02-Tam qui

28/01/201109:41(Xem: 11571)
02-Tam qui

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

TamQui

I.-MỞÐỀ

Sốngtrongcuộc đời muôn mặt, người muốn chọn lấy một lốiđi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa và an lành,thật không phải là việc dễ. Chúng ta là khách lữ hành đangđứng trước ngã tư ngã năm, mà chưa biết cuối cùng cáccon đường ấy sẽ đưa đến đâu? Chọn lấy một con đườngđể đi đến suốt đời, phải khôn ngoan sáng suốt lắm mớikhỏi hối hận về mai sau. Nhưng mà bắt buộc chúng ta phảichọn lấy, đừng nhờ nhõi, đừng nghe lời xúi giục, vìđây là con đường tự ta đi không ai thế ta được. Chọnkỹ rồi sẽ đi, là thái độ của kẻ khôn ngoan; nhắm mắtđi càn phó mặc đến đâu hay đến đó, là kẻ khờ dại,mang cả cuộc đời làm một trò chơi. Người trí phải nhìnkỹ, phải xem xét tường tận trước khi mình cất bước đitrên một con đường nào. Qui y Tam Bảo quả là đã đặt mìnhtrên một con đường đi đến tận cùng. Ðến tận đầu đườnglà suốt cuộc đời của chúng ta. Việc làm này cần phảihiểu biết rõ, nhận thức tường tận, mới phát tâm Qui y.Phát nguyện Qui y là chúng ta đã đặt định hướng cho cảcuộc đời. Nếu không hiểu biết gì thì việc Qui y mất hếtý nghĩa của nó.

II.-ÐỊNH NGHĨA

Tamqui nói đủ là Qui y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật bảo, Pháp bảovà Tăng bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni, do trướckia Ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp bảo là giáo phápdo đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng Bảolà những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đứcPhật.

Tạisao gọi là Phật bảo?

- Từmột kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thật là chuyệnít có trên nhân gian này. Thế nên trong kinh thường nói Phậtra đời khó gặp, như hoa Ưu-đàm một ngàn năm mới trổ mộtlần. Bởi ít có khó gặp nên nói là báu. Hơn nữa, giác ngộthành Phật tự bản thân Ngài đã thoát khỏi sanh tử luânhồi, đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho người cùng ra khỏisanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là báu.

Thếnào gọi là Pháp bảo?

- Chánhpháp xuất thế hi hữu do đức Phật dạy lại, người ngherất khó hiểu khó thấu đáo được. Nhưng một khi đã hiểu,ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thànhthánh nhân, pháp như vậy còn gì quí báu bằng. Pháp của Phậtdạy là chân lý, dù trải thời gian bao lâu chân lý ấy vẫnrạng ngời như hòn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lối trongđêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quítiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũngnhư thế. Người đang bị chìm đắm ngoài bể cả, trông thấymột con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quí mến thếnào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế.Cho nên nói "trăm ngàn muôn kiếp khó tìm gặp".

Thếnào gọi là Tăng bảo?

- Tănglà chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúngtinh thần Lục hòa. Sống đúng tinh thần Lục hòa là việcít có trên nhân gian này. Bởi vì người thế gian sống đuađòi giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ họ sốnghòa thuận như thế được. Lục hòa là: thân hòa chung ơ,ûmiệng hòa không tranh cãi, ý hòa đồng vui, giới luật hòacùng giữ, hiểu biết hòa cùng giải, lợi hòa chia đồng.Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầutròn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục hòa cũng khônggọi là Tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên,hằng hòa thuận chung sống đúng tinh thần Lục hòa, việcnày rất khó làm đối với người thế gian. Vì thế, tu sĩsống khuôn theo tinh thần Lục hòa, thật là một điều quíbáu ở trên nhân gian. Vả lại, trên sự tu hành, các vị ấytự mình đã vơi cạn phiền não, còn dạy bảo kẻ khác dẹpbỏ phiền não. Chính những vị ấy đã được phần nào anổn thanh tịnh, lại hướng dẫn người đến chỗ an ổn thanhtịnh. Bởi lẽ ấy, gọi các ngài là Tăng bảo.

Thếnào là Qui y?

- Quilà trở về, y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật,Pháp và Tăng gọi là Qui y Tam Bảo. Từ lâu, chúng ta mãi chạytheo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnhquyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Tam Bảo làchỗ cứu kính để cho đời chúng ta nương tựa, không còntạo nghiệp đau khổ, mà thường đem sự an lạc lại cho chúngta. Ðây là sự hồi tâm tỉnh giác phát nguyện trở về củachúng ta. Sự tỉnh giác này là nền tảng của lâu đài trítuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giácngộ. Ðặt nền tảng này vững chắc thì lâu đài trí tuệmới được lâu dài. Ðó là sự hệ trọng của tinh thầnQui y.

III.-QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀI

PhậtPháp Tăng là đối tượng để chúng ta Qui y. Nguyện noi theocon đường đức Phật đã đi là Qui y Phật. Quyết thực hànhnhững lời chỉ dạy của Ngài còn ghi trong kinh điển là Quiy Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng Tăng làQui y Tăng. Từ đây bước đi, cuộc sống của chúng ta lấyTam Bảo làm mẫu mực, nhắm thẳng theo đó mà tiến tới,khỏi phải nghi ngờ dò dẫm như thuở nào. Chúng ta là hoatiêu, Tam Bảo là ngọn hải đăng. Cứ nhắm theo hải đăngmà lái con thuyền thân mạng của chúng ta cho đến đích. SongPhật pháp, người Phật tử quyết định tin theo không cònchút do dự, còn Tăng thì phải cẩn thận để khỏi nhậnlầm. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lụchòa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứngra làm lễ Qui y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện chotập đoàn. Qui y Tăng là qui y với những vị sư sống đúngtinh thần Lục hòa, không phải cuộc hạn riêng vị sư truyềntam qui ngũ giới cho mình. Nếu vị đại diện truyền qui giớiấy có tu được hay không tu được, người thọ pháp qui giớivẫn đã Qui y Tăng rồi. Khi qui y một vị Tăng tức là đãqui y tất cả chư Tăng, nếu vị nào sống đúng tinh thầnhòa hợp. Phật tử có quyền học hỏi tất cả Tăng chúng,không nên hạn hẹp nơi ông thầy của mình. Ðược vậy mớiđúng tinh thần Qui y Tam Bảo bên ngoài.

IV.-QUI Y TAM BẢO TỰ TÂM

Phậtpháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài làđối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảobên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoàihỗ tương để viên mãn công phu tu hành, là mục tiêu chánhyếu của đạo Phật.

Thếnào là Tam Bảo tự tâm?

Tánhgiác sẵn có nơi chúng ta là Phật bảo. Lòng từ bi thươngxót cứu giúp chúng sanh là Pháp bảo. Tâm hòa hợp thảo thuậnvới mọi người là Tăng bảo. Nhờ Phật bảo bên ngoài, chúngta đánh thức tánh giác của mình, trở về nương tựa tánhgiác của mình là Qui y Phật. Nhờ Pháp bảo bên ngoài, chúngta dấy khởi lòng từ bi đối với chúng sanh, trở về nươngtựa với lòng từ bi của mình là Qui y Pháp. Do chư Tăng bênngoài gợi lại cho chúng ta có tinh thần hòa hợp thuận thảo,trở về nương tựa với tinh thần hòa hợp thuận thảo củamình là Qui y Tăng. Phật Pháp Tăng bên ngoài là trợ duyêngiúp chúng ta phát khởi Phật Pháp Tăng của tự tâm. Ví nhưông thầy giáo làm trợ duyên cho đứa học trò mở mang kiếnthức của nó. Có ông thầy giáo cần cù, mà đứa học tròlười biếng không chịu học, ông thầy cũng trở thành vôích. Cũng thế, có Tam Bảo bên ngoài, người Phật tử khôngcố gắng đánh thức Tam Bảo của chính mình, Tam Bảo bênngoài cũng thành vô nghĩa. Tam Bảo bên ngoài là điều kiệntối thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giácngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo tự tâm. Chỉbiết có Tam Bảo bên ngoài là chấp sự bỏ lý. Một bề tinvào Tam Bảo của tự tâm không cần biết đến Tam Bảo bênngoài, là chấp lý bỏ sự. Người Phật tử chân chánh phảiviên dung sự lý mới khỏi trở ngại trên đường tu.

