Đêm Hoài Niệm

09/04/202015:46(Xem: 6182)
Đêm Hoài Niệm



ht thich dong chon-14
Đêm Hoài Niệm


Đêm mùa hạ chỉ với ánh trăng thanh và vài ngôi sao nhỏ điểm xuyến trên nền trời tịch mịch. Một chút gió pha thêm chút hơi sương của núi đồi như nhắn nhủ về dư vị thăng trầm của cuộc thế. Không gian mênh mông và lòng con cũng cảm thấy trống vắng. Con nhớ đến Sư Ông. Xin cho con được gọi Hòa thượng Bình An bằng hai tiếng “Sư Ông” thân thuộc, bởi tự bao giờ con đã xem người như một người ông thật sự. Cuộc đời Ông cũng giống như ngọn gió kia, nhẹ lướt qua làm dịu mát bao tâm hồn. Rồi lại ra đi thanh thản như chiếc lá nghiêng mình trút hạt sương buổi sớm mai chẳng chút vướng bận.

Lần đầu tiên đến thăm Sư Ông và con như bị thôi miên khi cứ đứng từ xa nhìn sư ông mãi. Một hình ảnh quá đẹp! Sư ông ngồi trên chiếc ghế dài quen thuộc, lưng thẳng và hai cánh tay chạm nhẹ lên bàn để giữ tờ báo. Sự điềm nhiên hiện rõ trên gương mặt. Mọi xô bồ, tất bật, lo toan của cuộc sống dường như vắng mặt nơi người Ông khả kính này và Ông chỉ có một việc là sống trọn vẹn với giây phút hiện tại. Ai cũng muốn chụp lại những hình ảnh mình yêu thích và con cũng vậy. Nhưng khác với mọi người, con không chụp bằng máy ảnh hay điện thoại, mà chụp bằng chính cặp mắt và lưu lại nơi tâm hồn, để con có thể chiêm ngưỡng nó theo cách riêng của mình. Và hình ảnh này của Sư Ông mà con chụp được đã dạy con một bài học tuyệt vời: bài học về sự bình an.

Đức khiêm tốn- đó là bài học thứ hai con nhận được nơi Sư Ông. Bao lần qua đảnh lễ, Sư Ông đều không cho lạy mà bảo rằng: “ Ông có phước đức gì đâu mà bay lạy, lên lạy tổ là được rồi”. Và Ông còn dạy thêm: “ Bay ráng học nhanh nhanh, rồi về Ông dạy luật thêm cho. Chứ bay học trên trường cho vui, về rồi quên hết có nhớ gì đâu. Nhanh nhanh chứ để Ông chết là không ai dạy cho bay đâu”. Nghe Sư Ông nói thế con chỉ biết cười, thưa lại rằng: “ Sư Ông ráng chờ huynh đệ con đi học về nha sư ông!”. Lời nói vô tình vì nghĩ rằng: “ Sư Ông còn khỏe mà lo gì!”. Đâu hay cơn vô thường nhanh chóng để giờ đây khi nhớ lại, con không khỏi bùi ngùi. Ông đã ngoài bảy mươi, đã xa ghế giáo thọ hơn tám năm nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc truyền trao Luật tạng. Còn sức khỏe là còn dạy, Ông không muốn mang đi cái hay, cái đẹp trong Luật mà Ông đã nhận được từ các bậc tiền nhân cũng như sự thể nghiệm tâm linh của mình. Giáo pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại, và Ông đã mang ánh sáng Luật tạng đến với bao lớp trò. Hạnh phúc, an lạc cũng bắt đầu từ đó nảy nở nơi tâm hồn bao người.

Mùa xuân năm 2014, đó có lẽ là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời con được quỳ dưới chân Sư Ông để đảnh lễ khánh tuế đầu năm. Duyên lành khi con được tháp tùng cùng quý thầy cô khóa Sáu, đến chùa Sư Ông là địa điểm cuối cùng, cả đoàn đều đã thấm mệt. Nhưng hay thay, chỉ một câu nói của sư ông mà bao mệt nhọc đều tan biến và con thấy rõ sự tươi vui của tất cả mọi người trong đoàn: “Thầy chỉ muốn nhắc mấy con: Đừng làm trái những điều mà mình đã hiểu”. Vâng, thưa Sư Ông, chỉ một câu nói thôi mà con có tu tập cả đời cũng chưa đủ. Bao nhiêu tinh túy của Luật tạng như gói gọn và hiện diện một cách sinh động trong câu nói vô cùng mộc mạc này. Con sẽ luôn ghi nhớ câu nói của Sư Ông như một lời tự nhắc mình về việc hành trì giới luật, và vì đó là món quà vô giá mà Ông đã để lại cho thế hệ mai sau.

Trăng đã khuất sau đỉnh núi, ánh sao mai dần ló dạng và sáng rỡ trên bầu trời như định hướng cho những ai còn lạc lối. Phải chăng nơi đó Sư Ông đang mỉm cười và an nhiên!

Con TN.Thanh Tâm

Thành kính đảnh lễ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10344)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10169)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12921)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8732)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14777)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8524)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8949)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10137)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8880)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14510)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.