02-Tam qui

28/01/201109:41(Xem: 11528)
02-Tam qui

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

TamQui

I.-MỞÐỀ

Sốngtrongcuộc đời muôn mặt, người muốn chọn lấy một lốiđi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa và an lành,thật không phải là việc dễ. Chúng ta là khách lữ hành đangđứng trước ngã tư ngã năm, mà chưa biết cuối cùng cáccon đường ấy sẽ đưa đến đâu? Chọn lấy một con đườngđể đi đến suốt đời, phải khôn ngoan sáng suốt lắm mớikhỏi hối hận về mai sau. Nhưng mà bắt buộc chúng ta phảichọn lấy, đừng nhờ nhõi, đừng nghe lời xúi giục, vìđây là con đường tự ta đi không ai thế ta được. Chọnkỹ rồi sẽ đi, là thái độ của kẻ khôn ngoan; nhắm mắtđi càn phó mặc đến đâu hay đến đó, là kẻ khờ dại,mang cả cuộc đời làm một trò chơi. Người trí phải nhìnkỹ, phải xem xét tường tận trước khi mình cất bước đitrên một con đường nào. Qui y Tam Bảo quả là đã đặt mìnhtrên một con đường đi đến tận cùng. Ðến tận đầu đườnglà suốt cuộc đời của chúng ta. Việc làm này cần phảihiểu biết rõ, nhận thức tường tận, mới phát tâm Qui y.Phát nguyện Qui y là chúng ta đã đặt định hướng cho cảcuộc đời. Nếu không hiểu biết gì thì việc Qui y mất hếtý nghĩa của nó.

II.-ÐỊNH NGHĨA

Tamqui nói đủ là Qui y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật bảo, Pháp bảovà Tăng bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni, do trướckia Ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp bảo là giáo phápdo đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng Bảolà những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đứcPhật.

Tạisao gọi là Phật bảo?

- Từmột kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thật là chuyệnít có trên nhân gian này. Thế nên trong kinh thường nói Phậtra đời khó gặp, như hoa Ưu-đàm một ngàn năm mới trổ mộtlần. Bởi ít có khó gặp nên nói là báu. Hơn nữa, giác ngộthành Phật tự bản thân Ngài đã thoát khỏi sanh tử luânhồi, đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho người cùng ra khỏisanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là báu.

Thếnào gọi là Pháp bảo?

- Chánhpháp xuất thế hi hữu do đức Phật dạy lại, người ngherất khó hiểu khó thấu đáo được. Nhưng một khi đã hiểu,ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thànhthánh nhân, pháp như vậy còn gì quí báu bằng. Pháp của Phậtdạy là chân lý, dù trải thời gian bao lâu chân lý ấy vẫnrạng ngời như hòn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lối trongđêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quítiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũngnhư thế. Người đang bị chìm đắm ngoài bể cả, trông thấymột con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quí mến thếnào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế.Cho nên nói "trăm ngàn muôn kiếp khó tìm gặp".

Thếnào gọi là Tăng bảo?

- Tănglà chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúngtinh thần Lục hòa. Sống đúng tinh thần Lục hòa là việcít có trên nhân gian này. Bởi vì người thế gian sống đuađòi giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ họ sốnghòa thuận như thế được. Lục hòa là: thân hòa chung ơ,ûmiệng hòa không tranh cãi, ý hòa đồng vui, giới luật hòacùng giữ, hiểu biết hòa cùng giải, lợi hòa chia đồng.Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầutròn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục hòa cũng khônggọi là Tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên,hằng hòa thuận chung sống đúng tinh thần Lục hòa, việcnày rất khó làm đối với người thế gian. Vì thế, tu sĩsống khuôn theo tinh thần Lục hòa, thật là một điều quíbáu ở trên nhân gian. Vả lại, trên sự tu hành, các vị ấytự mình đã vơi cạn phiền não, còn dạy bảo kẻ khác dẹpbỏ phiền não. Chính những vị ấy đã được phần nào anổn thanh tịnh, lại hướng dẫn người đến chỗ an ổn thanhtịnh. Bởi lẽ ấy, gọi các ngài là Tăng bảo.

Thếnào là Qui y?

- Quilà trở về, y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật,Pháp và Tăng gọi là Qui y Tam Bảo. Từ lâu, chúng ta mãi chạytheo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnhquyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Tam Bảo làchỗ cứu kính để cho đời chúng ta nương tựa, không còntạo nghiệp đau khổ, mà thường đem sự an lạc lại cho chúngta. Ðây là sự hồi tâm tỉnh giác phát nguyện trở về củachúng ta. Sự tỉnh giác này là nền tảng của lâu đài trítuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giácngộ. Ðặt nền tảng này vững chắc thì lâu đài trí tuệmới được lâu dài. Ðó là sự hệ trọng của tinh thầnQui y.

III.-QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀI

PhậtPháp Tăng là đối tượng để chúng ta Qui y. Nguyện noi theocon đường đức Phật đã đi là Qui y Phật. Quyết thực hànhnhững lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Quiy Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng Tăng làQui y Tăng. Từ đây bước đi, cuộc sống của chúng ta lấyTam Bảo làm mẫu mực, nhắm thẳng theo đó mà tiến tới,khỏi phải nghi ngờ dò dẫm như thuở nào. Chúng ta là hoatiêu, Tam Bảo là ngọn hải đăng. Cứ nhắm theo hải đăngmà lái con thuyền thân mạng của chúng ta cho đến đích. SongPhật pháp, người Phật tử quyết định tin theo không cònchút do dự, còn Tăng thì phải cẩn thận để khỏi nhậnlầm. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lụchòa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứngra làm lễ Qui y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện chotập đoàn. Qui y Tăng là qui y với những vị sư sống đúngtinh thần Lục hòa, không phải cuộc hạn riêng vị sư truyềntam qui ngũ giới cho mình. Nếu vị đại diện truyền qui giớiấy có tu được hay không tu được, người thọ pháp qui giớivẫn đã Qui y Tăng rồi. Khi qui y một vị Tăng tức là đãqui y tất cả chư Tăng, nếu vị nào sống đúng tinh thầnhòa hợp. Phật tử có quyền học hỏi tất cả Tăng chúng,không nên hạn hẹp nơi ông thầy của mình. Ðược vậy mớiđúng tinh thần Qui y Tam Bảo bên ngoài.

IV.-QUI Y TAM BẢO TỰ TÂM

Phậtpháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài làđối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảobên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoàihỗ tương để viên mãn công phu tu hành, là mục tiêu chánhyếu của đạo Phật.

Thếnào là Tam Bảo tự tâm?

Tánhgiác sẵn có nơi chúng ta là Phật bảo. Lòng từ bi thươngxót cứu giúp chúng sanh là Pháp bảo. Tâm hòa hợp thảo thuậnvới mọi người là Tăng bảo. Nhờ Phật bảo bên ngoài, chúngta đánh thức tánh giác của mình, trở về nương tựa tánhgiác của mình là Qui y Phật. Nhờ Pháp bảo bên ngoài, chúngta dấy khởi lòng từ bi đối với chúng sanh, trở về nươngtựa với lòng từ bi của mình là Qui y Pháp. Do chư Tăng bênngoài gợi lại cho chúng ta có tinh thần hòa hợp thuận thảo,trở về nương tựa với tinh thần hòa hợp thuận thảo củamình là Qui y Tăng. Phật Pháp Tăng bên ngoài là trợ duyêngiúp chúng ta phát khởi Phật Pháp Tăng của tự tâm. Ví nhưông thầy giáo làm trợ duyên cho đứa học trò mở mang kiếnthức của nó. Có ông thầy giáo cần cù, mà đứa học tròlười biếng không chịu học, ông thầy cũng trở thành vôích. Cũng thế, có Tam Bảo bên ngoài, người Phật tử khôngcố gắng đánh thức Tam Bảo của chính mình, Tam Bảo bênngoài cũng thành vô nghĩa. Tam Bảo bên ngoài là điều kiệntối thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giácngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo tự tâm. Chỉbiết có Tam Bảo bên ngoài là chấp sự bỏ lý. Một bề tinvào Tam Bảo của tự tâm không cần biết đến Tam Bảo bênngoài, là chấp lý bỏ sự. Người Phật tử chân chánh phảiviên dung sự lý mới khỏi trở ngại trên đường tu.

V.-NGHI THỨC QUI Y

Trọngtâm chủ yếu trong buổi lễ Qui y, chính lúc Phật tử quìtrước Tam Bảo, ba lần phát nguyện: "Ðệ tử... xin suốtđời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng."Câu phát nguyệnnày tự đáy lòng Phật tử phát xuất, không do sự ép buộcxúi giục nào. Ba lần phát nguyện như vậy là gieo hạt giốngvào sâu trong tàng thức, khiến đời đời không quên. Ðâylà tinh thần tự giác tự nguyện. Hình thức nghi lễ chỉgiúp thêm ấn tượng quan trọng cho giờ phút phát nguyện ấythôi. Khi chúng ta tỉnh giác nguyện theo Tam Bảo thì đời tađược lợi ích. Nếu trên đường tu có lúc nào bị vô minhche đậy không nhớ Tam Bảo, chúng ta tự chịu thiệt thòi.Nhà Phật không bắt buộc chúng ta thệ những gì nặng nềđể không bỏ đạo. Của báu cho người nếu ưng nhận lờithì được lợi ích, không ưng nhận thì thôi, bắt buộc làmgì. Trừ ra có hậu ý gì, mới bắt buộc những câu thề nặngđể không dám bỏ. Người hiểu được chỗ này mới thấygiá trị chân thật của đạo Phật. Tất cả sự dụ dỗép buộc để theo đạo, nhà Phật hoàn toàn phản đối. Mỗingười tự nhận thức rõ ràng về đạo Phật rồi phát tâmđến với đạo, mới đúng tinh thần Phật tử. Hiểu rồimới theo là hành động đúng với tinh thần giác ngộ. Dùngthuật hay, phép lạ để dẫn người vào đạo, đó là mêtín. Dùng mọi quyền lợi để dụ người ta vào đạo, đólà cám dỗ kẻ ngu si, không phù hợp với tinh thần giác ngộ.Chúng ta có bổn phận giải thích để người khác hiểu pháttâm qui y là, người truyền đạo chân chánh. Nghi thức trịnhtrọng trong buổi lễ qui y, chỉ là trợ duyên cho lời phátnguyện của chúng ta được thành tựu viên mãn. Nghi lễ nàykhông có nghĩa là Phật sẽ ban ơn cho chúng ta trọn đời đượcan lành.

VI.-KHẲNG ÐỊNH LẬP TRƯỜNG

Saukhi qui y Tam Bảo, chúng ta khẳng định lập trường một cáchtỏ rõ: "Qui y Phật, không qui y thiên, thần, quỉ, vật."Chúng ta đã nhận định kỹ càng quyết chí theo Phật là đấnggiác ngộ, không lý do gì lại theo thiên, thần, quỉ, vật.Bởi vì thiên, thần, quỉ, vật vẫn chưa giác ngộ, còn bịluân hồi như chúng ta. Song cũng có một số Phật tử đãqui y Phật, mà vẫn chạy theo quỉ thần. Những người nàyvì tham lợi lộc, vì thích mầu nhiệm, nên đã đi sai đườngPhật pháp. Thậm chí vì sự mê tín của họ, họ trở lạikính trọng quỉ thần hơn Phật. Ðây là hiện tượng xấuxa để khách bàng quang phê bình Phật giáo.

"Quiy Pháp, không qui y ngoại đạo tà giáo."Chánh pháp củaPhật là chân lý, cứu giúp chúng sanh một cách thiết thực,như ông thầy thuốc đối với bệnh nhân. Hiểu được lẽchân thực này, còn lý do gì chúng ta chạy theo ngoại đạotà giáo. Chúng ta tự nhận mình yêu chuộng chân lý, cầu mongsự thoát khổ thiết thực, ngoại đạo tà giáo còn gì hấpdẫn được chúng ta. Chỉ có những kẻ ba phải nghe đâu chúcđó, mới có những hành động đổi thay vô lý như vậy. Dùcó những phép tà ngoại linh thiêng muốn gì được nấy, chúngta cũng không khởi lòng tham theo họ. Hoặc họ có những phươngthuốc linh mầu nhiệm bệnh gì cũng cứu khỏi, là Phật tửchân chánh thà chịu chết chớ không cầu xin. Thân này cógiữ gìn khéo mấy, cuối cùng cũng tan hoại, lạc vào đườngtà kiếp kiếp khó ra khỏi.

"Quiy Tăng, không qui y bạn dữ nhóm ác."Chúng ta đã chọnlựa những vị hiền đức nương theo, khiến đời mình vềgần với đức hạnh. Bạn dữ nhóm ác đối với người biếtđạo cần phải tránh xa. Bởi vì "gần mực thì đen gần đènthì sáng", hay "gần đồ tanh hôi mình bị hôi lây, gần vậtthơm tho mình được thơm lây". Vì thế, chúng ta phải can đảmđi đúng đường của mình đã chọn, dù có bị khinh khi mạlỵ, ta cũng cứ thế mà đi. Bởi vì chúng ta đâu phải làkẻ mù quáng, mà đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẳng địnhlập trường rõ ràng là người có ý chí cương quyết. Nếungười tu hành mà thiếu ý chí này, dễ bị gió lung lay.

VII.-KẾT LUẬN

Quiy Tam Bảo là nền móng tòa nhà giác ngộ, là nấc đầu trêncây thang giải thoát, là những bước đầu trên con đườngvề quê hương vô sanh. Muốn tòa nhà vững chắc, cần phảicó nền móng kiên cố. Cần vượt tột cây thang giải thoát,nấc đầu phải bước cho vững. Thích sự an lành ở quê hươngvô sanh, những bước đầu trên con đường trở về phảiđi cho đúng. Thiếu nền móng Tam Qui thì tòa nhà giác ngộkhông sao xây cất được. Không có nấc đầu, khó ai có thểleo tận cây thang giải thoát. Những bước đầu trên con đườngvề quê đã sai, trăm ngàn bước sau cho đến càng đi càngsai. Vì thế, Qui y Tam Bảo có tầm quan trọng vô cùng. Mỗingười muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y màvào, không như thế thì học Phật mất căn bản. Bởi nó đóngmột vai trò quan trọng như vậy, nên người Phật tử phảithận trọng trong việc phát nguyện Qui y. Ðừng vì là Qui ycho có phước, cho khỏi bệnh hoạn, cho Phật gia hộ qua taiách..., đều là lý do mê tín trái với tinh thần tự giáctự nguyện của Ðạo Phật.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/11/2017(Xem: 18884)
Tứ Diệu Đế, 3 Chuyển 12 Hành ------------------------------------------------- Thich-Nu-Hang-Nhu Thích Nữ Hằng Như NGUỒN GỐC Dựa theo "Tiến Trình Tu Chứng và Thành Đạo của Đức Phật", chúng ta biết rằng sau khi Đức Phật từ bỏ pháp tu từ hai vị đạo sĩ Alàra Kàlama và Uddaka Ramàputta đã dạy Ngài bốn tầng Định Yoga là: "Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ", đồng thời từ bỏ luôn pháp tu khổ hạnh kéo dài 6 năm, là một pháp tu đã khiến Ngài suýt mất mạng mà không đạt được thượng trí và Niết Bàn. Sau đó Đức Phật tự chọn pháp Thở để tu tập.
01/11/2017(Xem: 15928)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng
25/08/2017(Xem: 27956)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
25/04/2017(Xem: 12331)
Đức Phật đôi khi có đề cập tới tính chất và các thành phần của vũ trụ. Theo Ngài, có nhiều hình thức đời sống hiện hữu ở các nơi khác trong vũ trụ. Với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học ngày nay, có lẽ không bao lâu nữa chúng ta sẽ khám phá ra các loài sinh vật khác đang sống ở các hành tinh xa nhất trong dãi thiên hà của chúng ta. Có thể các chúng sanh nầy sống trong những điều kiện và qui luật vật chất khác, hay giống như chúng ta. Họ có thể hoàn toàn khác chúng ta về hình thể, thành phần và cấu tạo hoá học
23/03/2017(Xem: 14466)
Thực tại, nghĩa là nơi chốn, chỗ, vị trí, cũng có tên không gian. Không gian, nói một cách tổng thể, là bề mặt của vũ trụ từ bao la, rộng lớn, cho đến hạn hẹp đối với mỗi con người chúng ta đang có mặt ở một nơi nào đó, như tại : Núi cao, thác ghềnh, quán cà phê, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng ăn, sân chùa,
16/03/2017(Xem: 11590)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước có nói đến Tâm là chủ tể. Đích thực, con người trên đời này làm nên vô số việc tốt, xấu, học hành, nên danh, nên nghiệp, mưu sinh sống đời hạnh phúc, khổ đau, cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật, thành Thánh, Nhân bản, v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo). Qua đây cho ta thấy rằng; tâm là con người thật của con người, (động vật có linh giác, giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra, bản thân con người, chỉ là một khối thịt bất động.
16/03/2017(Xem: 12595)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
11/03/2017(Xem: 12203)
Do vì đặc thù, cho nên bảy hạng đệ tử Phật (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di ni, Thích xoa Ma na, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di) từ trong thời Phật còn tại thế và hôm nay, ai cũng phải có tâm từ bi là một quy luật ắt phải có sau khi quay về Đạo Phật (Quy y tam bảo) trở thành Phật tử xuất gia. Được có tâm từ bi, là phải học và thực tập Phật Pháp. Dù là những oanh vũ nam, oanh vũ nữ trong tập thể GĐPT, đều phải học đạo lý từ bi và thực tập từ bi, được thấy ở những câu: em thương người và vật, em kính mến cha, mẹ và thuận thảo với anh chi, em.
22/12/2016(Xem: 45751)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/09/2016(Xem: 8533)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau.