Đêm Hoài Niệm

09/04/202015:46(Xem: 5987)
Đêm Hoài Niệm



ht thich dong chon-14
Đêm Hoài Niệm


Đêm mùa hạ chỉ với ánh trăng thanh và vài ngôi sao nhỏ điểm xuyến trên nền trời tịch mịch. Một chút gió pha thêm chút hơi sương của núi đồi như nhắn nhủ về dư vị thăng trầm của cuộc thế. Không gian mênh mông và lòng con cũng cảm thấy trống vắng. Con nhớ đến Sư Ông. Xin cho con được gọi Hòa thượng Bình An bằng hai tiếng “Sư Ông” thân thuộc, bởi tự bao giờ con đã xem người như một người ông thật sự. Cuộc đời Ông cũng giống như ngọn gió kia, nhẹ lướt qua làm dịu mát bao tâm hồn. Rồi lại ra đi thanh thản như chiếc lá nghiêng mình trút hạt sương buổi sớm mai chẳng chút vướng bận.

Lần đầu tiên đến thăm Sư Ông và con như bị thôi miên khi cứ đứng từ xa nhìn sư ông mãi. Một hình ảnh quá đẹp! Sư ông ngồi trên chiếc ghế dài quen thuộc, lưng thẳng và hai cánh tay chạm nhẹ lên bàn để giữ tờ báo. Sự điềm nhiên hiện rõ trên gương mặt. Mọi xô bồ, tất bật, lo toan của cuộc sống dường như vắng mặt nơi người Ông khả kính này và Ông chỉ có một việc là sống trọn vẹn với giây phút hiện tại. Ai cũng muốn chụp lại những hình ảnh mình yêu thích và con cũng vậy. Nhưng khác với mọi người, con không chụp bằng máy ảnh hay điện thoại, mà chụp bằng chính cặp mắt và lưu lại nơi tâm hồn, để con có thể chiêm ngưỡng nó theo cách riêng của mình. Và hình ảnh này của Sư Ông mà con chụp được đã dạy con một bài học tuyệt vời: bài học về sự bình an.

Đức khiêm tốn- đó là bài học thứ hai con nhận được nơi Sư Ông. Bao lần qua đảnh lễ, Sư Ông đều không cho lạy mà bảo rằng: “ Ông có phước đức gì đâu mà bay lạy, lên lạy tổ là được rồi”. Và Ông còn dạy thêm: “ Bay ráng học nhanh nhanh, rồi về Ông dạy luật thêm cho. Chứ bay học trên trường cho vui, về rồi quên hết có nhớ gì đâu. Nhanh nhanh chứ để Ông chết là không ai dạy cho bay đâu”. Nghe Sư Ông nói thế con chỉ biết cười, thưa lại rằng: “ Sư Ông ráng chờ huynh đệ con đi học về nha sư ông!”. Lời nói vô tình vì nghĩ rằng: “ Sư Ông còn khỏe mà lo gì!”. Đâu hay cơn vô thường nhanh chóng để giờ đây khi nhớ lại, con không khỏi bùi ngùi. Ông đã ngoài bảy mươi, đã xa ghế giáo thọ hơn tám năm nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc truyền trao Luật tạng. Còn sức khỏe là còn dạy, Ông không muốn mang đi cái hay, cái đẹp trong Luật mà Ông đã nhận được từ các bậc tiền nhân cũng như sự thể nghiệm tâm linh của mình. Giáo pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại, và Ông đã mang ánh sáng Luật tạng đến với bao lớp trò. Hạnh phúc, an lạc cũng bắt đầu từ đó nảy nở nơi tâm hồn bao người.

Mùa xuân năm 2014, đó có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời con được quỳ dưới chân Sư Ông để đảnh lễ khánh tuế đầu năm. Duyên lành khi con được tháp tùng cùng quý thầy cô khóa Sáu, đến chùa Sư Ông là địa điểm cuối cùng, cả đoàn đều đã thấm mệt. Nhưng hay thay, chỉ một câu nói của sư ông mà bao mệt nhọc đều tan biến và con thấy rõ sự tươi vui của tất cả mọi người trong đoàn: “Thầy chỉ muốn nhắc mấy con: Đừng làm trái những điều mà mình đã hiểu”. Vâng, thưa Sư Ông, chỉ một câu nói thôi mà con có tu tập cả đời cũng chưa đủ. Bao nhiêu tinh túy của Luật tạng như gói gọn và hiện diện một cách sinh động trong câu nói vô cùng mộc mạc này. Con sẽ luôn ghi nhớ câu nói của Sư Ông như một lời tự nhắc mình về việc hành trì giới luật, và vì đó là món quà vô giá mà Ông đã để lại cho thế hệ mai sau.

Trăng đã khuất sau đỉnh núi, ánh sao mai dần ló dạng và sáng rỡ trên bầu trời như định hướng cho những ai còn lạc lối. Phải chăng nơi đó Sư Ông đang mỉm cười và an nhiên!

Con TN.Thanh Tâm

Thành kính đảnh lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11423)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12698)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24051)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10057)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8592)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8484)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8367)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9514)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9785)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14976)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: