Xuân Viên

25/12/201011:39(Xem: 5423)
Xuân Viên



Co_Xuan_Vien

Chúng ta,
 những người bỏ xứ ra đi, đã quay lưng với cổng trường ngày cũ, nhưng lòng vẫn còn tưởng nhớ đến những hình ảnh thân yêu của bạn bè ngày nào! Vẫn mong ước ngày trở lại để tìm kiếm ký ức thầm kín ngày xưa, để được nhìn gặp những người ở lại của thuở ấy, nhưng những người ở lại có còn gì nữa đâu? Đói khổ đã làm mòn mỏi thêm cuộc sống, tất cả chỉ còn biết đem hơi sức bám vào nhịp thở, sống cho qua chuỗi ngày còn lại.
Tôi quen chị Xuân Viên khi được đổi về trường Sương Nguyệt Anh (SNA). Hình ảnh một con người tuy nhỏ bé nhưng lúc nào cũng đầy nghị lực đã đập vào mắt tôi và dần dần từ chỗ quen biết, chúng tôi đã thương mến nhau từ lúc nào cũng không hay nữa!



Nói đến chị, phải nói đến một con người mẫu mực, một cô giáo hoàn toàn gương mẫu đúng phong cách một nhà giáo đầy đạo đức. Đó là người mà tôi mến phục nhất và lúc nào cũng chiếm trọn trong tôi một niềm thương yêu trìu mến và bất tận.

Giao cho chị phụ trách làm giáo sư hướng dẫn một lớp nào, coi như nhà trường khỏi phải lo lắng gì về lớp đó nữa. Từ sổ sách cho đến tập vở, tất cả đều trình bày mạch lạc, trang trí đẹp vô cùng. Chị đã để hết tâm trí mình vào công tác giáo dục mà không biết mệt mỏi, cuộc đời chị sinh ra như để dâng hiến hết cho học đường.

Một lần chị làm Chủ tịch Hội đồng thi tại trường SNA, một người bạn đã hỏi tôi:

- Con người xinh đẹp vậy mà sao không chịu lấy chồng?

Làm sao tôi trả lời được khi cuộc sống nào cũng có những tâm tư thầm kín riêng của nó. Mà thật thế, con người tuy nhỏ nhắn nhưng khuôn mặt rất xinh, đã từng đi tu nghiệp ở Pháp về, tài năng đầy đủ nhưng chị vẫn sống khép kín một mình, âm thầm một bóng trên lối đi và lối về.

Sau 1975, với bao sầu muộn trước thời cuộc chồng chất, với những khó khăn về kinh tế, tôi thấy chị mệt mỏi nhiều. Chị sống với gia đình một người em cũng là giáo viên, cư ngụ ở một con hẻm đường Trương Minh Giảng, sau lưng trường Đại Học Vạn Hạnh. Với chiếc xe đạp mini hai bánh nhỏ xíu, ngày ngày leo hết con dốc của cầu Trương Minh Giảng cũng đủ mệt bở hơi tai rồi. Vậy mà chị còn dạy thêm ở trung tâm đêm Lê Hồng Phong nữa. Đêm đêm nhìn con người nhỏ bé đó đạp xe lọc cọc cho đến nhà, lòng tôi xót xa quá mà số tiền kiếm được có là bao! Đã thế chị đâu có ở yên được trong căn nhà đó, chủ nhà không muốn cho thuê nữa nên đã tìm đủ mọi cách để đuổi đi. Nhớ một lần tôi đến thăm chị, chưa kịp dựng chiếc xe trước sân, chị đã tất tả chạy ra bảo tôi phải đem luôn chiếc xe vào nhà kẻo chủ ở trên gác sẽ dội nước xuống. Cuộc sống của chị là thế, người ta đối xử tàn tệ như vậy mà phải cắn răng chịu đựng, nếu không thì dọn nhà đi đâu bây giờ?

Dần dà với thời gian, không chịu đựng nổi chị đã ngã gục và phải vào bệnh viện. Chúng tôi rất buồn và lo lắng cho chị vô cùng, nếu chị phải từ giã nhà trường cũng giống như ca sĩ phải ngưng tiếng hát, cuộc đời chị sẽ buồn tẻ biết bao và chị sẽ sống ra sao?

Cũng may chị đã bình phục lần lần nhưng không còn phong độ như xưa nữa, không còn một Xuân Viên đầy duyên dáng và linh động mà là một con người gầy rạc đi, ai thấy cũng phải xót xa ái ngại!

Tôi ra đi, chị buồn nhiều vì đã mất đi một người bạn; riêng tôi cũng không khỏi ân hận là vì hoàn cảnh mà phải lặng lẽ ra đi, không từ giã được chị dù chỉ một lời. Tuy vậy, tôi vẫn không quên chị và tình cảm tôi dành cho chị vẫn không phôi pha với thời gian.

Một hôm, vừa bước chân ra cửa, tôi nhận được thư từ bên nhà. Ra đến bến xe, dù trời đang đổ tuyết, tôi vội vã bóc thư ra đọc. Một niềm xúc động dâng lên ngập tràn làm tôi muốn khóc khi hay tin chị đã xuất gia. Suốt ngày hôm đó tôi cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn không tin là sự thật – dù con đường chị đã chọn rất có ý nghĩa nhưng sao tôi vẫn bàng hoàng! Thì ra chị đã dọn trước cho mình một con đường thanh thản của những ngày xế bóng sắp đến.

Cha mẹ không còn, một người chị đã có gia đình sống đời công nhân viên cũng chẳng khá gì, em trai bị "hy sinh vì nghĩa vụ quân sự" ở chiến trường Kampuchia; người em gái mà chị đang tá túc hoàn cảnh lại càng bi thương hơn nữa. Chồng cô ta bị mù, tiền lương ba đồng ba cọc của một giáo viên tiểu học làm sao nuôi nổi một ông chồng mù và hai đứa con. Anh ấy bị bắt chỉ vì hoạt động quá hăng say cho Gia Đình Phật Tử, Cộng sản không chấp nhận, nghi ngờ tất cả và bắt giam. Sau đó anh đã ra tù với một thân xác tàn tạ, đôi mắt không còn thấy ánh sáng nữa.

Tôi không nghĩ cuộc sống thực tế quá thê thảm đã làm cho chị không còn vui thích nữa, cũng không còn gì phấn khởi để chân chị bước tới, theo cách nói thông thường. Mà với tôi, chị là một Phật tử thuần thành đầy nghị lực và giàu niềm tin vào Tam Bảo. Những lúc rảnh rỗi chị thường say sưa giảng cho tôi nghe những lời Phật dạy. Và giống như chị, tôi tin Phật Pháp nhiệm mầu, lòng từ bi và cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm có thể hóa giải tất cả mọi chướng duyên của cuộc đời. Có những khi chúng tôi ngồi hằng giờ bên nhau, chia xẻ cho nhau những hiểu biết và linh nghiệm của riêng mình về hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát của tình thương mà chúng tôi học được từ những buổi nghe giảng của Chư Tôn Đức.

Chị thường nhắc lại lời Phật dạy, chúng ta ai cũng có khả năng thành Phật, chỉ tại vô minh che lấp Phật tánh mà thôi. Chúng ta đều đã biết thế nhưng vẫn thường dễ dãi với mình để ngày tháng trôi qua trong vô ích. Chỉ lỡ vài nhịp thở mong manh thôi là chúng ta không còn khả năng „Thời thời cần phất thức. Vật sử nhạ trần ai“ như lời khuyên của Ngài Thần Tú nói chi đến gạn sạch vô minh mà nhận ra „Bản lai vô nhất vật. Hà xứ nhạ trần ai! Như Ngài Lục Tổ Huệ Năng (chơn như Phật tánh vốn sáng suốt, không cần phải gọt rửa).

Từ chị, tôi được biết thêm rằng Bồ Tát Quán Thế Âm là một Cổ Phật. Tuy Ngài đã thành Phật từ xa xưa nhưng bây giờ và mãi mãi hiện thân Bồ Tát để lắng nghe tiếng kêu thương của chúng sanh. Nơi nào có tiếng kêu thương, nơi đó có hóa thân của Ngài thị hiện, tình thương Ngài dành cho chúng sanh như người mẹ hiền thương đàn con dại. Chị có một quan niệm rất đặc biệt, hơn một lần, tôi ngơ ngác trước tâm linh và kiến thức của chị khi chị say sưa giảng giải:

„Bồ Tát Quán Thế Âm phát nguyện độ chúng sanh. Lúc nào Ngài cũng là người ban cho, chúng ta là kẻ thọ nhận năng lượng của Ngài như ánh trăng thu vằng vặc chiếu sáng một bầu không gian rộng lớn bao la, chúng ta là mặt nước ao, hồ, sông, biển. Chừng nào mặt nước bình lặng, chừng ấy năng lượng của ánh sáng được phản chiếu cao nhất“.

Chị còn giảng thêm rằng:

„Chúng ta đã từng nhận sự gia hộ của Bồ Tát Quán Thế Âm để sống và tu, nhưng không thế nào mãi thọ nhận. Chúng ta phải là một cánh tay, một con mắt của Ngài để cùng Ngài hóa độ và cứu giúp chúng sanh, trước là đền đáp ân đức cao dày của Ngài, sau là kết thiện duyên với tất cả chúng sanh. Dù chưa phải là Phật, là Bồ Tát nhưng phát nguyện đem thân này, lời nói này và sự suy nghĩ này làm hóa thân của Bồ Tát để cứu giúp chúng sanh“.

Chị là thế đấy! Cuộc đời như dòng sông trôi mãi trôi mãi. Trên dòng sông ấy, có những bãi cát dài thầm lặng nằm dọc hai bên bờ, có những tảng đá khổng lồ dám ngăn dòng nước tạo nên thác ghềnh thơ mộng, có những viên sỏi dễ thương chìm trong đáy nước long lanh màu trời, có những chiếc lá lênh đênh thong thả xuôi dòng nhưng cũng có những chiếc thuyền nhẹ nhàng ngày ngày đưa khách sang sông. Chị và tôi như hai nhân tố hiện hữu trong cuộc đời này nhưng con đường chị đi tràn đầy ý nghĩa hơn tôi nhiều.

Bên chị, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều về quan niệm cuộc sống. Những lúc buồn phiền vì những điều không vừa ý, tôi nhớ đến chị thường hay mượn lời của Helen Keller, một nhà văn Pháp, khuyên tôi nên suy ngẫm thế nào là hạnh phúc:

J’ai pleuré parce que je n’avais pas de souliers jusqu’au jour où j’ai vue quelqu’un, qui n’avait pas de pieds“.

Xin tạm dịch:

Tôi đã khóc vì không có giày để mang, cho đến một ngày tôi nhìn thấy một người không có chân” !

 

Tôi đã nhận được thư chị, sau khi nhờ bạn bè chuyển về biếu chị một ít tiền. Chị đã viết: “Rất cảm động khi ở nơi thâm sơn cùng cốc này mà vẫn còn có người nhớ đến mình. Mình ở đây thân tâm an lạc”. Tuy vậy, khi đọc đến hàng chữ “Mình bây giờ là Thuần Tánh đấy nhé, Xuân Viên là dĩ vãng rồi!” mà bâng khuâng cả tấc lòng!

 

Cô Thuần Tánh ơi!

Cô đã chọn con đường giải thoát để mà đi, bỏ lại đằng sau tất cả ưu tư phiền muộn của cuộc đời. Cô đã thắp sáng cho mình một miềm tin, một ngọn lửa  tin yêu thuần khiết như phiến gỗ nâu chắc để mãi mãi lớp than hồng vẫn còn bùng cháy đủ sưởi ấm Cô trong những ngày khoác áo nâu sồng nương thân nơi cửa Phật.

Từ nơi xa xôi này, xin gởi đến Cô lòng mến phục vô biên và niềm thương yêu trìu mến của một người em, một người bạn đã từng chia xẻ ngọt bùi cùng Cô dưới mái trường SNA thân yêu ngày nào.

 

● Nguyên Hạnh HTD

(Mùa Vía Đức Phật Quán Thế Âm)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 559)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 787)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1928)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1272)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1631)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1215)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1808)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3384)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4195)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S