Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Nhìn lại cuộc binh biến VNCH Miền Trung 1966 (bài của Đức Hạnh Lễ Bảo Kỳ)

14/11/201907:24(Xem: 214)
Nhìn lại cuộc binh biến VNCH Miền Trung 1966 (bài của Đức Hạnh Lễ Bảo Kỳ)
 
Phap nan 1963-11Phap nan 1963-10 
NHÌN LẠI CUỘC BINH
BIẾN VNCH MIỀN TRUNG 1966
ĐỨC HẠNH- LÊ BẢO KỲ

 

      Cuộc binh  biến  Quân đội VNCH tại Miền Trung năm 1966, cũng chính là
    cuộc vận động Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của Viện Hóa Đạo- GHPGVNTN.


 

HỘI ĐỒNG QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG

   Duyên khởi

Hằng triệu dân Miền Nam nói chung trong các tôn giáo, nói riêng Quân, Cán Chính VNCH, (KiTô Giáo, Tam Giáo), tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, đều thấy biết chốp bu (VIP) của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đều là Tướng, Tá các cấp trong Tam giáo, do Đại Tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch  có lời hiệu triệu kêu gọi toàn quân binh chủng tham gia Cách Mạng nhưng, những Tướng, Tá các cấp Cần Lao KiTô Giáo ngồi im và có hành động chống lại. Tức thì liền bị bắn chết ngay. Như Đại Tá  Quyền (Cần Lao – Bộ Tư Lệnh Hải Quân) bị bắn chết trên xa lộ, do không tham gia, chống lại HĐQNCM. Nói rõ hơn, Tướng, Tá gốc Cần Lao Thiên Chúa không ai lên tiếng xin tham gia, đánh điện ủng hộ. Đến khi nghe ĐT Quyền bị bắn chết, liền gọi điện thoại, đánh công điện về Bộ Chỉ Huy Cách Mạng xin tham gia, nói lời ủng hộ. Nhưng, tất cả đều giả vờ, không thật lòng, là ý tưởng chung của các ông Cần Lao trong Chính phủ và Quân đội, họ đã hội kiến với nhau, với các giới các chức sắc KiTô trong nhà thờ, ngoài xóm đạo, là cứ giả vờ theo, để rồi sau đó đồng loạt vùng lên đảo chánh lật đổ, tái lập chế độ Diệm. Đúng thật, bản thể Cách Mạng chào đời mới được 3 tháng ( 11, 12, 1-1964) quá non trẻ, đã bị một số Tướng, Tá Cần Lao và các giới KiTô Giáo tại Hố Nai, Gia kiệm, Biên Hòa, Sài Gòn thay nhau thực hiện nhiều cuộc đảo chánh, biểu tình thô lỗ, tục tằn liên tiếp từ tháng 1-1964 đến tháng 7-1965, (7 tháng,  5 ngày) được thấy rõ sau đây:

      CẦN LAO VÙNG LÊN

Ngày 30 tháng 1-1964, Tướng Cần Lao Nguyễn khánh làm cuộc chỉnh lý lật đổ chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, bắt hết các Tướng, Tá trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng Dương Văn Minh, đem nhốt tại Đà Lạt, Sài Gòn.

  Ngày 13 tháng 9-1964: Một cuộc đảo chánh do hai tướng Lâm văn Phát, Dương văn Đức và một số đoàn thể KiTô Giáo yểm trợ nhưng không thành.

  Ngày 19 tháng 2-1965: Cũng là Tướng Cần Lao Lâm Văn Phát. Cần Lao Nguyễn Bảo Kiếm và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, Cộng Sản nằm vùng làm cuộc đảo chánh với sự tiếp tay của một số đoàn thể KiTô Giáo nhưng, không thành. Nếu cuộc đảo chánh này thành công, thì Miền Nam VN bị mất vào lực lượng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và CSVN Hà Nội vào mùa hè 1965, không đợi đến 30-4-1975. Ngày 20 tháng 5-1965, một cuộc đảo chánh hụt. Không lâu sua đó, ngày 25 tháng 5-1965, một cuộc biểu tình chống chính phủ Phan Huy Quát, do Lực Lượng Đại Đoàn Kết của KiTô Giáo thực hiện. Ngày 7 tháng 6-1965, một đoàn người Thiên Chúa Giáo tại Sài Gòn ồ ạt vào Dinh Gia Long, gặp Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bày tỏ bất tín nhiệm chính phủ Phan Huy Quát. Đám biểu tình chiếm Dinh Gia Long, la hét náo loạn, ăn uống, vất đồ bừa bãi như chỗ không người. Tất cả các cuộc đảo chánh đều bị Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn phủ nhận, không ủng hộ.

  Nhóm Đại Việt Cần Lao Sài Gòn Làm Cuộc Đảo Chánh

Số sĩ quan trong đảng Đại Việt Thiên Chúa giáo làm đảo chánh, do 2 Tướng Khánh và Dương Văn Đức, chỉ huy vào ngày 13/9/1964. Họ chiếm đài phát thanh Sài Gòn, đọc bản tuyên ngôn ca ngợi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đòi tái lập Đệ Nhất VNCH. Cuộc đảo chánh không thành, do tướng Westmorland và Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn làm áp lực không ủng hộ cuộc đảo chánh.

   Lần nữa, Tướng Cần Lao Lâm Văn Phát và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo (tình báo CSVN chiêu hồi giả theo Đạo Chúa, được Giám Mục Ngô Đình Thục đỡ đầu, rồi giới thiệu với Tổng Thống Diệm) cùng với lực lượng Thiên Chúa Giáo Sài Gòn, Biên Hòa hợp nhau làm cuộc đảo chánh chính phủ Phan Huy Quát vào ngày 19 Tháng 2-1965 (sau 5 tháng). Thêm lần nữa, vào ngày 20 Tháng 5-1965 (sau 3 tháng) tập đoàn Thiên Chúa Giáo Hố Nai - Biên Hòa kéo về Sài Gòn làm đảo chánh chính phủ Phan Huy Quát, xông vào Dinh Gia Long ám sát hụt Phan Huy Quát, vì cho rằng ông Quát là người của Giáo Hội  Phật GíaoVNTN.

   Đến ngày 27/5/1965 (7 ngày sau), lực lượng Đại Đoàn Kết Thiên Chúa Giáo Sài Gòn biểu tình chống chính phủ Phan Huy Quát, vì cho rằng Thủ Tướng Phan Huy Quát theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

  Lần cuối ghê tởm hơn. Lần cuối này do một số chính khách chính trị Thiên Chúa Giáo Sài Gòn và các nơi hợp nhau vào Dinh Gia Long xin yết kiến Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu với lời lẽ thô bạo bất tín nhiệm Thủ Tướng Phan Huy Quát. Sau đó, lực lượng Thiên Chúa Giáo cả trong lẫn ngoài biểu tình la hét, chiếm Dinh Gia Long nhiều giờ... Họ ăn uống, ngồi la liệt, vứt rác bừa bãi khắp nơi như chỗ chợ đời vào ngày 7/6/1965 (sau 1 tháng).

  Trước những hiện tượng biểu tình thô bạo, bạo động xông tới quậy phá, ám sát ông Quát của giới Cần Lao Thiên Chúa Giáo trong và ngoài quân đội, khiến cho Thủ Tướng Phan Huy Quát chán ngán, quyết định rời khỏi chức vụ Thủ Tướng, trao quyền lại cho quân đội vào ngày 12/6/1965 (sau 5 ngày). Nội các quân phiệt ra đời vào ngày 19/6/1965 (sau 7 ngày quân đội giao quyền cho Tướng Nguyễn Chánh Thi - Tướng Thi giao quyền lại cho Tướng Kỳ). Tướng Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Tướng Thiệu làm chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong vai trò Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, ký sắc lệnh cho các thuộc hạ Cần Lao trong và ngoài quân đội tổ chức bầu cử Quốc Hội. Sắc lệnh ký ngày 12/04/1966. Đến ngày 16-8-1966, Giáo Hội Phật Giáo VNTN ra thông cáo tẩy chay cuộc bầu cử  Quốc Hội Lập Hiến vì tất cả Phật tử có điều kiện ra tranh cử đều bị vô hiệu hóa, bị bắt nhập ngũ, hoặc ở tù vì tranh đấu vận động bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ! Còn những người chống bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của Phật giáo, phần nhiều là các tổ chức Thiên Chúa Giáo giờ đây ra tranh cử QHLH được tổ chức vào ngày 11-9-1966. Cùng ngày này, tổ chức Liên Tôn ra thông cáo lên án chính phủ Nguyễn Cao Kỳ tham nhũng, luật bầu cử QHLH phản dân chủ. Ngày 21- tháng Mười, 1966  Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị phân hóa thành hai : Việt Nam Quốc Tự và ẤN QUANG (Như Áng Mây Bay- TÂM ĐỨC-  Từ trang 287-291). Hiến Chương GHPGVNTN (ra đời 4-1-1964) bị Thiệu Kỳ cho đông lạnh. Bên Việt Nam Quốc Tự có Hiến Chương mới. Đến khi Tổng Thống Thiệu được đắt cử nhiệm kỳ II do độc diễn (3-10-1971), Tổng Thống Thiệu cho người đến gặp HT Trí Quang, nhã ý xin trả Hiền Chương. Chuyện này được HT Trí Quang ghi rõ lại trong tập“Tiểu Truyện Tự Ghi” của Ngài.

   Qua những hiện tượng biểu tình, quậy phá, làm loạn trên đường phố và Dinh Gia Long của những tín hữu Thiên Chúa giáo VN ngày xưa đó. Cho ta thấy rõ bản chất của người VN theo đạo KiTô Giáo La Mã, thời nào cũng chỉ muốn người Thiên Chúa lãnh đạo Chính quyền VNCH, để dễ bề bành trướng, biến Miền Nam Việt Nam thành một nước KiTô trực thuộc Tòa Thánh Vatican- La Mã. Dã tâm ấy, được thấy ở lời nói của ông Diệm : “Chỉ có đồng bào KiTô giáo miền Bắc mới thực tâm chống Cộng”. Do vậy, ông Nhu, ông Cẩn và đám Mật Vụ của 2 ông đã tạo ra 9 Hầm (ngục tối) tại Huế để giam cầm những Phật tử chống Thiên Chúa giáo, cũng như bắt giam và sát hại những tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo bằng nhiều cách : Trói ké, ném xuống sông Sài Gòn, chém đầu Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt).

   Nói rõ hơn, Việt Nam Cộng Hòa của hai đời Tổng Thống Diệm và Thiệu, là nước Thiên Chúa Giáo La Mã (lịch sử Ác). Do vì xây dựng nước Thiên Chúa Giáo trên mảnh đất miền Nam VN, là nơi có tôn Giáo lớn cổ truyền lâu đời của dân tộc, đó là Phật Giáo có tín đồ cao nhất với con số 80% cho nên anh em ông Diệm mới cai trị dân miền Nam bằng cảnh sát, trong đó có 13 tổ chức công an, mật vụ, là những công cụ để bắt ép dân miền Nam Tam Giáo cải Đạo. Chứ chẳng phải để chống cộng sản. Vì không nhắm vào chống Cộng, họ đã chiêu dụ những cán binh cộng sản chiêu hồi. Họ liền ra chiêu hồi giả. Sau đó họ được các Linh mục đem vào nhà thờ rửa tội theo đạo Thiên Chúa, đưa vào Dinh Độc Lập và các cơ chế chính phủ, chính quyền. Chính những Cán bộ CSVN này đã phá vỡ toàn bộ cơ cấu Đệ II VNCH vào mùa xuân 1975, gọi là “gậy ông đập lưng ông, nuôi ong tay áo”. Những ai lâu nay vì quá si mê, ám độn, nên đã nói rằng Đệ II VNCH bị tan hàng là do Phật Giáo theo Cộng sản, Hãy sáng suốt lại đi, đừng u mê nữa ! Sáng suốt mới thấy anh, em ông Diệm, Cần lao. Lm Thiên Chúa VN cấu kết với CSVN, để rồi bị CSVN giải thể VNCH, đúng như Mỹ đã thấy mất Nam VN ngay từ  cuối năm 1961: Lỗi Lớn Là Do Chế Độ Diệm- Theo tài liệu Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ, ký hiệu NSAM 263- Hồ Sơ Mật 1963 – Trang 244- ở nhan đềMỸ ĐÃ THẤY MẤT VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 1961: LỖI LỚN LÀ DO CHẾ DỘ ÔNG DIỆM.


Phap nan 1963-8Phap nan 1963-7Phap nan 1963-6Phap nan 1963-5Phap nan 1963-4Phap nan 1963-3Phap nan 1963-2Phap nan 1963-1

Ngạn ngữ VN có câu “Hổ phụ sanh Hổ tử” Hay “Rau nào Sâu nấy”, Cha nào Con nấy. Đúng thật, Ông Diệm đã gây cái tội lớn là đàn áp Phật Giáo để độc tôn đạo Thiên Chúa của ông, không lo chống CSVN, nên chi bị Hoa Kỳ thay ngựa giữa dòng. Đến đời Đệ II VNCH, Tổng Thống  Thiên Chúa Nguyễn Văn Thiệu, các Tướng, Tá Cần Lao, viên chức chính phủ, chính quyền gốc Thiên Chúa, không lấy đó làm gương, cùng nhau đi lại vết xe đổ của ông Diệm, trong đó vừa đảo chánh vừa gây vô số hành động khủng bố, hâm dọa ra mặt, ẩn tàng hành động ám sát,… một cách quyết liệt đầy áp lực, bạo động, không nương tay đối với những ai lên nắm chính quyền VNCH, mà không phải là người tín hữu Thiên Chúa Giáo như vậy, là nhằm vào  cho mục đích cướp lại chính quyền, toàn là người của họ, để phục hưng chế độ Diệm, chế độ chuyên  xây dựng lại nước Chúa VNCH. Đã khiến cho Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, Thủ Tướng Phan Huy Quát trong Chính Phủ VNCH đã nhìn ra “Mình” không phải là tín hữu Thiên Chúa Giáo, thì không thể cầm quyền, điều hành Chính Thể VNCH được. Nếu cương quyết ngồi trên hai ghế Quốc Trưởng, Thủ Tướng đó, ắt sẽ bị Thiên Chúa ám sát tiếp, vì cụ Phan Huy Quát đã bị nhóm Thiên Chúa Hố Nai ám sát hụt  vào ngày 20-5-1965, do vậy hai cụ liền từ chức, giao quyền lại cho Quân đội.

    Sau khi được nghe hai cụ Phan từ chức, giao quyền lại cho quân đội, liền có tin hành lang rằng; Tướng Nguyễn Chánh Thi được một số Tướng, Tá trong QLVNCH tại Bộ Tổng Tham Mưu đề nghị đứng ra thành lập chính quyền, nội các mới, lên luôn ngôi vị Quốc Trưởng. Nhưng Tướng Thi nhất quyết không nhận lời, bởi vì Tướng Thi vốn là kẻ thù chung ngàn đời của các giới Thiên Chúa Giáo VN, do quá trình (Đại Tá) đem quân Dù làm cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 11 và 12 tháng 11 năm 1960. Vì thế Tướng Thi đơn phương đề cử Tướng Kỳ, thử xem sao ! Tức thì Tướng Nguyễn Cao Kỳ nhận lời ngay một cách mạnh dạn không sợ Cần Lao nhưng, Tướng Kỳ khôn lanh ở chỗ là không dám mời các Tướng ngoài KiTô, phải mời một Tướng Cần Lao hợp tác mới yên thân, đó là Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Nếu không nói là trúng kế của toàn thể tín hữu Ki Tô Giáo. Thế là Nội Các Chiến tranh ra đời vào ngày 19 tháng 6-1965. Tướng Kỳ giữ chức Thủ Tướng bằng một cụm từ mang tính sát phạt “ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương”. Tướng Thiệu giữ chức Quốc Trưởng bằng cụm từ “Chủ Tịch Ủy Ban Ban Lãnh Đạo Quốc Gia”. Do đó tập đoàn Thiên Chúa Giáo trong Quân đội và ngoài xóm đạo mới ngồi im, không biểu tình, đảo chánh nữa. Bởi vì ý muốn của họ đã đạt được một nửa, đó là có người KiTô của họ trong chính phủ Quân phiệt VNCH. Còn một nửa nữa là nắm trọn quyền lực trong tay theo kế hoạch xâm thực từng bước từ A…đến Z.  A là đưa Tướng, Tá, viên chức gốc Cần Lao, Thiên Chúa vào các cơ quan đầu não của chinh phủ, chính quyền trung ương đến địa phương. Quả thật, họ đã tràn ngập khắp trong các cơ chế chính phủ, chính quyền từ trung ương đến địa phương từ lúc còn chính phủ quân phiệt cho đến nhiệm kỳ Tổng Thống đợt đầu vào ngày 1-4-1967. Trong khi đó Tướng Kỳ bị cô đơn một mình, không có phe cánh.  Z là hoàn toàn Thiên Chúa Giáo hóa trong các cơ chế đầu não chính phủ, chính quyền từ trung ương đến địa phương. Cũng là lúc Tướng Kỳ bị Cần Lao hất cẳng ra khỏi chính phủ, chỉ còn một mình ông Thiệu tự độc diễn lên ngôi vị Tổng Thống nhiệm kỳ hai, ngày 3-10-1971, được bao bọc chung quanh bởi một đạo quân Thiên La Địa Võng Cần Lao, KiTô Giáo, mời Trần Văn Hương, ông giáo làng già làm phó Tổng Thống, để gọi là có người ngoài đạo Chúa trong chính phủ, nhưng chỉ là ngôi vị ngồi chơi xơi nước. Thủ Tướng vẫn là Tướng Cần Lao Trần Thiện Khiêm, con chim đầu đàng của đám Cần Lao tham nhũng trong chính quyền.

