâm thành và môn đồ pháp quyến cả hai hàng đệ tử xuất gia và tại gia đồng quỳ trước di ảnh và Kim quan của Hòa thượng hôm nay, ngưỡng mong Ngài chứng minh cho tấm lòng kính quý của chúng con. Còn một ít thời gian nữa thôi, chúng con xin được phép tôn xưng Hòa thượng bằng tiếng Thầy kính yêu. Bởi vì, với chúng con, Thầy thiêng liêng lắm! Thầy là người dìu chúng con đi trên con đường tu học gian nan khó nhọc, để vươn khỏi thế giới u mê mộng ảo. Thầy là con thuyền từ to lớn, chở tất cả chúng con vượt qua những sóng gió đảo điên vọng tưởng khổ đau. Thầy là nguồn sáng quang minh của ánh mặt trời xua tan bóng tối vô minh bao phủ chung quanh.

Kính bạch Giác linh Thầy

Năm xưa, có lần Đức Thế Tôn nhập đại định Sư Tử Tần Thân, Bồ Tát Văn Thù từ trong rừng đi ra, thật là uy nghi như một con voi chúa ngoảnh nhìn các vị Tỳ Kheo ngưỡng mộ. Chỉ một ánh mắt thân thiện như một Tượng vương đó thôi, mà các vị Tỳ Kheo đã tỏ ngộ lý vô thường, duyên sinh và dũ sạch mọi khổ đau phiền lụy. Hình ảnh đại định Sư Tử Tần Thân và ánh mắt của Tượng vương ấy làm cho chúng con liên tưởng đến cuộc đời tu đạo và hành đạo của Thầy.

Kính bạch Giác Linh Thầy

Hơn 70 năm sống với đời và hơn 50 năm tu đạo và hành đạo, Thầy đã sống hết mình, tu hết mình và dành tình thương mến hết mình cho tất cả chúng con. Hình ảnh sống và tu của Thầy như con Sư tử – vị chúa tể sơn lâm cao quý mang lại sự chuyên tinh hành trì và học tập cho chúng con trong thiền môn thanh tịnh.

Ở với Thầy, sống bên Thầy thật sự chúng con như đồng cỏ mênh mông xanh ngát – an lạc – và bình yên vô cùng. Học với Thầy, chúng con mới biết Thầy giảng dạy, hướng dẫn chúng con như tinh thần của Chúa sơn lâm luôn luôn đánh thức, và đánh thức khả năng tư duy tu tập của chúng con, để loại trừ tất cả mọi u mê, ám chướng.

Thầy là thế! Thầy tận lòng như Thế Tôn đi vào đại định. Thầy xông pha quyết liệt như Chúa sơn lâm vươn mình trong nắng sớm. Vào đại định Sư Tử Tần Thân, Thầy là một lương sư hùng lực, một bậc mô phạm thuần lương, một nhà giáo chân tình dưới mái Chùa thiêng liêng dạy Đạo, và đem Đạo giúp đời.

Suốt năm mươi năm “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng” Thầy trang trải tâm nguyện và hạnh nguyện của mình, để biến chuyển ngôi chùa Bình An sống động như danh xưng của mình. Một ngôi chùa đơn sơ, mộc mạc, trong sự hành trì tu tập và làm đạo của Thầy, đã trở thành ngôi phạm vũ huy hoàng, thiền môn hưng thạnh, đã thay đổi toàn diện từ hình hài bên ngoài đến máu huyết xương tủy bên trong, suốt năm mươi năm qua.

Nơi Bình An ấy, Thầy đã chia sẽ đạo tình của Thầy đến với tất cả để dưỡng nuôi và chuyển những tâm thức héo hon trở thành tươi thắm; đổi những thô lỗ quê mùa thành từ ái bao dung. Rất nhiều pháp hữu của Thầy tỉnh ngộ sau biến cố sa chân vướng lụy, đã trở lại thiền môn, được Thầy bao dung hỗ trợ từ vật chất lẫn tinh thần, để tươi tỉnh trở thành những bậc “tùng Phật đản sanh, tùng Pháp hóa sanh”, sống những ngày còn lại trọn vẹn công đức.

Kính bạch Giác linh Thầy!

Ngôn ngữ luôn luôn giới hạn ý nghĩa của nó, làm sao chúng con có thể diễn đạt hết nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con dâng Thầy, Chúng con xin mượn hai câu thơ của Thiền sư Phật Quốc là “Sư Tử Tần Thân phương thảo lục Tượng Vương Hồi Cố lạc hoa hồng” để xưng tán đạo nghiệp và tình thương của Thầy dành cho chúng con.

Kính bạch Giác linh Thầy

Sư Tử vươn mình thơm cỏ xanh

Tượng vương ngoái lại hoa héo hồng

Thầy ơi! Thầy của chúng con là bậc duy nhất trong thiền môn hôm nay. Cuộc đời tu của Thầy đẹp vô cùng, bởi Thầy không màng một chút mảy may danh lợi phù phiểm nào cả, Chưa bao giờ Thầy dạy chúng con chạy theo cơm áo gạo tiền của thế gian mộng ảo. Vấn đề chính của lời Thầy bao năm qua chỉ là chuyển hóa, chuyển hóa và chuyển hóa mà thôi. Phải thay đổi, Thầy dạy phải thật sự đổi thay. Đổi từ lượng đến chất, đổi từ chất đến lượng của người con Phật.

Khi thể lượng bên ngoài chưa thể chuyển được, Thầy dạy chúng con chuyển hóa bản chất bên trong bằng sự quán chiếu tĩnh tu. Khi bản chất bên trong thật sự chưa chuyển được, Thầy dạy chúng con tụng Kinh, niệm Phật dấn thân vào mọi Phật sự để tích Phước, gieo duyên. Khi có thể chuyển hóa hình dáng bên ngoài và nội dung Phật chất bên trong, Thầy dạy chúng con Phước Trí song tu vừa tạo dựng đạo tràng, chùa viện, thiền môn, vừa hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu học, vừa hành trì tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, tọa Thiền, v.v… để trọn vẹn bổn nguyện phụng sự chúng sanh, đền ân Tam Bảo.

Cuộc đời Thầy là thế, từ lúc đến cho đến lúc đi không một chút danh đọng trên áo, không một chút lợi hoen ố trong tâm. Hình ảnh Thầy cao quý làm sao, hùng lực làm sao và thiêng liêng làm sao. Ôi chúng con không thể diễn tả cho tường!

Chúng con vô cùng cảm niệm ân đức Thầy đã khơi niềm Đạo, gieo hạt giống Phật, chăm sóc và dưỡng nuôi thân Bồ đề của chúng con vươn cao và rợp bóng trong rừng Thiền Việt nói riêng và Thiền Lâm của đạo Phật hôm nay và mai sau.

Tất cả chúng con xin thành kính dâng nén ngũ phần tâm hương; Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương cúng dường Giác linh Thầy. Ngưỡng nguyện Giác linh Thầy cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà, quảng độ chúng sanh.

 

NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ, BÌNH AN TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG thượng ĐỒNG hạ CHƠN, hiệu MINH CHIẾU, tự THÔNG THIỆN HÒA THƯỢNG GIÁC LINH

Môn đồ Pháp quyến

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11423)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12699)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24052)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10057)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8592)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8484)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8367)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9514)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9787)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14976)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: