07. Hoàng tử Nan-đà

24/10/201202:50(Xem: 11055)
07. Hoàng tử Nan-đà

THANH GƯƠM BA-LA-MẬT
Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Hoàng tử Nan-đà






Nghe tin Đức Phật trở về Ca-tỳ-la-vệ, trái tim của hoàng tử Nan-đà đập lên rộn rã. Đã lâu lắm rồi, người anh tôn quý của chàng, bỏ vương vị ra đi, lang thang lê gót khổ hạnh; nghe đâu bây giờ đã tìm ra con đường vô thượng.

Hoàng tử Nan-đà không bao giờ có thể quên được người anh trai cao cả, uy nghiêm đó. Chàng đã học được nơi con người ấy từ cách đi, dáng đứng, nụ cười. Nhất là sự hiểu biết thâm sâu bao giờ cũng dường như toả ra nơi vầng trán thẳng và mịn. Rồi thể hiện tròn đầy nơi tình thương vô bờ bến lẫn cả đức độ bao la nữa.

Đức Phật đã trở về, và vài ba hôm sau sẽ có lễ thành hôn của chàng cùng công nương Kiều-dạ-lý (Kalyàni)! Ôi ! Thế là niềm vui ở nơi chàng trong sáng và phất phới như mảnh lụa trắng, như nụ cười của thiên thần, như cánh đào mùa xuân phô màu hồng thắm.

Mảnh vương bào chợt tung bay trong ánh nắng ban mai tinh anh hồng ngọc, hoàng tử Nan-đà hối hả thúc con thần mã để báo tin mừng đến vị hôn thê.

- Hỡi con hoàng anh kiều diễm của ta! Chàng đắm đuối nhìn Kiều-dạ-lý rồi nói – Người anh cao cả của chúng ta đã về đến lâu đài của vương phụ. Hãy cùng ta đến thăm người.

- Này chàng! Kiều-dạ-lý nắm tay hoàng tử Nan-đà say sưa nói – Này hỡi con voi chúa với đôi ngà vàng kiêu hùng và mỹ lệ của em! Không nên đến thăm vị sa môn tầm thường ấy. Chẳng có gì tốt đẹp và vinh hạnh cho đôi ta đâu.

Nói xong, Kiều-dạ-lý chớp chớp đôi mắt xanh màu hồ thuỷ, gợn tia lửa nồng nàn như nắng ấm của cung trời. Hoàng tử Nan-đà chợt thấy lòng mình mềm yếu và ẻo lả như tơ. Chàng chết đuối giữa biển tình của thiên nữ Dạ-ma mất rồi.

Ngày cử hành hôn lễ đã đến. Trong lúc mọi người rộn rịp mang lễ vật đến chúc mừng cho đôi tân giai nhân, thì Đức Phật hiện ra rực rỡ và đẹp đẽ như chúa phượng hoàng, chói ngời hào quang ngũ sắc.

Cả dòng họ Thích Ca vốn kiêu căng, ngã mạn nhưng bây giờ cũng tự động quỳ cả xuống.

Uy nghi như chúa sơn lâm, Đức Phật cất tiếng nói:

- Như Lai cũng đến dự lễ. Như Lai cầu nguyện hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Hoàng tử Nan-đà sững sờ nhìn anh. Nhìn không chớp mắt, tự nghĩ:

- Đây là vị Phật? Ôi cao cả xiết bao! Ở trước ngài, vua núi là đỉnh Hy Mã Lạp Sơn kia cũng phải cúi đầu xuống thấp.

Sau khi thọ thực xong, Đức Phật trao bát cho hoàng tử Nan-đà, nói lời phúc chúc rồi đứng dậy ra về.

Hoàng tử Nan-đà kính cẩn ôm bát lặng lẽ đi theo sau, tự nghĩ:

- Đến cửa, Đức Cao Cả sẽ thâu bát lại.

Nhưng không, Đức Thế Tôn vẫn đi thẳng. Vì kính trọng anh, hoàng tử Nan-đà không dám thưa. Cho đến khi rời khỏi cung điện khá xa, Đức Thế Tôn vẫn không hề quay lại. Hoàng tử Nan-đà tự nghĩ:

- Rồi đây, khi nhớ lại, ngài sẽ thâu bát. Ta hãy đưa ngài đến chỗ tạm cư trong vườn Ngự Uyển.

Khi hoàng tử Nan-đà vừa rời khỏi cửa, nàng Kiều-dạ-lý sợ hãi trông theo, linh tính như báo trước cho nàng hay một điềm chẳng lành nào đó về chuyện hạnh phúc lứa đôi. Với hàng lệ ngọc lóng lánh tuôn rơi, với xiêm y tóc tai rối bời, Kiều-dạ-lý phủ phục bên đường, cất tiếng gọi não nùng:

- Hỡi hoàng tử ngọc ngà châu báu của em! Hãy trở lại!

Hoàng tử Nan-đà nghe từng âm thanh quấn quýt, thiết tha, vương vấn đọng lại giữa không gian. Tâm chàng dường như bị bao phủ trọn vẹn trong chiếc lưới của vị thần tình ái; những mũi tên xé gió buốt đau đến tận tâm can.

- Hỡi con voi chúa có đôi ngà vàng của em! Đã đến giờ xây dựng ngôi rừng diễm lệ của đôi ta!

Hoàng tử Nan-đà một chân bước tới, một chân bước lui. Nhưng vị Đại Sa-môn kia, Đức Thế Tôn, người anh cao cả, bậc trưởng thượng đáng kính ấy vẫn như chúa sơn lâm, từng bước, từng bước uy nghi, an nhiên tự tại. Hoàng tử Nan-đà bịt chặt tai lại, cắn răng, hối hả bước theo. Tự nghĩ:

- Cũng không muộn gì. Hãy đưa Đấng Tự Tại đến nơi đến chốn, dâng bát cho ngài, trở về còn kịp giờ cử hành hôn lễ.

Và cứ thế, hoàng tử Nan-đà lủi thủi theo chân Đức Phật đến ngự viên.

Sau khi Đức Thế Tôn rửa chân, ngồi kiết già trên toà sư tử, quay lại nói với hoàng tử Nan-đà – khi ấy vẫn đang lặng lẽ ôm bát đứng hầu một bên.

- Này Nan-đà! Ngươi có muốn sống đời xuất gia với Như Lai không?

Hình ảnh Kiều-dạ-lý kiều diễm lại đến với chàng. Ôi! Vóc ngọc, dáng ngà! Ôi! Đôi mắt biếc, vòng tay mềm và nụ cười như chén rượu say của thần hoan lạc. Nàng đấy! Nàng hiện rõ trong chàng, lả lơi, mời mọc đến ngất lịm cả tâm hồn. Hoàng tử Nan-đà chợt thấy mình thở hổn hển, trán toát mồ hôi, mệt lả.

Khi trái tim đã hết hồi hộp, hoàng tử Nan-đà trấn tĩnh lại, trước mặt, Đức Phật vẫn an nhiên, trầm lặng, trên môi ngài dường như mãi nở nụ cười bất diệt. Như con beo con đứng trước chúa sơn lâm, hoàng tử Nan-đà chợt quỳ sụp xuống:

- Con... con... ưng thuận đời sống xuất gia!Tỷ-kheo Nan-đà không tìm thấy chút lạc thú nào trong đời sống khước từ. Tinh thần chàng mỗi lúc mỗi mỏi mòn, suy nhược. Hình bóng vị tân nương kiều diễm đã chiếm trọn tâm hồn chàng. Suốt ngày, suốt đêm, vị tân tỷ-kheo kia sống trong cơn mộng trùng trùng của mơ tưởng; bỏ cả ngủ, quên cả ăn, bần thần dã dượi.

Hôm kia dường như không còn chịu đựng nổi nữa, Nan-đà tâm sự với đạo bạn:

- Này chư pháp hữu! Ích gì đời sống xuất gia phạm hạnh này? Tôi bất mãn với nó. Tôi sẽ từ chối phẩm hạnh thanh cao để cam chịu đời sống thấp hèn, làm người cư sĩ.

Đức Phật cho gọi Nan-đà đến hỏi sự thật. Nan-đà thừa nhận sự suy nhược thái quá của mình và tỏ ra lo ngại đến đời sống cô quạnh của Kiều-dạ-lý công nương.

Biết tâm của vị thánh tương lai đang bị lửa ái dục đốt cháy mê loạn, Đức Phật bèn nói:

- Nan-đà! Hãy cùng với Như Lai đi chơi một chút cho khuây khỏa. Ta sẽ đến thăm một cõi trời.

Đức Phật liền dùng oai lực thần thông đưa tỷ-kheo Nan-đà đến cung trời Đẩu Xuất (Tusita).

Trên đường, khi đi qua một khu rừng, Nan-đà để ý thấy một con khỉ cái đã bị mất tai, mũi và đuôi, đang cố bám lấy thân cây cháy trơ trụi giữa đám đất vừa bị thiêu rụi.

Đến cung điện huy hoàng rực rỡ của đệ tứ Thiên Đường, nhạc trời trỗi lên lồng lộng giữa hư không, những cánh hoa mạn đà trải đầy trên lối đi bạch ngọc, óng ánh trân châu và mã não. Một muôn chư thiên lấp lánh ánh sáng, phục sức diễm lệ, kiêu kỳ, phơi phới hiện ra chào đón đấng Thiên Nhơn Sư. Và kìa! Mười muôn thiên nữ sắc đẹp lộng lẫy làm lu mờ nhật nguyệt, đang e thẹn núp sau những đám mây hồng...

Khi đến tòa lâu đài với năm trăm bảo tháp kim cương, hội tụ giữa hư không lóng lánh muôn màu, Nan-đà thấy một chiếc ngai rực rỡ bảy báu, không có chư thiên ngự, năm trăm thiên nữ thân ngọc yêu kiều đứng hầu một bên, bèn rụt rè hỏi:

- Chiếc ngai vô vàn trân trọng kia sao chưa có vị chư thiên diễm phúc nào an ngự, mà lại để trống không như vậy?

Một thiên nữ tủm tỉm cười đáp:

- Chúng thiếp chờ đợi cung nghinh một vị tỷ-kheo đang tu hành trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Nan-đà thót mình hỏi:

- Vị nào vậy?

- Vị nào tinh tấn tu hành – Thiên nữ cất giọng lảnh lót đáp – nghe nói là tỷ-kheo Nan-đà!

Rời khỏi tòa lâu đài, quả tim Nan-đà như còn nhảy loạn trong lồng ngực.

Trên đường trở về hạ giới, Đức Thế Tôn hỏi:

- Này Nan-đà! Những thiên nữ tại Thiên đàng thứ tư, nhất là thiên nữ nơi năm trăm ngôi bảo tháp; so với công nương trân quý Kiều-dạ-lý, ai đẹp, mỹ miều hơn?

Nan-đà đỏ mặt ra đến mang tai, cúi đầu đáp:

- Bạch Đức Thế Tôn! So với các vì thiên nữ, dẫu là thiên nữ mạt hạng, thì Kiều-dạ-lý công nương tựa như con khỉ cái bị cháy, đang cố bám lấy thân cây nơi khu rừng nọ!

Đức Thế Tôn nở nụ cười trong tâm nói:

- Vậy này Nan-đà! Hãy tinh tấn, hãy cố gắng! Như Lai bảo đảm rằng nếu Nan-đà kiên trì thực hành giáo lý, thì một ngày kia, Nan-đà cũng đạt được những công nương mỹ lệ như vậy.

Nan-đà như một đứa trẻ được khuyến khích, hớn hở đáp:

- Nếu vậy, đệ tử sẽ lấy làm thỏa thích mà sống đời phạm hạnh cao thượng!

Từ đó, khi ở tịnh đường, khi thì nơi gốc cây, khi thì tại khu rừng vắng, Nan-đà thiền định rất mực tinh tấn. Các vị tỷ-kheo khác biết chuyện, bàn tán với nhau rằng:

- Tỷ-kheo Nan-đà “người làm thuê”. Tỷ-kheo Nan-đà với mục đích phạm hạnh là đạt cho được năm trăm vì thiên nữ và chiếc ngai vàng thất bảo!