  

Bụi Cỏ “CÚ” Đệ I VNCH Vẫn Còn Rễ Con.

   Đúng thật, anh em Ngô Đình Diệm bị Hội Đồng Quân Nhân đảo chánh, lật đổ vào ngày 1 tháng Mười Một, năm 1963 hoàn toàn không còn ai. Nhưng còn lại nhiều Tướng, Tá Cần Lao trong QLVNCH giả vờ theo chánh phủ Cách Mạng Dương Văn Minh, sau đó họ cấu kết vùng lên đảo chánh nhiều lần đối với những ai trong các chính phủ, mà không phải là người Thiên Chúa của họ. Đúng như lời người xưa nói “ Nhổ cỏ là phải nhổ tận gốc, bằng không cỏ sẽ mộc lại do còn các rễ con”.Quả thật nhiều Tín hữu Ki Tô Giáo trong các xóm đạo và một số tướng Tá Cần Lao trong QLVNCH và tình báo Cộng sảnVN cấu kết nhau từng nhóm có điều binh ra giữa Sài Gòn, điển hình rõ nét là Đại Tá cs Phạm Ngọc Thảo, làm nhiều cuộc đảo chánh gây rối loạn, cách nhau một tuần, tháng, hai tháng… Cuộc đảo chánh đầu tiên không tiếng súng, gọi là cuộc chỉnh lý, do Tướng Nguyễn Khánh gốc Cần Lao, đem quân bao quanh tư thất các Tướng trong Hội Đồng QNCM và bắt đem giam ở Đà Lạt và ngay tại Sài Gòn. Sau đó nhiều nhóm khác thay nhau làm nhiều cuộc đảo chánh gây náo loạn do một số Tướng. Tá Cần Lao, cùng với tình báo CSVN như ĐT Phạm Ngọc Thảo trong QLVNCH chỉ đạo, xuất hiện làm đảo chánh, đúng như lời ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng CHXHCNVN nói : “Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chánh để ngăn chặn đế quốc Mỹ đem quân vào miền Nam VN”. ĐT Phạm Ngọc Thảo cùng với Tướng Cần Lao Lâm văn Phát, Nguyễn Bảo Kiếm, với sự tiếp tay của một số đoàn thể Thiên Chúa giáo làm đảo chánh ngày 19-2-1965. Hai cuộc đảo chánh tiếp theo: 20 tháng 5- 1965. 27 tháng 5-1965, đều do tín hữu Thiên Chúa giáo hành động.

   Đến ngày 7 tháng Sáu 1965, một đoàn thể chính trị Thiên Chúa giáo ở Sài Gòn, Hố Nai Biên Hòa hợp nhau kéo vào dinh Gia Long một cách ngang ngược để tìm gặp cho bằng được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, rồi hành động biểu tình la hét chống chính phủ Phan Huy Quát, vì hai cụ PHAN là theo đạo thở Ông Bà, có thân thiện với Phật Giáo. Đám người biểu tình ăn, uống vất đồ bừa bãi tứ tung như chỗ không người. Tất cả các cuộc đảo chánh của các Tướng, Tá Cần Lao, tín hữu Thiên Chúa tại Sài Gòn đều thất bại, vì Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn không chấp nhận. Trước các hiện tượng biểu tình bừa bãi, không chính đáng của người Ki Tô Giáo VN nói chung, Tướng Tá Cần Lao nói riêng, đã làm cho các Tình báo CIA, và  nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ chán ghét trước những vụ thay đổi chính quyền, âm mưu đảo chánh liên tiếp năm 1964, 1965 cho nên ông Stanley Karmow gọi đó là một “tội lỗi căn bản”.

   Đến ngày 21-12- 1964, Taylor  yêu cầu Nguyễn Khánh và các Tướng trẻ đến gặp ông ở tòa Đại sứ. Chỉ có bốn tướng đến dự là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi và Lê Nguyên Khang. Taylor nói :

  “ Các ông có hiểu tiếng Anh không? Sau khi nhóm Việt Nam cho biết là họ hiểu, Taylor nói tiếp: “ Trong bữa ăn ở nhà tướng Westmoreland, tôi đã nói rõ cho tất cả các ông biết rằng người Mỹ chúng tôi đã chán ngấy những vụ đảo chánh. Dường như tôi đã phí lời. Có lẽ tiếng Pháp của tôi không được rành, vì rõ ràng các ông đã không hiểu. Tôi đã nói rõ là tất cả những kế hoạch quân sự mà tôi biết các ông muốn thi hành điều này tùy thuộc vào sự ổn định của chính quyền. Bây giờ thì các ông đã làm nát bét hết. Chúng tôi không thể cưu mang các ông mãi nếu các ông cứ làm những chuyện như thế này. Ai là người nói thay cho cả nhóm ? Các ông có người phát ngôn không ?”. (Việt Nam 1945-1995- trang 326- GS Lê Xuân Khoa).

   Các cấp lãnh đạo chính phủ trung ương Hoa kỳ ở Washington DC không thể im lặng trước nhiều vụ đảo chánh bất hợp pháp sau HĐQNCM Dương Văn Minh, họ đem lời chỉ trích : “ Các tướng lãnh VNCH chỉ quan tâm đến việc tranh chấp quyền hành và bảo vệ quyền lợi cho phe nhóm hơn là lo chiến đấu chống cộng sản”. Thật sự chỉ có những Tướng Cần Lao Thiên Chúa mới tranh giành quyền hành, bảo vệ phe nhóm họ. Chứ các Tướng lãnh theo Đạo Phật, Nho giáo, Cao Đài, không ai có hành động tranh chấp, tranh giành chức quyền, ngay cả buôn lậu, cũng không. (Việt Nam 1945-1995 trang 325- GS Lê Xuân Khoa ).

   Điều đáng nói đây; những cuộc đảo chánh, gây rối loạn xã hội VN trong năm 1964 do các Tướng, Tá Thiên Chúa trong QLVNCH và thường dân trong xóm đạo với nhau, vì nghĩ sai rằng anh em ông Diệm chết do các Tướng lãnh Phật Giáo đảo chánh, cho nên đảo chánh lại để trả thù. Nhưng tại sao họ cấu kết với tình báo CSVN (Pham Ngọc Thảo) làm đảo chánh? Chuyện cũ đã qua hơn nửa thế kỷ, nhưng người viết xin hỏi đồng bào Ki Tô Giáo VN hải ngoại nói chung, cựu Quân, Cán Chính VNCH nói riêng, còn tiếp tục nói rằng; chư Tăng PGVNTN trước 1975 theo CSVN nữa hay không?   

 

 

    HT Trí Quang Và Các Giới Chức Mỹ

    Cùng Thấy CẦN LAO VÙNG DẬY

    Ông Richard Helms, phó Giám đốc kế hoạch CIA nói : “ Thiệu, một tín đồ Công giáo, từ lâu đối với Trí Quang đã là biểu tượng chính cho sự ngoan cố của chính phủ VNCH không chịu dứt khoát với chế độ Công giáo trị của thời Diệm”. Ông Topmiller nói lên ý tưởng HT Trí Quang mong muốn. Ông nói: “ Trong khi các quan chức Mỹ muốn có một chính phủ ổn định ở Miền Nam trên hết và trước hết, thì Trí Quang lại muốn thấy một chế độ “Cách Mạng”, một chế độ mà ông định nghĩa là thật sự không còn ảnh hưởng người Công giáo tàn dư của Diệm hay Cần Lao. Trí Quang muốn trở thành một nhân vật duy nhất có quyền chọn lựa lãnh đạo cho chính trường Miền Nam, chứ không phải quan hệ với Cộng sản, hay có khuynh hướng trung lập hay thiếu nhiệt tình chống Cộng như một số người gán ghép cho ông. Mặc dù tuyên bố rằng; ông sẽ thẩm định chính phủ mới trên cơ sở thành tích hoạt động nhưng, Trí Quang lo ngại rằng bản thân (chính phủ Thiệu) nhiều thành viên trong nhóm âm mưu đảo chánh vốn là người của Diệm. (Theo tài liệu Thích Trí Quang và chiến tranh Việt Nam. JAMES McALLISTER Cập nhật: 19/08/2008- Trần Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh- Trang 4,5, 19/ 31).

      Viện Hóa Đạo GHPGVNTN Tiếp Tục Chống

      CẦN LAO Trong Chính Phủ Quân Phiệt THIỆU KỲ

Lý do nào mà Phật Giáo VNTN tiếp tục biểu tình chống chính phủ Quân Phiệt Thiệu  Kỳ ? Lý do thật quá rõ ràng, là tập đoàn Cần Lao cấu kết nhau làm nhiều cuộc đảo chánh đã được thống kê như trên cho ta thấy rõ mục đích của họ là dựng lại chính thể VNCH Thiên Chúa Giáo như thời Diệm, một chế độ độc tài đảng Cần Lao trị, đi ngược lại tự do, dân chủ, nhân quyền của Hoa Kỳ, trong đó Phật Giáo VN chắc chắn sẽ bị Thiên Chúa Giáo tiếp tục đàn áp để trả thù cho Diệm. Chưa nói đến Cần Lao không lo quốc phòng, chỉ lo ôm hết quyền hành, tham nhũng, xây dựng đạo Chúa, VNCH ắt sẽ bị lọt vào tay CS Bắc Việt, là đằng khác. Chừng đó các tôn giáo Miền Nam, liệu có được tự do hành đạo hay không? Các giáo phẩm tôn giáo, có tự do hay vào tù, bị CSVN giết chết ! Thật rõ ràng được thấy 2 vị Hòa Thượng PGVNTN đã bị  CSVN đày ra khỏi Sài Gòn, HT Quảng Độ bị ra ở Thái Bình Bắc Việt, HT Huyền Quang bị đày ra ở chùa Hội Phước Quảng Ngãi, HT Đức Nhuận bị tù, ra tù về chùa Giác Minh, chẳng bao lâu, viên tịch. Riêng HT Trí Quang bị CSVN giam lỏng tại chùa Ấn Quang, Già Lam Gò Vấp.(Trang 24/ 31 Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam…).

    Tư tưởng lo xa cho dân tộc VN nói chung, nói riêng cho dân tộc Miền Nam của chư Tăng trong Viện Hóa Đạo- GHPGVNTN, mà HT Thích Trí Quang, là vị Tăng quan tâm hàng đầu hơn hết. Tư tưởng đó của HT Trí Quang, đã được ông Richard Helms, phó Giám đốc CIA Mỹ, sau khi đọc lá thư  HT Trí Quang gởi cho Đại Sứ Henry Cabot Lodge vào tháng Năm 1965, đã đem lời nhận định: “ Trí Quang ít khi liên hệ với giới chức Mỹ qua thư từ chính thức và rõ ràng lá thư này tiêu biểu cho một nổ lực diễn đạt những tâm tư sâu kín nhất của ông về tình hình Việt Nam. Điều đáng tiếc là những suy nghĩ được diễn tả trong thư tiết lộ rằng cuộc xung đột tôn giáo ở Việt Nam vẫn là quan tâm hàng đầu của Trí Quang. Theo cách nhìn của ông, người Công giáo không phải là người thật tâm chống cộng, trong khi người Phật giáo thì cho rằng chính sách của Mỹ có khuynh hướng ưu đãi đạo Thiên Chúa. Người Mỹ bị dân chúng coi là không khác gì người Pháp trong việc “ dùng người Thiên Chúa để tiêu diệt Phật tử”. Nếu Hoa Kỳ muốn khỏi bại trận, họ không còn cách nào hơn là phải đảo ngược chính sách của mình và chủ trương một chính sách cách mạng, một chính sách mà nội dung cơ bản, theo Trí Quang, là các phần tử Thiên Chúa giáo Cần Lao ác ôn và bè lũ Đại Việt phản động phải bị loại trừ”.(Thích Trí Quang và Chiến Tranh VN- Trang 18- dựa trên  hồ sơ lưu trữ Bộ ngoại  Mỹ- Nguyễn Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh).

        GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VN THỐNG NHẤT –VIỆN  HÓA ĐẠO

        VẬN ĐỘNG BẦU CỬ QUỐC HỘI LẬP HIẾN

   Trước nhiều hiện tượng biểu tình của bạo lực Cần Lao và Thiên Chúa Giáo nhằm vào mục đích tái lập chính thể Ngô Đình Diệm, một chính thể đã từng tiêu diệt tìm lực Phật Giáo. Điều này đã được HT Trí Quang đoán trước không sai, Ngài nói: “ Ông Ngô Đình Diệm đổ rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn đề Phật Giáo không phải kết thúc mà là bắt đầu. Từ đây Phật Giáo ở trong tình trạng cây muốn lặng mà gió không ngừng” (Trích từ Tiểu Luận Tự Ghi- HT Trí Quang). Vì thế cho nên Phật Giáo VNTN, phải một lần nữa đứng lên vận động tòan Dân, Quân tham gia bầu cử QHLH, để thành lập một chính phủ VNCH do dân, vì dân. Như thế mới có thể loại trừ tất cả Cần Lao ra khỏi các cơ cấu chính quyền VNCH mới.

     Hai cuộc tranh đấu của Phật Giáo VN năm 1963 đối với Ngô Đình Diệm và năm 1966 đối với tập đoàn Cần Lao trong chính phủ Quân Phiệt Thiệu Kỳ, luôn được tương quan mật thiết với các chính khách Hoa Kỳ trung ương tại Washington DC và Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn. Điều này được ông George Caver tin rằng sự tương hợp của các mục tiêu của Mỹ đối với phe Phật Giáo TN vẫn còn tồn tại. Ông cho rằng không có sự ủng hộ tích cực của giới Phật giáo thì chính sách của Mỹ không thể nào thành công được. Thật vậy, Caver mạnh dạn hàm ý rằng quyền lợi của Mỹ có thể được phục vụ tốt hơn nhờ một chiến thắng của phe Phật giáo vì “ một chính phủ trong đó quần chúng Phật tử có một tiếng nói ưu thế sẽ tạo được điểm hội tụ cho chủ nghĩa quốc gia đang vươn dậy, một chủ nghĩa nhiên hậu có thể cung ứng cho toàn bộ cơ chế quốc gia chủ nghĩa và phi cộng sản một nền móng vững chắc hơn cơ chế hiện nay đang có ”. (Thich Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam- Trang 22- Nguyễn Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh).

            Cuộc Vận Động Bầu Cử QUỐC HỘI

            LẬP HIẾN Của GHPGVNTN

 

 Nhìn Thấy Trước…Trước hiện tình miền Nam VN vô quân, vô chính phủ, thượng hạ chống trái nhau, xã hội rối loạn, chiến tranh chết chóc nhiều trong năm 1965. Làm cho Chư Tăng lãnh đạo GHPGVNTN-Viện Hóa Đạo lúc bấy giờ, phải đứng ra, (tìm cách cứu vãng VNCH miền Nam sao cho được đứng vững, là phải có Quốc Hội Lập Hiến do dân, để xóa đi chính phủ quân phiệt Cần Lao, tái lập chính thể VNCH lý tưởng đúng với bản chất tự do, dân chủ của Hoa Kỳ đã trao cho ông Ngô Đình Diệm nhưng, ông không theo, lại theo bản chất của GH Thiên Chúa La Mã là Chúa trên hết. Đến thời ông Thiệu, các Tướng, Tá Cần Lao cấu kết nhau đi lại vết xe cũ của ông Diệm, gọi là Diệm, không Diệm. Ý nghĩa Diệm không Diệm là PGVN tiếp tục bị Cần Lao Thiên Chúa chèn ép, đánh phá nhằm tiêu diệt, trong đó có các Tướng Tá trong QLVNCH và nhân viên hành chánh gốc Phật tử bị Cần Lao chèn ép, tuần tự bị loại trừ ra khỏi Quân Lực và chính quyền, thay vào đó toàn là tín hữu Ki Tô Giáo.

   Vị Đại Tăng đã nhìn thấy được Phật Giáo VN đã và đang bị dư Đảng Cần Lao trong chính phủ Quân Phiệt Thiệu - Kỳ tìm cách đàn áp và tiêu diệt như dưới thời Diệm. Đó là HT Thích Trí Quang. Cho nên Ngài đã đưa ra ý kiến, Phật Giáo phải dấn thân lần nữa, là vận động toàn quân và dân, mở cuộc tranh đấu với chính phủ quân phiệt Thiệu - Kỳ, để đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, là cơ hội xóa bỏ dư Đảng Cần Lao, chính phủ VNCH do dân làm chủ một cách bình đẳng không phân biệt tôn giáo ra giữa một buổi họp của Chư Tăng trong Hội Đồng Lưỡng viện Viện Hóa Đạo. Tư tưởng phải tranh đấu của HT Thích Trí Quang, được chứng minh qua lời của Ngài sau đây:

“…Ông Ngô Đình Diệm đổ rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn đề Phật Giáo không phải kết thúc mà là bắt đầu. Từ đây sắp đi, Phật Giáo ở trong tình trạng cây muốn lặng mà gió không ngừng,… Quan điểm tương phản đến mức đó nên phải có vụ 1966…” (Tiểu truyện tự ghi HT Trí Quang - trang 3).

   NHÂN SỰ VẬN ĐỘNG BẦU CỬ QUỐC HỘI LẬP HIẾN

Nhân sự một, giai cấp chỉ đạo, là Chư Tăng trong Hội Đồng Lưỡng Viện  GHPGVNTN. Nhân sự hai, là lực lượng vận động. Đó là toàn dân Tam Giáo ngoài xã hội, quân nhân các cấp trong các binh chủng QLVNCH và nhân viên hành chánh các cấp trong chính phủ, chính quyền VNCH từ Trung Ương đến địa phương. Nhân sự ba, là người chỉ huy lực lượng quần chúng (quân nhân, cán bộ hành chánh, và toàn dân) trong các cuộc tranh đấu bất bạo động ở hình thức biểu tình, tuyệt thực… Đó là hai Tướng Nguyễn Cao KỳNguyễn Chánh Thi.Tướng Thi chỉ huy mặt nổi là động binh ở quân và dân; Tướng Kỳ chỉ huy ngầm ở hậu phương (Trung Ương) trong đó vận động các Tướng vùng, sư đoàn đem tâm ủng hộ, đừng chống đối. Bởi vì Tướng Kỳ, được đa số Tướng Tá có cảm tình, là do tâm chánh trực không tham nhũng, không bè phái. Hơn nữa đang ở ngôi vị Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của chính phủ quân phiệt; cũng như gốc Phật Giáo. Cả hai Tướng Thi và Kỳ ở ngôi vị chỉ huy đoàn binh biểu tình bất bạo động, thì nhất định công cuộc tranh đấu đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo, ắt sẽ thành công. Nếu không nói rằng cuộc tranh đấu đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo VNTN đang ở thế thượng phong, cơ hội tốt nhất đưa đến thắng được tập đoàn Cần Lao, một Quốc Hội Lập Hiến sẽ hiện hữu trong Đệ III VNCH, mà Tướng Thi là Tổng Thống, Tướng Kỳ Phó Tổng Thống hay ngược lại, Tướng nào cũng được.

   Tư tưởng phân bố chức vị tranh đấu thực tại và mai sau khi được thành công, cũng như kế hoạch vận động và hành động kế hoạch của hai Tướng Kỳ, Thi, như đã nói trên được chư Tăng VHĐ trong hai viện đồng ý sau hai ba lần hội họp. Mặc dù theo tin hành lang lúc bấy giờ cho biết HT Tâm Châu chọn Tướng Kỳ cầm quân tranh đấu. Quý HT khác nói rằng; Tướng Kỳ đang có chức vụ CT UBHP Trung Ương, giữ cho việc vận động thì có kết quả hơn là cầm quân, vì Tướng Kỳ có tánh nóng, bất đồng đột xuất khó có thể chỉ huy đoàn binh. Tướng Thi đang là Tư Lệnh Quân Đoàn Một, là thuận lợi ở hoàn cảnh và môi trường, có quân trong tay. Vùng một Phật tử ngoan đạo hơn, dễ tiến quân. Qua mấy lần giằng co giữa Tướng Kỳ và Tướng Thi ai là Tướng cầm quân. Cuối cùng Tướng Thi được Chư Tăng chọn chỉ huy đoàn binh tranh đấu ở Đà Nẵng – Huế (Những tin tức trên là bán chính thức thời đó).

CẤU TRÚC MỘT CHÍNH THỂ VNCH  DÂN CỬ

  Cấu trúc một chính thể mới VNCH Dân Cử. Trước hết được thấy đó là Quốc Hội (Hạ, Thượng Viện) do người dân có tài đức ra ứng cử, tranh cử được toàn dân chọn và bầu cử. Một số cơ chế mới; đó là một chính phủ Trung Ương, được có đủ ba bộ Lập Pháp, Tư Pháp, Hành Pháp và một số cơ chế hành chánh khác (Tổng, Bộ Trưởng).Tất cả đều dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống, Phó Tổng Thống dân sự. Ngoài chính phủ Trung Ương, có 4 chính phủ tại 4 Quân Đoàn, vùng chiến thuật. Nhân sự chỉ đạo hành chánh vẫn là dân sự. Bốn chính phủ tại 4 vùng, được gọi là Đại Biểu Chính Phủ. Tất cả Tỉnh Trưởng đều là dân sự, trực thuộc Đại Biểu Chính Phủ địa phương. Một chính thể VNCH  Dân Cử, được có hai bộ phận Quân Sự và Chính Trị. Quân sự, vẫn giữ 4 Quân Đoàn và Biệt Khu Thủ Đô do Tướng lãnh chỉ huy, luôn trực thuộc Chính Phủ Trung Ương và Đại Biểu. Nhân sự chỉ huy Quân lực đều do sĩ quan các cấp (Tướng, Tá, Úy) đảm trách. Về chính trị, từ Tổng Thống, Phó Tổng Thống, xuống các Bộ, Nha, Tỉnh, Quận, Xã Trưởng, đều do dân sự chỉ huy. Riêng Bộ Quốc Phòng vẫn là một Tướng lãnh.Về lực lượng Bán Quân Sự, như Cảnh Sát, Tình báo, vẫn là dân sự, nhưng có thêm đơn vị Quân báo trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Cấu trúc một chính thể mới VNCH  Dân Cử nói trên, lúc bấy giờ chỉ là một dự án, chưa thực thể. Do một số trí thức Phật tử trong và ngoài QLVNCH soạn thảo. Nếu Chính Phủ Dân Cử được thành công sau cuộc tranh đấu đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến được kết quả hiện thực, thì dự án đó được thực hiện cho Chính Phủ Đệ III Việt Nam Cộng Hòa mới.

   Vấn đề soạn thảo những cơ chế cho một Chính Phủ, mang tính chính trị giữa thời điểm Cần Lao đang hoành hành thống trị dân tộc miền Nam lúc bấy giờ, không phải như là cuộc hàn huyên uống nước trà! Rất là nguy hiểm tánh mạng trước các bạo lực Cần Lao và nhân sĩ Ki Tô, từ chết đến bị thương, vào nhà tù! Do vậy, chỉ có một mình HT Thích Thiện Minh và một vài vị Phật tử ở lãnh vực quân sự. Điều này được thấy HT Thích Thiện Minh đến Bộ Tư Lệnh Không Quân Tân Sơn Nhất hội kiến với Tướng Kỳ lúc bấy giờ, cứ cách hai hôm hay một vào buổi tối và các nhân sĩ chính trị VNCH, ngồi lại bàn luận, soạn thảo. Do đó HT Thiện Minh bị Cần Lao của Tướng Thiệu ám sát bằng lựu đạn tháng 6-1966.Với HT THÍCH TRÍ QUANG lúc bấy giờ có thể được biết đến cấu trúc chính trị chính phủ VNCH Dân Cử nói trên. Tất cả Chư Tôn Đức Giáo Phẩm khác hoàn toàn không biết. Mãi đến sau khi cuộc tranh đấu đòi bầu cử QHLH ở miền Trung, bị Tướng Kỳ đàn áp, tan rã, Chư Tăng và chúng tôi mới được biết. Cũng nên nói thêm rằng; sau 30-4-1975, tất cả chư tôn Đức Giáo Phẩm GHPGVNTN, đều bị CSVN bắt vào tù và đày xa xứ như hai HT Huyền Quang bị giam lỏng trong chùa Hội Phước Quảng Ngãi, HT Quảng Độ bị về quê ở Thái Bình. Riêng HT Thích Thiện Minh bị CSVN bắt nhốt vào nhà tù ở đường Phan Đăng Lưu Gia Định rồi bị họ giết chết trong đó, giai do soạn thảo đề cương chính trị cho một VNCH mới dân cử và liên đới với nhiều Tướng, Tá VNCH trong quá khứ. HT Trí Quang bị CSVN giam lỏng ở chùa Ấn Quang và  Tu Viện Già lam.

  CẦN LAO TUNG DƯ LUẬN ĐÁNH PHÁ

Phong trào được bắt đầu từ tháng  2- 1966. Đến tháng 3-1966, nhiều dư luận tiếng bạc, tiếng chì từ trong quân đội nói ra, từ ngoài dân nói vào quân đội. Trong nói ra, ngoài nói vô. Hai chiều ra, vô. Nhưng chỉ một giọng điệu rằng: “Tướng Nguyễn Chánh Thi là người của Quý Hòa Thượng, Thượng Tọa miền Trung, chắc chắn sẽ lên ngôi vị Tổng Thống chính phủ VNCH Dân Cử. Còn Tướng Nguyễn Cao Kỳ của các Sư Bắc (Thượng Tọa Thích Tâm Châu) sẽ bị các sư Huế cho ra rìa. Đừng hòng chức vị Phó Tổng Thống, Tết Công Gô mới được! Phó Tổng Thống sẽ là một vị trí thức Phật Giáo có khoa bảng.”

   Tiếng đồn đãi xấu ác đó, không ai xa lạ. Đó là các ông Tướng Tá Cần Lao ở sau hậu trường chính phủ quân phiệt. Họ nói ra lời ác ấy, nhắm vào chia rẽ giữa Tướng Kỳ với Tướng Thi, Thượng Tọa Thích Tâm Châu với Thượng Tọa Thích Trí Quang, Chư Tăng miền Bắc với Chư Tăng miền Trung, miền Nam.Trong khi đó Thượng Tọa Thiện Minh, cứ cách vài chiều tối, Thượng Tọa được ông tài xế tên Trọng, người Huế lái chiếc NISSAN màu đen bốn cửa, đến Bộ Tư Lệnh Không Quân Tân Sơn Nhất. Thỉnh thoảng người viết cũng được Thượng Tọa bảo đi theo, để cho ông tài xế Trọng khỏi phải bị cô đơn trong thời gian xe đậu ở parking khoảng hai, ba giờ dưới trời đêm Sài Gòn oi bức, để chờ Thượng Tọa xong cuộc bàn luận chính trị với Tướng Kỳ, thầy trò ra về.

    HOA DÂN CHỦ NỞ TRONG LÒNG DÂN TỘC

Mặc dù giới Cần Lao Thiên Chúa trong quân đội, hành chánh chính trị và ngoài xóm Đạo, họ đua nhau nói ra nhiều lời ác, nhẳm chia rẽ các cấp lãnh đạo PGVNTN trong Hội Đồng chỉ đạo phong trào đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của Phật Giáo như vậy. Nhưng hằng triệu con tim Tam Giáo trong Quân Lực VNCH và người dân ngoài xã hội, vẫn vui mừng nở hoa dân chủ trong lòng và tiếp tục hiện hữu ở đôi chân, từng bước hăng say tiến về Dinh Độc Lập ở tương lai, một ngày không xa. Bởi vì bao nhiêu năm rồi, bị chính phủ VNCH Thiên Chúa Giáo cai trị, người dân không được một chút tự do, dân chủ. Niềm khao khát dân chủ từ lâu, thì nay được Phật Giáo VN đứng lên tranh đấu để cho toàn dân được có dân chủ. Nói rõ hơn, phong trào tranh đấu Phật Giáo đòi bầu cử QHLH trên cả nước, sâu rộng vào toàn quân, cán chính Tam Giáo ở bốn Vùng Chiến Thuật và Quân Đoàn. Tất cả đang hưởng ứng hướng về trung tâm chỉ đạo tại Đà Nẵng Quân Đoàn I. Mặc dù đang bận rộn công vụ, nhưng có sự tập hợp tư tưởng và đơn vị và sửa soạn quân hành tại ba quân đoàn. Sau đó những đơn vị chung quanh Sài Gòn sẽ tiến quân về Dinh Độc Lập một cách trật tự, không nổ súng (bất bạo động). Lúc đó Tướng Thi và nhiều Tướng khác vào Dinh Độc Lập. Thì Tướng Kỳ, Tướng Thiệu ra tiếp đón phái đoàn, có cả ông Đại Sứ và nhiều nhân viên Sứ quán Mỹ đến đón chào. Tướng Kỳ và Tướng Thi chủ trì họp báo, tuyên bố Đệ III VNCH, là chính thể Dân Cử, có QHLH, do dân trực tiếp điều hành chính phủ, chính quyền. Đó là một trong những kế hoạch sẽ tiến tới, nếu phong trào được bình an, thì cuối tháng 5-1966, một đoàn binh chủng Hải, Lục, Không Quân, Cảnh Sát,.. hùng hậu tiến về Sài Gòn, chung quanh Dinh Độc Lập do Tướng Thi và các Tướng lãnh 4 QĐ hướng dẫn, được hai Tướng Thiệu, Kỳ ra đón tiếp, họp báo rồi tuyên bố như đã dự định nói trên.

         Sau khi anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng Dương Văn Minh đảo chánh, lật đổ vào ngày 1/11/1963, Chư Tăng giáo phẩm các cấp lãnh đạo Phật Giáo VNTN, cũng như các Tướng, Tá Phật tử trong quân đội lúc bấy giờ, tất cả không ai nghĩ đến Dư Đảng Cần Lao sẽ vùng lên, cấu kết nhau tìm mọi cách trả thù Phật Giáo, vì nghĩ rằng ai cũng có tâm hỷ xả, hiền lành như mình. Nói rõ hơn, Chư Tăng, Tướng Tá trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đều có tâm Đại Từ Bi, Đại Hỷ Xả, cho nên không nhớ, quên hẳn lời người xưa nói “Nhổ cỏ là phải nhổ cho sạch hết gốc lớn, gốc nhỏ.”, cho nên không nở ra tay tàn sát hết Dư Đảng Cần Lao. Bởi vì những Tướng, Tá Cần Lao, không ai vô đó, đều là huynh đệ quyến thuộc nội, ngoại xa, gần với những Tướng, Tá Phật Giáo, cũng như cùng khóa một, hai, ba,…Võ Bị, Thủ Đức với nhau. Chưa nói trước đó, họ là gốc đạo Phật, thờ ông bà, là đằng khác. Hơn nữa người Phật Tử không bao giờ cố tình giết người. Không ngờ họ (các Tướng. Tá Cần Lao ) cấu kết nhau trả thù các Tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng bằng nhiều cách, trước tiên đưa Tướng Cần Lao Nguyễn Khánh  ra làm cuộc chỉnh lý, bắt nhốt tất cả  Tướng lãnh trong HĐQNCM, đem nhốt tại Sài Gòn, và Đà Lạt, là nguyên nhân có ra cuộc vận động bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của GHPGVNTN, với mục đích thanh lọc toàn bộ Tướng, Tá Cần Lao ra khỏi chính quyền VNCH, nhưng không ngờ bị Tướng Kỳ và một số chư Tăng trong VHĐ – GHPGVNTN phá vỡ. Điều này được chứng minh qua lời nhận định của Văn Phòng Giám Đốc Trung Ưng Tình Báo CIA Mỹ sau đây: “Ngày Tháng 3 năm 1966, Phật tử biểu tình tại Đà Nẵng và Huế, tổng đình công, chiếm đài phát thanh ở Huế và Đà Nẵng. 17 -3 1966 tại Sài Gòn đại sứ Hoa Kỳ tai VNCH, Cabot Lodge gặp Thầy Thích Trí Quang, trong khi các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ thì lại gặp Thầy Thích Tâm Châu. Sự việc hai Tướng Thiệu, Kỳ gặp Thượng Tọa Thích Tâm Châu, chính là nguyên nhân có ra 2 VHĐ –GHPGVNTN : VHĐ Ấn Quang, VHĐ VN Quốc Tự và Hiến Chương mới.  Sau đó Tổng Thống Thiệu trong nhiệm kỳ 2, 1971, cử một Đại Tá gốc Phật tử đến Ấn Quang gặp Thầy Trí Qung, nhã ý xin trả lại Hiến Chương của GHPGVNTN –VHĐ vốn có từ sau ngày đại hội ngày 4-Tháng 1-năm 1964 và xin loại bỏ Thầy Tâm Châu, tức là gián tiếp xóa bỏ VHĐ VN Quốc Tự.  

  
NHỮNG BÀN TAY MÁU PHÁ VỠ PHONG TRÀO

   BẦU CỬ QHLH CỦA GHPGVNTN- VHĐ 1966

Những bàn tay máu chính trong việc phá vỡ phong trào, đó là những Tướng Tá Cần Lao, và các trí thức Thiên Chúa Giáo cực đoan tại ba lãnh vực hành chánh, chính trị, quân sự trong chính phủ Quân Phiệt Thiệu Kỳ, cũng như bên ngoài các xóm Đạo, sau khi cùng nhau tính toán mưu kế, ra tay đánh đổ. Điều đó được thấy rõ, nhân cơ hội chính phủ Hoa Kỳ tổ chức một Hội Nghị Thượng Đỉnh tại Honolulu - HAWAII vào khoảng giữa tháng 4 cho tất cả các cấp lãnh đạo chính phủ ở Đông Nam Á, thuộc đồng minh của Mỹ. Hai Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ cùng đi dự Đại Hội.

   Thì các Tướng Tá Cần Lao tại Sài Gòn họp nhau lập mưu, tính kế đánh phá phong trào bầu cử QHLH của PGVNTN, trong đó có tung ra giọng điệu cũ “Tướng Thi sẽ là Tổng Thống, Tướng Kỳ bị các Hòa Thượng, Thượng Tọa miền Trung cho ra rìa, Tết Công Gô mới được chức vị Tổng Thống. Thượng Tọa Tâm Châu cũng sẽ bị mất chức vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, v.v… Chiêu ác độc ấy đã tràn ngập khắp Sài Gòn, vào tận các chùa, Viện Hóa Đạo, làm cho Thượng Tọa Tâm Châu im lặng, nếu không nói rằng tìm cách rẽ qua hướng Đạo Pháp khác (Hiến Chương mới của GHPGVNTN VN Quốc Tự ). Sau khi Tướng Kỳ  và Thiệu từ HAWAII về. Tướng Kỳ nghe những tiếng ác độc đó đầy tai. Khiến cho Tướng Kỳ tin là có thật, mình sẽ bị các Hòa Thượng, Thượng Tọa miền Trung cho ra rìa. Do đó Tướng Kỳ từ chối không tiếp Thượng Tọa Thiện Minh nữa. Việc Tướng Kỳ không tiếp T T Thích Thiện Minh, người viết có biết rõ. Quý vị thấy không, Phật Giáo không cho Tướng Kỳ ra rìa, mà Cần Lao cho Tướng Kỳ ra rìa. Được thấy ở đề tài “Tướng Kỳ bị Cần Lao cướp công”, được nói ở trang sau.

     Tướng Nguyễn Cao Kỳ Trở Mặt

Tướng Phật Giáo Nguyễn Cao Kỳ trở mặt với Phật Giáo, nghe theo các Tướng Cần Lao hứa sẽ đưa lên ngôi vị Tổng Thống tương lai sau khi được có Quốc Hội Lập Hiến. Tướng Kỳ đã nhẫn tâm đem 2 đơn vị TQLC và Nhảy Dù ra Đà Nẵng và Huế đàn áp phong trào đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo vào ngày 15/5/1966.Trước khi đem quân ra Đà Nẵng, Huế để đàn áp phong trào, Tướng Kỳ tự lập một “Đài Phát Thanh” bí mật trong căn cứ Mỹ tại Đà Nẵng. Được các chuyên gia Mỹ giúp cho kỹ thuật. Tướng Kỳ chọn người nói tiếng Việt, loan báo lên “Tiếng nói của phong trào” với những tin tức, bình luận đầy mùi cộng sản, để đánh lạc hướng dư luận, buộc tội phong trào theo cộng sản.” (Như Áng Mây Bây – Tâm Đức – Trang 303).

            THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN MINH BỊ ÁM SÁT.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh bị kẻ lạ mặt ném lựu đạn dưới gằm xe vào ngày 1/06/1966. Lựu đạn nổ làm Tọa bị thương nặng dưới mông và chân ngay trước cổng Tổng Vụ Thanh Niên, số 22 Công Lý cũ. Cho nên cá các phóng viên báo Chính Luân đưa lời tếu : “Thượng Tọa bể bàn tọa, Chu Bình sứt miệng bình”. Câu tếu của phóng viên báo Chính luận, tếu cả hai. Trong đó có ông Chu Tử bị cảnh sát ông Thiệu đánh giập môi trong lúc biểu tình với thanh niên, sinh viên, học sinh ở bùng binh Sai Gòn đòi bầu cử QHLH.Cuộc bầu cử QHLH được diễn ra vào ngày 11/09/1966, những người Phật tử trên toàn cõi miền Nam nộp đơn ứng cử bị bác đơn, bị bắt nhập ngũ Binh Nhì Quang Trung, không cho nhập ngũ Sĩ Quan Thủ Đức và nhiều Phật tử bị bắt vào tù do có quá trình tham gia vận động bầu cử QHLH. Duy chỉ có những tri thức Thiên Chúa Giáo trong quân đội, hành chánh, và trong xóm đạo, mới được quyền ứng cử, và được trúng cử vào Quốc Hội Lập Hiến Thiên Chúa Giáo. Qua đây cho ta thấy hiện tượng người dân có khoa bảng nộp đơn ứng cử Quốc Hội Lập Hiến, bị các ông Cần Lao trong chính quyền Tổng Thống Thiệu bác đơn, bắt đi lính cấp binh nhì, thậm chí bắt vào nhà tù…Thật giống y hệt như dưới thời chính quyền Cộng Sản hiện nay 2019 tại Việt Nam không cho những người dân khoa bảng trong nước ra ứng cử Quốc Hội Lập Hiến. Mặc dù có ra lời mời các giới trí thức trong nước ra ứng cử Quốc Hội nhưng, khi người trí thức nộp đơn, thì lại tìm đủ mọi cách để bác đơn. Chưa nghe nói đến bắt bớ giam cầm người nộp đơn ! Cuối cùng họ với họ (Cần Lao với CL, đảng CS với đảng CS) tiếp tục cầm quyền với nhau. Ngày xưa Cần Lao cầm quyền với nhau. Ngày nay CSVN  cầm quyền với nhau. Người cõi dưới với nhau. Ngạ Quỷ là như thế.

 CẦN LAO THIÊN CHÚA TỰ BẦU CỬ QUỐC HỘI VỚI NHAU.

      Cuộc bầu cử Tổng Thống và Thượng Viện vào ngày 3/09/1967. mười một (11) liên danh tranh cử Tổng Thống và phó. Thì liên danh quân đội Thiệu - Kỳ trúng cử. Năm mươi liên danh Thượng Viện. Chỉ có sáu liên danh Cần Lao Thiên Chúa Giáo trong và ngoài xứ Đạo được trúng cử. Điều này được thấy: Liên danh Nông Công Binh (quân đội Thiên Chúa), Bông Lúa (Đại Việt Cao Đài Thiên Chúa), Công Ích Công Bằng Xã Hội (Thiên Chúa), Đại Đoàn Kết (Thiên Chúa), Mặt Trời (Thiên Chúa), Đoàn Kết Tiến Bộ (Thiên Chúa). Qua sự ứng cử, trúng cử trên toàn là Cần Lao Thiên Chúa Giáo, cho ta thấy nền Đệ II VNCH của ông Thiệu không khác gì Đệ I VNCH của ông Diệm. Tất cả cơ chế Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp đều do Cần Lao Thiên Chúa Giáo lãnh đạo Đệ II VNCH KiTô Giáo. Và cũng không khác gì với tập đoàn CSVN hiện nay 1954- 1975- 2019… Cuộc bầu cử Tổng Thống và phó nhiệm kỳ II nền Đệ II VNCH vào ngày 3/10/1971, được thấy có liên danh Nguyễn Cao Kỳ ra tranh cử với liên danh đương nhiệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng sau đó ông Kỳ tự động rút lui do cảm thấy bổn mạng sẽ bị chết bởi Cần Lao. Không còn liên danh nào khác ngoài ông Thiệu. Thế là chỉ có một ông Thiệu và ông Hương vừa ứng cử, vừa đắc cử một mình, gọi là độc diễn.

