Cảm niệm Ân sư

29/03/202012:54(Xem: 6875)
Cảm niệm Ân sư

Cảm niệm Ân sư



Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch  chư Tôn đức

Chỉ còn vài phút nữa thôi, môn đồ pháp quyến chúng con thành tâm cung thỉnh Kim quan của Hòa thượng Bổn sư nhập bảo tháp, chúng con kính xin chư Tôn Thiền đức dành cho chúng con chút thời gian quý báu nầy để dâng nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con lên Giác linh Hòa thượng Bổn sư, người đã dày công giáo dưỡng chúng con nên người hôm nay.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng

Chúng con – những người học trò thân thương, những đệ tử tâm thành và môn đồ pháp quyến cả hai hàng đệ tử xuất gia và tại gia đồng quỳ trước di ảnh và Kim quan của Hòa thượng hôm nay, ngưỡng mong Ngài chứng minh cho tấm lòng kính quý của chúng con. Còn một ít thời gian nữa thôi, chúng con xin được phép tôn xưng Hòa thượng bằng tiếng Thầy kính yêu. Bởi vì, với chúng con, Thầy thiêng liêng lắm! Thầy là người dìu chúng con đi trên con đường tu học gian nan khó nhọc, để vươn khỏi thế giới u mê mộng ảo. Thầy là con thuyền từ to lớn, chở tất cả chúng con vượt qua những sóng gió đảo điên vọng tưởng khổ đau. Thầy là nguồn sáng quang minh của ánh mặt trời xua tan bóng tối vô minh bao phủ chung quanh.

Kính bạch Giác linh Thầy

Năm xưa, có lần Đức Thế Tôn nhập đại định Sư Tử Tần Thân, Bồ Tát Văn Thù từ trong rừng đi ra, thật là uy nghi như một con voi chúa ngoảnh nhìn các vị Tỳ Kheo ngưỡng mộ. Chỉ một ánh mắt thân thiện như một Tượng vương đó thôi, mà các vị Tỳ Kheo đã tỏ ngộ lý vô thường, duyên sinh và dũ sạch mọi khổ đau phiền lụy. Hình ảnh đại định Sư Tử Tần Thân và ánh mắt của Tượng vương ấy làm cho chúng con liên tưởng đến cuộc đời tu đạo và hành đạo của Thầy.

Kính bạch Giác Linh Thầy

Hơn 70 năm sống với đời và hơn 50 năm tu đạo và hành đạo, Thầy đã sống hết mình, tu hết mình và dành tình thương mến hết mình cho tất cả chúng con. Hình ảnh sống và tu của Thầy như con Sư tử – vị chúa tể sơn lâm cao quý mang lại sự chuyên tinh hành trì và học tập cho chúng con trong thiền môn thanh tịnh.

Ở với Thầy, sống bên Thầy thật sự chúng con như đồng cỏ mênh mông xanh ngát – an lạc – và bình yên vô cùng. Học với Thầy, chúng con mới biết Thầy giảng dạy, hướng dẫn chúng con như tinh thần của Chúa sơn lâm luôn luôn đánh thức, và đánh thức khả năng tư duy tu tập của chúng con, để loại trừ tất cả mọi u mê, ám chướng.

Thầy là thế! Thầy tận lòng như Thế Tôn đi vào đại định. Thầy xông pha quyết liệt như Chúa sơn lâm vươn mình trong nắng sớm. Vào đại định Sư Tử Tần Thân, Thầy là một lương sư hùng lực, một bậc mô phạm thuần lương, một nhà giáo chân tình dưới mái Chùa thiêng liêng dạy Đạo, và đem Đạo giúp đời.

Suốt năm mươi năm “Trụ pháp vương gia, trì Như Lai tạng” Thầy trang trải tâm nguyện và hạnh nguyện của mình, để biến chuyển ngôi chùa Bình An sống động như danh xưng của mình. Một ngôi chùa đơn sơ, mộc mạc, trong sự hành trì tu tập và làm đạo của Thầy, đã trở thành ngôi phạm vũ huy hoàng, thiền môn hưng thạnh, đã thay đổi toàn diện từ hình hài bên ngoài đến máu huyết xương tủy bên trong, suốt năm mươi năm qua.

Nơi Bình An ấy, Thầy đã chia sẽ đạo tình của Thầy đến với tất cả để dưỡng nuôi và chuyển những tâm thức héo hon trở thành tươi thắm; đổi những thô lỗ quê mùa thành từ ái bao dung. Rất nhiều pháp hữu của Thầy tỉnh ngộ sau biến cố sa chân vướng lụy, đã trở lại thiền môn, được Thầy bao dung hỗ trợ từ vật chất lẫn tinh thần, để tươi tỉnh trở thành những bậc “tùng Phật đản sanh, tùng Pháp hóa sanh”, sống những ngày còn lại trọn vẹn công đức.

Kính bạch Giác linh Thầy!

Ngôn ngữ luôn luôn giới hạn ý nghĩa của nó, làm sao chúng con có thể diễn đạt hết nỗi niềm cảm niệm ân sư của chúng con dâng Thầy, Chúng con xin mượn hai câu thơ của Thiền sư Phật Quốc là “Sư Tử Tần Thân phương thảo lục Tượng Vương Hồi Cố lạc hoa hồng” để xưng tán đạo nghiệp và tình thương của Thầy dành cho chúng con.

Kính bạch Giác linh Thầy

Sư Tử vươn mình thơm cỏ xanh

Tượng vương ngoái lại hoa héo hồng

Thầy ơi! Thầy của chúng con là bậc duy nhất trong thiền môn hôm nay. Cuộc đời tu của Thầy đẹp vô cùng, bởi Thầy không màng một chút mảy may danh lợi phù phiểm nào cả, Chưa bao giờ Thầy dạy chúng con chạy theo cơm áo gạo tiền của thế gian mộng ảo. Vấn đề chính của lời Thầy bao năm qua chỉ là chuyển hóa, chuyển hóa và chuyển hóa mà thôi. Phải thay đổi, Thầy dạy phải thật sự đổi thay. Đổi từ lượng đến chất, đổi từ chất đến lượng của người con Phật.

Khi thể lượng bên ngoài chưa thể chuyển được, Thầy dạy chúng con chuyển hóa bản chất bên trong bằng sự quán chiếu tĩnh tu. Khi bản chất bên trong thật sự chưa chuyển được, Thầy dạy chúng con tụng Kinh, niệm Phật dấn thân vào mọi Phật sự để tích Phước, gieo duyên. Khi có thể chuyển hóa hình dáng bên ngoài và nội dung Phật chất bên trong, Thầy dạy chúng con Phước Trí song tu vừa tạo dựng đạo tràng, chùa viện, thiền môn, vừa hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu học, vừa hành trì tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, tọa Thiền, v.v… để trọn vẹn bổn nguyện phụng sự chúng sanh, đền ân Tam Bảo.

Cuộc đời Thầy là thế, từ lúc đến cho đến lúc đi không một chút danh đọng trên áo, không một chút lợi hoen ố trong tâm. Hình ảnh Thầy cao quý làm sao, hùng lực làm sao và thiêng liêng làm sao. Ôi chúng con không thể diễn tả cho tường!

Chúng con vô cùng cảm niệm ân đức Thầy đã khơi niềm Đạo, gieo hạt giống Phật, chăm sóc và dưỡng nuôi thân Bồ đề của chúng con vươn cao và rợp bóng trong rừng Thiền Việt nói riêng và Thiền Lâm của đạo Phật hôm nay và mai sau.

Tất cả chúng con xin thành kính dâng nén ngũ phần tâm hương; Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương cúng dường Giác linh Thầy. Ngưỡng nguyện Giác linh Thầy cao đăng Phật quốc, hồi nhập Ta Bà, quảng độ chúng sanh.

 

NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ, BÌNH AN TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG thượng ĐỒNG hạ CHƠN, hiệu MINH CHIẾU, tự THÔNG THIỆN HÒA THƯỢNG GIÁC LINH

Môn đồ Pháp quyến

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10347)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10191)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12936)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8733)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14778)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8526)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8954)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10140)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8893)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14517)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.