V.-NGHI THỨC QUI Y

Trọngtâm chủ yếu trong buổi lễ Qui y, chính lúc Phật tử quìtrước Tam Bảo, ba lần phát nguyện: "Ðệ tử... xin suốtđời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng."Câu phát nguyệnnày tự đáy lòng Phật tử phát xuất, không do sự ép buộcxúi giục nào. Ba lần phát nguyện như vậy là gieo hạt giốngvào sâu trong tàng thức, khiến đời đời không quên. Ðâylà tinh thần tự giác tự nguyện. Hình thức nghi lễ chỉgiúp thêm ấn tượng quan trọng cho giờ phút phát nguyện ấythôi. Khi chúng ta tỉnh giác nguyện theo Tam Bảo thì đời tađược lợi ích. Nếu trên đường tu có lúc nào bị vô minhche đậy không nhớ Tam Bảo, chúng ta tự chịu thiệt thòi.Nhà Phật không bắt buộc chúng ta thệ những gì nặng nềđể không bỏ đạo. Của báu cho người nếu ưng nhận lờithì được lợi ích, không ưng nhận thì thôi, bắt buộc làmgì. Trừ ra có hậu ý gì, mới bắt buộc những câu thề nặngđể không dám bỏ. Người hiểu được chỗ này mới thấygiá trị chân thật của đạo Phật. Tất cả sự dụ dỗép buộc để theo đạo, nhà Phật hoàn toàn phản đối. Mỗingười tự nhận thức rõ ràng về đạo Phật rồi phát tâmđến với đạo, mới đúng tinh thần Phật tử. Hiểu rồimới theo là hành động đúng với tinh thần giác ngộ. Dùngthuật hay, phép lạ để dẫn người vào đạo, đó là mêtín. Dùng mọi quyền lợi để dụ người ta vào đạo, đólà cám dỗ kẻ ngu si, không phù hợp với tinh thần giác ngộ.Chúng ta có bổn phận giải thích để người khác hiểu pháttâm qui y là, người truyền đạo chân chánh. Nghi thức trịnhtrọng trong buổi lễ qui y, chỉ là trợ duyên cho lời phátnguyện của chúng ta được thành tựu viên mãn. Nghi lễ nàykhông có nghĩa là Phật sẽ ban ơn cho chúng ta trọn đời đượcan lành.

VI.-KHẲNG ÐỊNH LẬP TRƯỜNG

Saukhi qui y Tam Bảo, chúng ta khẳng định lập trường một cáchtỏ rõ: "Qui y Phật, không qui y thiên, thần, quỉ, vật."Chúng ta đã nhận định kỹ càng quyết chí theo Phật là đấnggiác ngộ, không lý do gì lại theo thiên, thần, quỉ, vật.Bởi vì thiên, thần, quỉ, vật vẫn chưa giác ngộ, còn bịluân hồi như chúng ta. Song cũng có một số Phật tử đãqui y Phật, mà vẫn chạy theo quỉ thần. Những người nàyvì tham lợi lộc, vì thích mầu nhiệm, nên đã đi sai đườngPhật pháp. Thậm chí vì sự mê tín của họ, họ trở lạikính trọng quỉ thần hơn Phật. Ðây là hiện tượng xấuxa để khách bàng quang phê bình Phật giáo.

"Quiy Pháp, không qui y ngoại đạo tà giáo."Chánh pháp củaPhật là chân lý, cứu giúp chúng sanh một cách thiết thực,như ông thầy thuốc đối với bệnh nhân. Hiểu được lẽchân thực này, còn lý do gì chúng ta chạy theo ngoại đạotà giáo. Chúng ta tự nhận mình yêu chuộng chân lý, cầu mongsự thoát khổ thiết thực, ngoại đạo tà giáo còn gì hấpdẫn được chúng ta. Chỉ có những kẻ ba phải nghe đâu chúcđó, mới có những hành động đổi thay vô lý như vậy. Dùcó những phép tà ngoại linh thiêng muốn gì được nấy, chúngta cũng không khởi lòng tham theo họ. Hoặc họ có những phươngthuốc linh mầu nhiệm bệnh gì cũng cứu khỏi, là Phật tửchân chánh thà chịu chết chớ không cầu xin. Thân này cógiữ gìn khéo mấy, cuối cùng cũng tan hoại, lạc vào đườngtà kiếp kiếp khó ra khỏi.

"Quiy Tăng, không qui y bạn dữ nhóm ác."Chúng ta đã chọnlựa những vị hiền đức nương theo, khiến đời mình vềgần với đức hạnh. Bạn dữ nhóm ác đối với người biếtđạo cần phải tránh xa. Bởi vì "gần mực thì đen gần đènthì sáng", hay "gần đồ tanh hôi mình bị hôi lây, gần vậtthơm tho mình được thơm lây". Vì thế, chúng ta phải can đảmđi đúng đường của mình đã chọn, dù có bị khinh khi mạlỵ, ta cũng cứ thế mà đi. Bởi vì chúng ta đâu phải làkẻ mù quáng, mà đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẳng địnhlập trường rõ ràng là người có ý chí cương quyết. Nếungười tu hành mà thiếu ý chí này, dễ bị gió lung lay.

VII.-KẾT LUẬN

Quiy Tam Bảo là nền móng tòa nhà giác ngộ, là nấc đầu trêncây thang giải thoát, là những bước đầu trên con đườngvề quê hương vô sanh. Muốn tòa nhà vững chắc, cần phảicó nền móng kiên cố. Cần vượt tột cây thang giải thoát,nấc đầu phải bước cho vững. Thích sự an lành ở quê hươngvô sanh, những bước đầu trên con đường trở về phảiđi cho đúng. Thiếu nền móng Tam Qui thì tòa nhà giác ngộkhông sao xây cất được. Không có nấc đầu, khó ai có thểleo tận cây thang giải thoát. Những bước đầu trên con đườngvề quê đã sai, trăm ngàn bước sau cho đến càng đi càngsai. Vì thế, Qui y Tam Bảo có tầm quan trọng vô cùng. Mỗingười muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y màvào, không như thế thì học Phật mất căn bản. Bởi nó đóngmột vai trò quan trọng như vậy, nên người Phật tử phảithận trọng trong việc phát nguyện Qui y. Ðừng vì là Qui ycho có phước, cho khỏi bệnh hoạn, cho Phật gia hộ qua taiách..., đều là lý do mê tín trái với tinh thần tự giáctự nguyện của Ðạo Phật.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/03/2018(Xem: 12513)
Có những vần thơ gắn liền với mỗi người từ thuở biết viết, biết đọc cho đến lúc trưởng thành, đi theo suốt cuộc đời, và cũng có thể…cho đến hơi thở cuối cùng. Những vần thơ hay những câu thơ của những thi sĩ nổi danh mà mình đã thuộc nằm lòng, đã ghi nhớ tận đáy sâu của ký ức, và bỗng một lúc nào đó, ở một tình huống nào đó, một nhân duyên nào đó, tự chúng hiện ra một cách tự nhiên trong dòng tư tưởng, sự nghĩ suy, và bộc ra thành lời nói như là của chính mình và đôi lúc, chỉ nhớ đến vần thơ, câu thơ đó mà cũng không hề nhớ đến tác giả là ai nữa ! Các vần thơ, các câu thơ ấy thực sự đã gắn liền với mình, với đời sống mình, đôi lúc còn được xem như là kim chỉ Nam để giúp mình phản ứng, cư xử trước mọi hoàn cảnh, vui hay buồn, tốt hay xấu đang xảy ra.
03/02/2018(Xem: 25272)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/2018(Xem: 21940)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
05/01/2018(Xem: 18317)
Sau bài giới thiệu “Đọc Trúc Lâm Thiền Phái tại Huế của Thích Tín Nghĩa” phổ biến tới bạn đọc ngày 7/12/2017, Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa lại gửi biếu tôi thêm hai cuốn sách : - Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập tái bản lần thứ nhất 2013. - Đạt Ma và Huyền Trang tái bản lần thứ ba 1998.
02/01/2018(Xem: 12126)
Phái đoàn chúng tôi đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu về đến đây, tức là chùa Châu Lâm, thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên để thăm viếng bà con và chia sẻ một số tịnh tài, phẩm vật đến với bà con khốn khó trong cơn bão lũ vừa qua tại tỉnh nhà chúng ta. Thưa quý vị! Phú Yên là quê hương yên bình, được che chở bởi trời đất, bởi hồn thiêng sông núi, bởi lịch đại Tổ sư Phật giáo. Quê hương của chúng ta có biển, có núi, có đầm, có sông và có bình nguyên, cho nên cũng từ đó, mà quê hương chúng ta đã phát sinh ra nhiều bậc anh tài cho đất nước, nhiều bậc cao Tăng cho Đạo Pháp một thời.
21/12/2017(Xem: 13115)
Hôm nay là ngày 9/10/Đinh Dậu, tức ngày 26/11/2017, tại chùa Quang Sơn, xã An Hiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, thay mặt chư Tôn Đức Tăng hiện tiền, cũng như chư Tôn Đức Tăng Ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, các Phật tử của Âu Châu hảo tâm, các nhà mạnh thường quân tại Âu Châu, phái đoàn chúng tôi xin gửi lời thăm hỏi chân tình nhất đến bà con hiện diện hôm nay.
18/12/2017(Xem: 12441)
Thuyết Nhân Duyên_Tuệ Thiền Nguyễn Tối Thiện-2017, Để diễn tả sự liên hệ giữa hai sự vật trong vũ trụ, triết học Trung hoa đưa ra nguyên lý Ngũ Hành bao gồm 5 yếu tố tượng trưng cho năm cơ quan tạng phủ hay năm năng lực khí hóa : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Nguyên lý Ngũ Hành có thể được phát biểu như sau : « phàm cái gì hiện hữu đều có cái sinh ra nó, cái khắc nó, cái nó sinh ra và cái nó khắc, tạo thành một toàn thể 5 yếu tố liên hệ chặc chẻ. » Nguyên lý này áp dụng cho các phần tử (éléments) vật chất hoặc các năng lực khí hóa nhưng nó bị giới hạn trong một đơn vị thời gian nào đó tùy theo sự vận hành của yếu tố vật chất nầy.
15/12/2017(Xem: 127933)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
15/12/2017(Xem: 180617)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
08/12/2017(Xem: 27980)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để