Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 02: Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa

12/09/201820:04(Xem: 35)
Bài 02: Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa

BÁT NHÃ

TÂM KINH

(Prajnaparamitahridaya Sutra)

Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch Việt

GI ẢI NGH ĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

2). THỨ HAI:

HÁN VIỆT: Xá-lợi tử sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

VIỆT: Này Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng lại như thế.

 

     Đức Phật nói với Tôn giả Xá Lợi Phất (Này Xá Lợi Tử):

 

Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc:

 

     Câu này với ý so sánh giữa Sắc và Không.

Sắc là tất cả vật chất có hình có tướng, Không thì không phải là vật chất, hai cái khác nhau, nhưng ý của Kinh này thì nói Sắc, Không không hai (bất nhị), chẳng có khác biệt.

 

     Như Kinh Hoa Nghiêm nói: "Nhất Thiết Duy Tâm Tạo" (Tất cả đều là tâm thức), Sắc là do tâm tạo, Không cũng là do tâm tạo, hai cái đều không có Tự Tính. Nếu không chấp cái Sắc là thật thì Sắc tức là Không, không chấp cái Không là thật thì Không tức là Sắc; cũng là cái nghĩa không hai (bất nhị) của Tự Tính, hai cái vốn không khác biệt chỉ vì chúng sinh có bệnh chấp thật nên mới phân biệt có Sắc có Không.

 

     Nói cho dễ hiểu, Sắc là phần Thân Tứ Đại gồm Đất, Nước, Gió, Lửa là tướng duyên hợp thay đổi không cố định, không thật nên không khác với Không. Cho nên nói Sắc chẳng khác với cái Không cố định và cái Không cố định chẳng khác với Sắc.

Sắc tức là không, không tức là sắc:

     Ở đây, Đức Phật nói thẳng rằng: Nếu không chấp Sắc là thật, tức Sắc là Không, nếu không chấp Không là thật, tức Không là Sắc. Hoặc nói một cách khác: Chính Sắc biến đổi không cố định, là giả có không thật, tức Sắc là Không; chính Không biến đổi không cố định, là giả không thật, tức Không là Sắc.

 

Thụ tưởng hành thức cũng lại như thế:  

   Sắc Uẩn trong Ngũ Uẩn như vậy thì bốn Uẩn kia cũng như vậy, cho nên Kinh nói “Cũng lại như thế”, nghĩa là: Thụ, Tưởng, Hành, Thức, chẳng khác Không, Không chẳng khác Thụ, Tưởng, Hành, Thức; Thụ, Tưởng, Hành, Thức tức là Không, Không tức là Thụ, Tưởng, Hành, Thức.

Bốn thứ Uẩn này thuộc phần tâm lý hay tâm thức với ý nghĩa như sau:

 

1- Thụ là thọ, là cảm giác, lĩnh thọ, khi mắt tai mũi lưỡi thân ý sinh hoạt tiếp xúc với sắc thanh hương vị xúc pháp, rồi khi cảm thấy ưa thích gọi là thọ lạc, khi cảm thấy chán ghét gọi là thọ khổ; đây là Thụ Uẩn.

2- Tưởng là những nghĩ nh về các hình ảnh dung mạo, lời nói âm nhạc, mùi vị, cảm giác đã thấy nghe ngửi nếm, xúc chạm v.v…, những nghĩ nh về quá khứ hay tương lai đều thuộc về tinh thần gọi là Tưởng Uẩn.

3- Hành là những ý muốn làm (tác ý) sinh khởi bới suy tư, hành như là nguồn gốc bản năng ý chí do những nghiệp xưa khiến tạo ra những hành vi cư xử hành động. Vì vậy Hành có thể nói là đầu mối vận mệnh của mỗi người.

4- Thức là nhn biết phân biệt, như mắt thấy dung mạo là biết đẹp xấu, tai nghe tiếng hát là biết hay dở, mũi ngửi mùi là biết thơm hôi v.v. Do đó gọi Thức Uẩn là tri giác nhận diện sự vật.

     Không những Sắc Thụ Tưởng Hành Thức như vậy, mà vũ trụ vạn vật tất cả đều phải như vậy. Thí dụ lấy “ta” mà nói thì "Ta chẳng khác không, không chẳng khác ta, ta tức là không, không tức là ta".

 

     Cái nghĩa trong Kinh này cũng như “Nghĩa Ba Câu” trong Kinh Kim-Cang, suốt phần Tôn Giả Tu Bồ Đề hỏi Phật đều chẳng ngoài ý nghĩa ba câu như:

Hoặc: Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật, tức không phải là trang nghiêm; chỉ tạm gọi là trang nghiêm thôi.

 

Hoặc: Thân người to lớn như núi Tu Di thật là to lớn, nhưng không phải là thân to lớn, đó mới thực là thân to lớn.

Câu thứ nhất: Chấp thật

Câu thứ hai: Phủ định, phá, chống lại câu 1, lọt vào chấp không.

Câu thứ ba: Giả danh, tạm gọi thôi.

Câu thứ ba phá cả ba câu 1, 2, 3, vì cả ba đều là giả danh, nghĩa là bác bỏ chấp thật của câu 1, bác bỏ chấp không của câu 2, bác bỏ chấp điên đảo tưởng của câu 3,

 

     Còn áp dụng vào “Lià Tứ cú”, thí dụ về việc “Khởi niệm” thì:

Hễ: “Khởi niệm” thì lọt vào cú thứ nhất, "Không khởi niệm" lọt vào cú thứ hai, "Chẳng khởi niệm chẳng không khởi niệm" lọt vào cú thứ ba, "Cũng khởi niệm cũng không khởi niệm" lọt vào cú thứ tư, nên phải lìa Tứ cú.

3). THỨ BA:

HÁN VIỆT: Xá-lợi tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

VIỆT: Này Xá Lợi Tử, tướng không của tất cả các pháp, nó không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt.

 

     Đoạn này dùng chữ Không để phá sạch Tri kiến chấp thật của mọi người Phàm phu chúng ta, như hầu hết mọi người đều phân biệt chấp “sạch dơ, đẹp xấu”, chấp “ngắn dài, thêm bớt”, chấp “phải trái, đúng sai”, chấp “sinh diệt, vui buồn” v.v…. Đây là sự đối đãi trong nguyên lý “Không hai” (Bất nhị), chúng được cấu tạo theo hai bên đối lập, các cặp này không có thực thể tồn tại độc lập, không cố định, nên chỉ dựa trên cơ sở của Không.

 

     Như ở trên đã nói "Nhất Thiết Duy Tâm Tạo" (Tất cả đều là tâm thức), cũng gọi là Không Tướng, cái Không Tướng đó chẳng phải chỉ Không những cái có hình tướng, mà cũng Không những cái vô hình tướng. Như thấy có chẳng phải thật có, thấy chân chẳng phải thật chân là Không Tướng, thấy không chẳng phải thật không, thấy giả chẳng phải thật giả, cũng là Không Tướng. Nói tóm lại, không có một pháp nào chẳng phải là Không Tướng, cái Không Tướng nầy chẳng phải đối với có mà nói không, nó không có đối đãi, không lọt vào tứ cú; hai chữ Không Tướng cũng là biệt danh của Tự Tánh vậy.

 

    Không Tướng này là Tướng biến đổi không cố định của Năm Uẩn “Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức”, cũng như Tướng biến đổi, không cố định của tất cả các pháp, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Vì nếu nói “sinh” tức là không biến đổi, cố định sinh, thì chẳng thể “diệt”, nếu nói “diệt” cũng là không biến đổi, cố định diệt, thì chẳng thể “sinh”, tất cả các thứ khác cũng đều như vậy.

4). THỨ TƯ:

HÁN VIỆT: Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.

VIỆT: Vì thế trong tướng không nó không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp; không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới.

     Mụốn phá chấp thật của Phàm phu thì Phật bảo rằng cần phải thấy rõ không có Năm Uẩn (không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức), không có Sáu Căn (không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), không có Sáu Trần (không có sắc, thanh, hương vị, xúc, pháp), không có Sáu Thức (không có nhãn thức giới cho đến ý thức giới). Chữ Không này chẳng phải là cái không của tuyệt diệt không ngơ mà là cái Không của "Không Thật"; bởi vậy ở đây dùng chữ Không để phá sạch ý thức thấy biết (Tri kiến) chấp thật của mọi người. Không Thật hay Không Tướng này là Tướng biến đổi không cố định, không phải là bất cứ một pháp nào cả. Nếu Tướng biến đổi không cố định này là bất kỳ cái nào trong Năm Uẩn, Sáu Căn, Sáu Trần và trong Sáu Thức, tức nó là cố định rồi; vì nó không phải là cái nào cả, nên nó mới không cố định vậy.

5). THỨ NĂM:

(Còn tiếp)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn