Chiếc xe thời gian

02/10/201409:20(Xem: 5370)
Chiếc xe thời gian

1canhdep2                    

 

                                                     Ta gặp nhau

                                                     Trên đường đời muôn ngã

                                                     Rồi chia nhau

                                                     Theo mỗi ngã vào đời.

         

 

Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước

Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.

 

Ngồi bên quán cốc, nhìn cảnh bến xe về khuya trông đủ thành phần, hình thức sinh hoạt như một góc đời được thu nhỏ lại, uống xong ly cà phê, đến phòng nhận vé đã được đặt trước một ngày để về tỉnh nhà ở Miền Tây Nam Bộ, người bán vé bây giờ thấy có phần lịch thiệp và văn minh hơn xưa nhiều, có nhân viên thông báo hướng dẫn từng tuyến xe xuất bến đúng theo giờ qui định đã gi trong vé, tận tình tiếp khách khi lên hoặc xuống xe.

 

Tài xế cho xe nổ máy, khách lần lượt lên xe ngồi vào số ghế đã được đăng ký, các vị phục vụ xe chuyển những kiện hàng vào khoan, trên xe đã ổn định và thủ tục xuất bến đã xong, chiếc xe chầm chậm nặng nề lê mình ra khỏi khu vực bến bãi hướng về quốc lộ IA với mã lực tăng dần lên để đủ tải một trọng lượng khá lớn trên xe, trong xe thỉnh thoảng có tiếng chuyện trò hay lục đục soạn đi soạn lại gói hàng nhỏ hoặc túi xách valy cầm tay .v.v…, nhưng cũng có người lặng lẽ nhìn cảnh quang hai bên đường khi sắc trời đã rót những tia nắng mới.

 

Suốt thời gian từ khi xe rời bến, xe đã đi hơn hai phần ba đoạn đường, bấy giờ hành khách lần lượt xuống xe và cứ thế, khoảng từ năm mười cây số hay ít hơn là có người xuống xe, kẻ xuống trước, người xuống sau, phần nhiều đều có mang theo ít hành trang hoặc những kiện hàng cồng kềnh hay gọn nhẹ, để lại trên xe mỗi lúc một trống vắng, tiếng ồn cũng bớt đi, mặt trời đã quá giữa trưa, thời gian thu dần lại, bến đổ  cũng không còn xa nữa. Thế là hành khách lần nầy lại chia nhau về mọi ngã cuộc đời, còn chiếc xe khách kia thì nằm yên nơi bến đổ sau một tuyến đường dài đầy nắng và gió bụi thời gian. Một cảm nghĩ thoáng hiện trong tâm tư sau một chiều yên vắng của không gian:

 

                          "Ta gặp nhau trên đường đời muôn ngã

                            Rồi chia nhau theo mỗi ngã vào đời"

 

Có những bước đi lang thang nào không là muôn trùng trong cõi tử sinh, mà cuộc đời của mỗi chúng ta chỉ là một lữ khách ngược xuôi không chốn nơi ẩn trú an bình, lao xao giữa bao miền cát bụi gió suơng. Ở đâu, khi chúng ta có mặt và hiện hành thì nơi đó đều bắt đầu từ những cảm thọ, khổ hay lạc thọ, những cảm thọ ấy lại tiếp diễn triền miên trải dài theo cuộc sống mà hạnh phúc và đau khổ, buồn hay vui, thất bại hay thành công, danh thơm hay tiếng xấu...Nó chỉ là kết quả của tâm niệm và hành động tự nơi ta, để rồi từ đó thênh thang những buớc chân kỳ cùng với thời gian vô định. Phật dạy :

 

                              " Ái dục sanh thành người

                                Phàm tâm luôn dong ruỗi"

 

                                                                   Kinh Tương Ưng I, VII, 86.

 

Do hành động tạo tác bởi những nghiệp nhân, nên chúng ta có mặt để gặt lấy những quả nghiệp thiện hay bất thiện và cuộc gặp gỡ của chúng ta trên những tuyến đời xuôi ngược, lại cũng tùy thuộc vào những tác ý như thế nào đó để trở thành thân thiện hay thù hận, hạnh phúc hay đau khổ, siêu hóa tâm hồn hay luân trầm đọa lạc triền miên vào cõi tử sinh.

 

 Nhân duyên sinh diệt siêu đọa qua từng ý niệm vẫn phức tạp muôn trùng trong cuộc sống. Nhưng có điều, chúng ta phải thể hiện , nói lên sự có  mặt đích thực của chúng ta ở đây và bây giờ, nếu như mỗi ngày có sự lắng nghe và tìm lại chính mình trong giây phút ngắn ngủi thôi, chừng ấy cho mỗi ngày cũng đủ làm dịu đi cơn nắng bỏng rát mặt của dòng đời nghiệt ngã, bởi những ngọn thanh phong thổi từ luồng sinh khí cảm thức của nguồn tâm giác ngộ, thì cuộc ruỗi dong kia phải tự vắng mặt đó đây, mặc tình cho mây trắng qua non, sóng xao ngoài biển biếc.

 

 Nhưng ở đây, trong cái thế giới sinh sinh diệt diệt đổi thay không lường, hợp tan bất định, còn mất trao tay, thì sự có mặt của chúng ta phải như thế nào ? Để rồi mai kia mốt nọ giữa muôn vạn nẻo đời ngược xuôi dòng nhân thế, chúng ta đến với nhau, gặp gỡ và vui buồn với nhau, chấp nhận và đánh đổi nhau.v.v... Tất cả cùng đi trên chuyến xe thời gian, mà sự nặng nề cồng kềnh kia cũng chỉ là những quả nghiệp phàm tâm, bởi những ngộ nhận TA và CỦA TA.

 

Nếu như ngày nào chúng ta chưa thực hiện được lời Phật dạy, chưa thực sự "đặt gánh nặng xuống", chưa nhận ra sự nguy hại của thọ dụng năm món dục (tài sắc danh thực thùy), những pháp luôn dẫn đầu về đọa lạc, không giúp ta hướng về đời sống viễn ly, cầu vui giải thoát, thì ngày ấy chúng ta vẫn còn say khướt theo cuộc ruỗi dong, thênh thang qua vạn huớng đời cùng với hạt bụi thời gian, cùng với ngàn mây vô định, như con thuyền không bến đổ.

 

Có biết đâu rằng: Rồi chốc nữa, rồi mai sau, mọi sự mọi việc sẽ còn lại cho ta những gì ? Và chính ngay chiếc thân năm uẩn nầy mà ta đang vay mượn đây rồi sẽ ra sao ! Ngày mai cái chết sẽ chờ ta, thì ngay bây giờ ta phải làm gì khi đang đi trên chuyến xe thời gian nầy ? Nếu ta có tu tập và an trú vào Chánh Pháp, dùng từ tâm nhìn nhau với đôi mắt đầy ái kính, trải rộng niềm yêu thương đến những mảnh đời nghiệt ngã, san bằng mọi dị biệt, biết xóa đi những ý niệm giai cấp giả tạm của đời thường. Để từ đó có thêm những hương hoa tâm tư thuần thiện nhiệm mầu, sẽ lan tỏa về mọi hướng đời vô tận niềm vui trong mỗi tâm hồn.

Chúng ta cùng nghe lời của Bồ tát Tịch Thiên :

Khi một ý xấu vừa manh nha,biết ngay tai họa của nó, ta liền giữ chánh niệm như cây bám chặt vào đất”.

 

Cuộc hội ngộ nào không chia tay, buổi tiệc nào không tàn cuộc, khởi điểm từ những bước đi và để đến sao cho được vẹn vẻ bình an, không ai không một lần ngang qua cuộc trải nghiệm tâm linh. Cuộc ra đi của cõi tử sinh nào không hút bóng nẻo trời xa, dấu chân nào không hằn lên hồn sương bụi, dấu son vẫn ấn sâu vào ký ức thời gian và chính nó là một dấu tích hiển thị tâm hồn trong sáng lành mạnh hơn bao giờ hết.

 

Hình ảnh một chuyến xe đò hôm qua, cho ta một hình ảnh của kiếp người loay hoay trong cuộc tồn sinh giữa dòng tan hợp, sống không ước hẹn gặp nhau, thế nhưng trong cuộc lữ lại chia nhau trên đường đời có muôn vạn lối đi. Để rồi khi chuyến xe thời gian nằm yên nơi bến đổ mà dòng nghiệp thức con người lại tiếp tục ruỗi dong. Chi bằng sự có mặt của chúng ta ngay bây giờ góp vào một chút ý thức giác ngộ của bản chất sự vật hiện tượng như góp vào tinh cầu thêm một chút màu xanh.

 

                                                                            MẶC PHUƠNG TỬ.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 557)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1921)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1268)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1626)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1215)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1791)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3370)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4600)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4182)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S