[161 - 170]

13/02/201217:42(Xem: 11295)
[161 - 170]

DẠO BƯỚC VƯỜN THIỀN

(333 Câu Chuyện Thiền)

Đỗ Đình Đồng góp nhặt

 

161. TÔI KHÔNG MUỐN NỮA, CẢM ƠN

Tatsu-jo là vợ của một trong những đạo hữu của Thiền sư Nhất Hưu, một hôm đến chùa phàn nàn về sự bất chính đáng nghi ngờ của chồng.

Nhất Hưu mỉm cười nói: “Đừng lo.” Họ uống rượu nho với nhau, và Nhất Hưu bắt đầu nắm tay bà. Tatsu-jo ngạc nhiên và nói bà phải đi. Nhất Hưu bảo bà ở lại đêm, bà tức giận ra về. Vừa khóc bà vừa kể cho chồng nghe những gì đã xảy ra, nhưng chồng bà chỉ cười, nói: “Ồ, Nhất Hưu thực là một ông Phật sống, bà có ngủ với ông ấy cũng chẳng có gì sai cả. Cứ đi đi!” Tatsu-jo miễn cưỡng mặc quần áo đẹp, trang điểm lộng lẫy và trở lại chùa.

Khi gõ cửa phòng, bà ta nói giọng nhỏ nhẹ, “Lúc chiều em chẳng nên từ chối thầy. Chồng em đã cho phép em đến đây. Bây giờ em đây nè!” Nhất Hưu tặc lưỡi, không mở cửa, nói: “Tôi không muốn nữa, cảm ơn. Lúc ấy tôi cảm thấy như vậy, bây giờ thì không. Xin hãy về nhà đi.” Tatsu-jo phẫn nộ vô cùng, nhưng chẳng làm gì được, vì vậy bà trở về nhà kể cho chồng nghe kết cuộc câu chuyện. Ông chồng vỗ tay nói: “Khi ông động, ông động, không ai làm ông động được.”

(Phật Giáo và Tính Dục)

162. NẾU ANH THẬT YÊU TÔI, HÃY ÔM TÔI ĐI

Ở Nhật không có nhiều nữ Thiền sư, nhưng Eshun là một trong những người sắc bén nhất, kể cả nam lẫn nữ. Vì bà đã nổi danh cả nước là cô gái có sắc đẹp vô song, anh trai của bà, hoà thượng Ryoan, đã chùn bước khi bà yêu cầu được thọ giới làm ni cô. Khi bà yêu cầu, Ryoan gạt đi, nói: “Chỗ của đàn bà là ở trong nhà. Em có thể tu học Phật giáo một cách hoàn hảo như là một nữ cư sĩ. Vả lại, em đẹp quá. Tăng chúng không phải bao giờ cũng có thể tự kìm chế họ được.” Vài ngày sau Eshun trở lại, lần này với đầu cạo trọc và cái mặt lệch lạc vì cô đã dùng than hồng đốt da mặt.

Thấy quyết tâm của cô, Ryoan bớt nghiêm khắc, nhưng ngay cả với cái mặt có sẹo và quần áo lụng thụng che dấu thân hình, Eshun vẫn đẹp không chê được. Một ông tăng trẻ thầm yêu cô, nhét vào ống tay áo cô một lá thư tình. Eshun viết thư trả lời: “Tôi chấp nhận đề nghị của anh, nhưng vì chúng ta đã có lời thệ nguyện không gặp nhau bí mật. Tôi sẽ cho anh biết thời gian và địa điểm.”

Lần kế khi tăng chúng tập hợp để nghe vị sư trụ trì thuyết pháp. Eshun bỗng nhiên xuất hiện trước chánh điện, không mảnh vải che thân. Cô đứng trước mặt ông tăng đa tình, nói: “Nếu anh thật yêu tôi, hãy ôm tôi đi.” Ông tăng xấu hổ, bỏ chạy khỏi chùa; trong khi vị trụ trì và tăng chúng còn lại mặt trơ như tượng gỗ.

(Phật Giáo và Tính Dục)

163. CÁI CỦA BỔN NI SÂU KHÔNG CÓ ĐÁY

Vào một dịp khác, hòa thượng Ryoan quyết định phái Eshun làm đại biểu đi dự một cuộc họp được tổ chức tại ngôi chùa lớn Viên Giác ở Kiêm Thương. Một vài tăng nhân láo cá ở đó nghe được tin này liền bày ra quỷ kế để trắc nghiệm cô ni này. Không bao lâu sau khi cô đến chùa Viên Giác, một ông tăng nhảy ra trước mặt cô, tự phô mình ra nói, “Cái của lão tăng đây dài ba trượng! Còn đó thế nào?” Không một chút do dự, Eshun mở vạt áo trước ra đáp: “Cái của bổn ni đây sâu không có đáy,” và lướt qua cạnh ông tăng.

(Phật Giáo và Tính Dục)


164. CÔNG ÁN CỦA SHOSAN

Ở một ngôi chùa nọ có một nữ cư sĩ rất sắc bén tên là Mujaku. Vị Thiền sư ở đó gửi tất cả những tăng nhân đã tu lâu đến nữ cư sĩ này để dùng lửa thử vàng. Man-an, một trưởng lão có chỗ khác người, đến để đọ sức Thiền. Mujaku gọi Man-an vào phòng của bà. Khi Man-an bước vào liền thấy bà đang nằm trần truồng ngay đó. Man-an chỉ ngay chỗ kín của bà, hỏi:

- Cái gì đó? Có phải là cửa chính đưa vào trần gian không?”

Majaku đáp:

- Tất chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai; tất cả sáu Tổ sư Thiền, tất cả chư đại đức thượng tọa đều do chỗ ấy mà đến.

Man-an hỏi:

- Như lão tăng đây có thể trở lại chỗ đó được chăng?

Mujaku đáp:

- Bọn lừa đực, ở đây chẳng có chỗ trở lại.

Mujaku vừa nói vừa quay phắt lại phía Man-an, dang hai chân phô ra chớp nhoáng. Man-an mặt đỏ bừng, lúng túng, vội vã rút lui.

Công án của Shosan: Ông làm thế nào để đáp câu hỏi, “Như lão tăng đây có thể trở lại chỗ đó được chăng?”

(Phật Giáo và Tinh Dục)

165. GỐC CỦA SANH TỬ

Thiết Chu là một cư sĩ ngộ đạo thời Minh Trị, sau trở thành Thiền sư nổi tiếng. Chữ viết kiểu nghệ thuật xuất sắc của ông được trưng bày trong các kỹ viện và các khu hành lạc. Có lần ông tiết lộ: ”Ngay cả sau khi ngộ, vấn đề tính dục căn bản vẫn cứ tồn tại. Mãi cho đến lúc năm bốn mươi chín tuổi (Thiết Chu mất lúc năm mươi hai tuổi) tôi mới vượt qua được đam mê tính dục.”

Một người bạn gợi ý Thiết Chu rằng cư sĩ già rồi. Thiết Chu bảo: “Không phải. Đam mê tình dục mà ông muốn nói là sự ham muốn thể xác. Tôi đã vượt qua cái ấy lúc ba mươi mấy tuổi. Nếu một người không thể thâm nhập bản tánh của đam mê tình dục -- gốc rễ của sinh tử và sức sống căn bản -- đến tận cội nguồn của nó, cái ngộ của người ấy không có giá trị.”

Tính dục là công án tối thượng.

(Phật Giáo và Tính Dục)

166. LÀM SAO DỨT BỎ ĐAM MÊ TÍNH DỤC

Một trong những đệ tử có gia đình của Thiền sư Thiết Chu có lần nói với sư:

- Muốn thực sự tu Thiền, cần phải dứt bỏ đam mê tính dục.

Sư cười lớn, nói:

- Cảnh giới anh đang nhắm đến thực là cao vời. Đam mê tính dục là cội rễ của toàn thể cuộc tồn sinh. Làm cách nào anh có thể dứt bỏ nó được?

- Bằng cách lìa xa vợ tôi và tránh xa tất cả mọi người đàn bà khác; lúc ấy mọi cám dỗ tính dục sẽ không nổi dậy.

- Vậy có hơi ích kỷ không? Vợ anh sẽ ra sao, một người bạn đường trung thành đã hai mươi năm? Đó hoàn toàn không phải là cách dứt bỏ đam mê tính dục -- đó chỉ là lẩn tránh nó thôi.

- Vậy làm sao tôi có thể nhổ hết gốc rễ của đam mê tính dục?

- Hãy lao mình vào thế giới đam mê tính dục, làm cạn hết mọi khả năng của nó, rồi anh sẽ thấy được giải thoát. Hãy yêu vợ anh và tìm giác ngộ ngay giữa dòng đời - đó là ý nghĩa của Thiền.

(Phật Giáo và Tính Dục)

167. NGƯỜI TU KHÔNG NÊN GẦN ĐÀN BÀ

Trái ngược với quan điểm của Thiền sư Thiết Chu, Munan--một Thiền sư Nhật khác--viết: “Không một tăng nhân hay tu sĩ nào nên gần đàn bà. Dù cho không phạm giới luật thì ông ta cũng không thể ngăn được tâm mình không bị ảnh hưởng vì sự hiện của người đàn bà. Vì vậy, gần gũi với một người đàn bà là khởi đầu tạo nghiệp hướng về cảnh giới súc sinh. Tôi lấy sự tránh xa đàn bà làm pháp môn tu tập của tôi bởi vì tôi ý thức được dư tập thú tính trong tôi.”

(Phật Giáo và Tính Dục)

168. THẬT LÀ MỘT THỬ THÁCH GIAN NAN

Thiền sư Mặc Lôi là trụ trì chùa Kiến Nhân ở Kyoto trong một thời gian dài. Sư so sánh tu Thiền với việc chui vào một trái bầu. Chỗ hở thì cực kỳ chật hẹp, nên hành giả phải tự kiểm soát mình thật chặt để chui qua. Vì vậy, sư ca ngợi Nantembo như là tấm gương sáng. Khi Nantembo ngồi thiền, hình ảnh của những người đàn bà đẹp hiện lên trong tâm làm ông hưng phấn. Nantembo nguyền rủa sự hưng phấn, dùng sức mạnh tuyệt đối của ý chí đè bẹp những ảo ảnh cám dỗ đó. Chính Natembo đã kể lại câu chuyện sau đây: “Có lần tôi đang du hành trên một con thuyền, ở một hải cảng nọ những hành khách cùng đi với tôi gọi một nhóm kỹ nữ đến để mua vui. Họ cũng gọi cho tôi một cô, nhưng tôi chỉ trả tiền và bảo cô ta đi đi. Các khoan thuyền chật như nêm. Tôi không có sự chọn lựa nào cả mà chỉ có thể đặt mình xuống giữa sự cuồng lạc để ngồi thiền. Thật là một thử thách gian nan.”

(Phật Giáo và Tính Dục)

169. ĐI CHƠI ĐÊM

Tangen là đệ tử giỏi nhất của Thiền sư Tiên Nhai, nhưng có một tật xấu. Hầu như đêm nào Tangen cũng leo tường chùa ra ngoài đến các khu hành lạc. Mặc dù Thiền sư Tiên Nhai rất hiểu bản chất con người, (có lần trong lúc trời đang mưa tầm tã, sư đã sai một chú tiểu đem dù đến kỹ viện cho Tangen) sư cảm thấy rằng sự quá độ như thế sẽ làm bại hoại người đệ tử của mình. Một đêm sư dời hòn đá làm chỗ kê chân để leo tường của Tangen và ngồi ngay vào chỗ đó tọa thiền. Ngay trước khi trời rạng đông, Tangen leo qua tường, trượt chân trên một cái gì âm ấm, chạy vào chùa lấy làm lạ, tự hỏi: “Mình đã dẫm lên cái gì ngoài đó?” Đến sáng, khi không thấy Thiền sư Tiên Nhai xuất hiện trong giờ họp, Tangen hỏi lý do. Có người trả lời rằng, “Hòa thượng bị đau đầu dữ lắm.” Nhận thức được việc gì đã xảy ra, Tangen thề quyết tâm tu sửa phong cách của mình.

(Phật Giáo và Tính Dục)

170. Ở HOÀN CẢNH NÀO CŨNG NGỘ ĐƯỢC

Ohashi, nữ đệ tử của Thiền sư Bạch Ẩn, đã có thể đạt ngộ ngay trong thời gian làm kỹ nữ. Là một thiếu nữ đáng yêu và có tài, Ohashi đã ký giao kèo làm kỹ nữ để trợ giúp gia đình khi người cha samurai của cô thất nghiệp vì ông chủ lãnh chúa qua đời. Tuyệt vọng vì số mệnh, Ohashi được một ông tăng khách làng chơi hiền triết tặng lời khuyên như vầy: “Có thể đạt ngộ và an tâm trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngay cả ở đây trong chốn hoa tường liễu ngõ này. Hãy tìm Phật ở mọi nơi và cô có thể đạt được giải thoát.” Từ đó về sau, Ohashi cần mẫn ngồi thiền và quán xét chính cuộc sống như là công án tối hậu và cô đã đạt ngộ như vầy:

Để trừ bỏ tánh sợ sấm của mình, một hôm Ohashi quyết tâm ngồi ở phía trước hiên nhà trong lúc có cơn bão mãnh liệt. Một lằn sét xẹt qua ngay trước mặt, đánh cô bất tỉnh. Khi tỉnh lại, cô cảm thấy tựa hồ vũ trụ như là của mình. Thiền sư Bạch Ẩn xác nhận cô đã ngộ, điều ấy chứng tỏ rằng ngay cả một cô gái giang hồ cũng có thể thành Phật được. Cuối cùng Ohashi được một khách làng chơi quen thuộc giàu có chuộc ra và cô đã kết hôn với ông ta. Sau đó, được chồng cho phép, cô trở thành một ni cô.

(Phật Giáo và Tính Dục)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 674)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 858)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2044)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1334)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1699)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1242)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1844)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3441)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4666)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4445)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S