Chuyện đến tai, Nan-đà nhận thấy có một cái gì thấp kém, hạ liệt trong mục đích của mình, nên cảm thấy xấu hổ vô cùng.

Đức Thế Tôn biết tâm của vị tân tỷ-kheo, bèn cho gọi đến, rồi nói:

- Này Nan-đà! Hôm nay, hãy cùng với Như Lai đi chơi một miền xa, đến một cảnh giới đau khổ!

Đức Phật dùng oai lực thần thông đưa Nan-đà vào tầng địa ngục. Dịp này vị tân tỷ-kheo được cơ hội chứng kiến tận mắt những hình ảnh hãi hùng. Đây là một cột trụ đồng đỏ lửa hừng hực, các tội nhân trần truồng phải ôm siết để leo lên, bên dưới những con quỷ mặt trâu đầu ngựa cầm những chiếc đinh ba nhọn hoắt đâm suốt qua lưng, da thịt cháy xèo xèo. Nọ là những chiếc cưa, cưa tội nhân ra làm mấy đoạn, gan ruột đổ lòng thòng. Và thôi, nào là bàn chông lửa cháy ngùn ngụt, tội nhân máu me, giãy đành đạch, la hét kêu gào; nào là những cái cối đồng to lớn, đưa lên đưa xuống nhịp nhàng những chiếc chày to, bên trong là những tội nhân xương thịt bầy nhầy... Nan-đà đi đến một lò nấu người. Những chiếc vạc to lửa cháy ngụt trời, bên trong dầu sôi sùng sục. Những con quỷ mặt xanh, mũi đỏ, thò tay quăng tội nhân vào từng chảo một. Nơi chảo khác, dầu cũng đã sôi như sóng cuộn, lại không có tội nhân. Tỷ-kheo Nan-đà hỏi lý do, quỷ đáp:

- Để dành cho một vị tỷ-kheo đang thối thất trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Nan-đà thót mình lên, hỏi:

- Ai vậy?

- Cho vị nào đắm say sắc dục, tưởng tư ái lạc – Quỷ đáp – Nghe nói là tỷ-kheo Nan-đà.

Từng chân tơ kẻ tóc đều dựng đứng cả lên, da thịt nổi gai ốc, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Nan-đà quày quả theo Đức Thế Tôn trở lại trần gian mà cả tâm thần còn bủn rủn.

Nan-đà phủ phục bên chân đấng Giác ngộ:

- Bạch Đức Thế Tôn! Xin ngài hãy hủy bỏ lời đảm bảo với đệ tử về chuyện các vị thiên nữ diễm kiều.

Biết tâm vị tân tỷ-kheo này đã đầy đủ hai pháp tàm và quý (hổ thẹn và ghê sợ). Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này Nan-đà! Cho đến chừng nào ngươi không còn bám víu vào những sự vật thế gian! Chừng nào ngươi đã vĩnh viễn viễn ly dục lạc, nội tâm hoàn toàn thanh tịnh như viên ngọc trong suốt không tỳ vết ô nhiễm... thì lúc ấy Như Lai hủy bỏ lời hứa cũng không muộn gì!

Nói thế xong Đức Phật đọc lên bài kệ:

"Đau khổ và khoái lạc

Bùn nhơ đáy mặt hồ

Hương hoa sen tỏa ngát

Cho người diệt si mê

Khoái lạc và đau khổ

Xúc động tâm phàm phu

Người vĩnh ly nhiễm ái

Hoa sen thắm mặt hồ!"

Từ đó tỷ-kheo Nan-đà gạt bỏ mọi tư tưởng xấu xa, kiên trì tu tập, không bao lâu đắc quả A-la-hán.

Sau khi thọ hưởng hạnh phúc giải thoát, ngài tri ân sâu xa đến phương pháp giáo huấn thù thắng của Đức Thế Tôn, cảm thán thốt lên bài kệ:

"Giữa ao tù vô tận,

Tâm tôi được vớt lên

Đức Thế Tôn vô thượng

Giúp tôi thoát não phiền."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 851)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1010)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2292)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1523)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1972)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1399)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1944)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3946)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5134)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4793)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S