Đêm Hoài Niệm

09/04/202015:46(Xem: 6244)
Đêm Hoài Niệm



ht thich dong chon-14
Đêm Hoài Niệm


Đêm mùa hạ chỉ với ánh trăng thanh và vài ngôi sao nhỏ điểm xuyến trên nền trời tịch mịch. Một chút gió pha thêm chút hơi sương của núi đồi như nhắn nhủ về dư vị thăng trầm của cuộc thế. Không gian mênh mông và lòng con cũng cảm thấy trống vắng. Con nhớ đến Sư Ông. Xin cho con được gọi Hòa thượng Bình An bằng hai tiếng “Sư Ông” thân thuộc, bởi tự bao giờ con đã xem người như một người ông thật sự. Cuộc đời Ông cũng giống như ngọn gió kia, nhẹ lướt qua làm dịu mát bao tâm hồn. Rồi lại ra đi thanh thản như chiếc lá nghiêng mình trút hạt sương buổi sớm mai chẳng chút vướng bận.

Lần đầu tiên đến thăm Sư Ông và con như bị thôi miên khi cứ đứng từ xa nhìn sư ông mãi. Một hình ảnh quá đẹp! Sư ông ngồi trên chiếc ghế dài quen thuộc, lưng thẳng và hai cánh tay chạm nhẹ lên bàn để giữ tờ báo. Sự điềm nhiên hiện rõ trên gương mặt. Mọi xô bồ, tất bật, lo toan của cuộc sống dường như vắng mặt nơi người Ông khả kính này và Ông chỉ có một việc là sống trọn vẹn với giây phút hiện tại. Ai cũng muốn chụp lại những hình ảnh mình yêu thích và con cũng vậy. Nhưng khác với mọi người, con không chụp bằng máy ảnh hay điện thoại, mà chụp bằng chính cặp mắt và lưu lại nơi tâm hồn, để con có thể chiêm ngưỡng nó theo cách riêng của mình. Và hình ảnh này của Sư Ông mà con chụp được đã dạy con một bài học tuyệt vời: bài học về sự bình an.

Đức khiêm tốn- đó là bài học thứ hai con nhận được nơi Sư Ông. Bao lần qua đảnh lễ, Sư Ông đều không cho lạy mà bảo rằng: “ Ông có phước đức gì đâu mà bay lạy, lên lạy tổ là được rồi”. Và Ông còn dạy thêm: “ Bay ráng học nhanh nhanh, rồi về Ông dạy luật thêm cho. Chứ bay học trên trường cho vui, về rồi quên hết có nhớ gì đâu. Nhanh nhanh chứ để Ông chết là không ai dạy cho bay đâu”. Nghe Sư Ông nói thế con chỉ biết cười, thưa lại rằng: “ Sư Ông ráng chờ huynh đệ con đi học về nha sư ông!”. Lời nói vô tình vì nghĩ rằng: “ Sư Ông còn khỏe mà lo gì!”. Đâu hay cơn vô thường nhanh chóng để giờ đây khi nhớ lại, con không khỏi bùi ngùi. Ông đã ngoài bảy mươi, đã xa ghế giáo thọ hơn tám năm nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc truyền trao Luật tạng. Còn sức khỏe là còn dạy, Ông không muốn mang đi cái hay, cái đẹp trong Luật mà Ông đã nhận được từ các bậc tiền nhân cũng như sự thể nghiệm tâm linh của mình. Giáo pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại, và Ông đã mang ánh sáng Luật tạng đến với bao lớp trò. Hạnh phúc, an lạc cũng bắt đầu từ đó nảy nở nơi tâm hồn bao người.

Mùa xuân năm 2014, đó có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời con được quỳ dưới chân Sư Ông để đảnh lễ khánh tuế đầu năm. Duyên lành khi con được tháp tùng cùng quý thầy cô khóa Sáu, đến chùa Sư Ông là địa điểm cuối cùng, cả đoàn đều đã thấm mệt. Nhưng hay thay, chỉ một câu nói của sư ông mà bao mệt nhọc đều tan biến và con thấy rõ sự tươi vui của tất cả mọi người trong đoàn: “Thầy chỉ muốn nhắc mấy con: Đừng làm trái những điều mà mình đã hiểu”. Vâng, thưa Sư Ông, chỉ một câu nói thôi mà con có tu tập cả đời cũng chưa đủ. Bao nhiêu tinh túy của Luật tạng như gói gọn và hiện diện một cách sinh động trong câu nói vô cùng mộc mạc này. Con sẽ luôn ghi nhớ câu nói của Sư Ông như một lời tự nhắc mình về việc hành trì giới luật, và vì đó là món quà vô giá mà Ông đã để lại cho thế hệ mai sau.

Trăng đã khuất sau đỉnh núi, ánh sao mai dần ló dạng và sáng rỡ trên bầu trời như định hướng cho những ai còn lạc lối. Phải chăng nơi đó Sư Ông đang mỉm cười và an nhiên!

Con TN.Thanh Tâm

Thành kính đảnh lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8828)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10722)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14238)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25942)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15562)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9931)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17958)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15784)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13392)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8829)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.