   Sau khi lên ngôi vị Tổng Thống nhiệm kỳ II, ông Thiệu được ông Huỳnh Văn Trọng, tình báo CSVN tiếp tục làm cố vấn cho T Thống Thiệu bằng nhiều kế hoạch để thắng cộng sản VN. Chẳng hạn đem hết các quân binh chủng qua Hạ Lào có tên chiến dịch Lam Sơn 719 vào tháng 2/1971, để phá vỡ những căn cứ quân sự và ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc Việt. Nhưng không thắng, bị bại trận 80% quân số và vũ khí, dụng cụ quân sự. Nhiều cuộc bại trận như vậy, là do giai cấp lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo VN ra tay hóa độ cán binh cộng sản VN về với Chúa sẽ được tất cả. Rõ ràng họ được có 30/04/1975! Còn ta VNCH không bị mất Chúa nhưng bị mất chính thể VNCH! Toàn dân được thống nhất đất nước. Nước không mất, chỉ bị mất Chúa VNCH! (Như Án Mây Bay- Tâm Đức- trang 289 -291).

TƯỚNG NGUYỄN CAO KỲ PHẢN BỘI PHẬT GIÁO VNTN.

Do vì bị nghe theo những lời ác độc của những Tướng, Tá Cần Lao trong quân đội và những giáo dân ngoài xóm đạo đã hứa lèo là đưa lên ngôi vị Tổng Thống Đệ II VNCH sau khi có cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Tướng Kỳ tin là có thật, bèn ra tay đàn áp phong trào. Trước tiên, cậy chức vụ Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương cách chức Tướng Thi Tư Lệnh QĐ I, cử Tướng Nguyễn Văn Chuân ra thay thế và nhiều cách ác độc đối đồng bào Phật tử Đà Nẵng, Huế sau đây: “Sau Hội Nghị Thượng Đỉnh Honolulu, Tướng Kỳ cảm thấy vị thế của mình vững vàng hơn. Liên hệ giữa Tướng Kỳ và  Tướng Thi bắt đầu sa sút, nhất là khi Tướng Thi ủng hộ quan điểm của đại đa số quần chúng miền Trung đòi hỏi bầu cử QHLH. Dân miền Trung khi hay tin Tướng NGUYỄN CHÁNH THI bị cách chức, đứng lên phản đối, không chấp nhận Tướng Nguyễn Văn Chuân ra thay thế. Nhận thấy tình hình quá căng thẳng, Tướng Chuân đề nghị với Tướng Kỳ nên tìm giải pháp chính trị. Đại Sứ Cabot Lodge đề nghị Tướng Kỳ nên để Tướng Thi trở lại tư lệnh Quân Đoàn I và ra Huế ổn định tình hình. Khi Tướng Thi xuống sân bay Đà Nẵng, ông không tin vào mắt của mình. Ông thấy hằng nghìn dân chúng ra phi đạo đón rước ông trở về “quê cũ”, một phần vì mến ông, phần khác là vì họ vui mừng thấy chính quyền Trung Ương quan tâm đến những nguyện vọng của họ. Nhưng với Tướng Kỳ và phe nhóm, thì xem đây là sự tranh giành ảnh hưởng cá nhân (Nguyễn Chánh Thi: Memoire, trang 347).

   Vài ngày sau Tướng Thi ra Huế. Sự đón tiếp lại còn nồng nhiệt hơn: Dân chúng, sinh viên, học sinh, quân nhân, công nhân, thương phế binh hàng hàng lớp lớp đón chào ông.  Đại Sứ Lodge tại Sài Gòn lo ngại khi thấy Quân nhân, Công chức, Cảnh sát Vùng I chiến thuật tham gia phong trào ngày càng đông. Tướng Kỳ với sự cố vấn của Đại Sứ Lodge liên lạc với Viện Hóa Đạo, thảo luận về việc bầu cử, hứa sẽ thực hiện vào năm 1967. Nhưng chẳng bao lâu, sau đó Tướng Kỳ lại nói ngày bầu cử tùy theo tình hình an ninh. Dân chúng lập tức phản đối. Ngày 22 tháng 3 năm 1965, đoàn biểu tình chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, kêu gọi đình công. Đặc biệt lần này thành phần Công Giáo cấp tiến tham gia đòi chấm dứt chính phủ quân nhân. Tại Đà Nẵng và Huế, đại đa số quân nhân, công chức, cảnh sát ủng hộ phong trào. Tướng Phan Xuân Chiểu được Sài Gòn gửi ra hòa giải bị sinh viên giữ lại. Thị Trưởng thành phố Đà Nẵng, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Mẫn, người Công Giáo hết lòng ủng hộ phong trào. Tướng Kỳ đột nhiên thay đổi chiến thuật, lên án phong trào, nói phong trào do Cộng Sản giựt dây và với ông, Đà Nẵng đã lọt vào tay Cộng Sản, dọa sẽ bắn Bác Sĩ Nguyễn Văn Mẫn khi “giải phóng” Đà Nẵng.

  

   Tướng Nguyễn Cao Kỳ Thành Lập Đài Phát

   Thanh Giả Trong Căn Cứ Mỹ Tại ĐÀ NẴNG.

Để chuẩn bị cho việc “giải phóng” Đà Nẵng, Tướng Kỳ cho lập đài phát thanh bí mật trong căn cứ quân sự Mỹ, với sự giúp đỡ kỹ thuật của một số chuyên viên kỹ thuật Hoa Kỳ. Đại phát thanh đó lấy tên “Tiếng Nói của Phong Trào” với những tin tức bình luận đầy mùi cộng sản, để đánh lạc dư luận và buộc tội phong trào là theo cộng sản.

   Với trên 20,000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng tại Đà Nẵng, lời buộc tội của Tướng Kỳ xem có vẻ phi lý đối với Tướng Green, Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ khi ông thăm viếng thị xã Đà Nẵng ngày hôm ấy. Tướng Green nói tình hình trong thị xã rất yên tĩnh, không có dấu hiệu gì lọt vào tay cộng sản. Tướng Lewis Walt, Chỉ Huy Trưởng lực lượng Hoa Kỳ tại Đà Nẵng cho rằng vấn đề cần phải giải quyết bằng thương thuyết (Như Áng Mây Bay- Tâm Đức trang 301-303) .

 

         TỔNG THỐNG THIỆU Triệu Tập 4 Tướng

         Tư Lệnh Vùng Và SƯ ĐOÀN Về DINH  ĐỘC LẬP.

Lúc bấy giờ, tháng 5-1966 ngày xưa ấy, số người dân miền Trung từ Quảng Ngãi, Quảng Tín, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị được nghe tin tức trên đài phát thanh giả của Tướng Kỳ, cỡ chừng hai phần trăm. Các tỉnh Cao Nguyên và trong Nam không nghe, vì làn sóng chỉ được giới hạn từ Quảng Ngãi và Quảng Trị. Về phía quân đội và các cấp chỉ huy QLVNCH trên 4 vùng chiến thuật và Sài Gòn không nghe, kể cả tại Đà Nẵng, Huế cũng không được nghe đến, vì chỉ lo việc lính, việc quan, làm ăn. Riêng Tướng Thiệu tại Sài Gòn được biết đài phát thanh đó, là do những người Thiên Chúa Giáo ở xóm Đạo Thanh Bồ, Đức Lợi ở Đà Nẵng thu băng cassette, gửi vô cho Tướng Thiệu. Ông Thiệu nghe qua, vội vàng ra  lệnh cho 4 Tướng Tư lệnh VùngI,II,III, IV và các Tướng sư đoàn về trình diện Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Tướng THIỆU) vào cuối tháng 4-1966. Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu nói chuyện với các Tướng lãnh về phong trào đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo ở miền Trung, là do có Cộng Sản trong đó giựt dây. Nói xong, ông Thiệu cho các Tướng nghe băng cassette toàn là lời CS kêu gọi toàn dân hãy đứng lên đánh đế quốc Mỹ, lật đổ chế độ quân phiệt Thiệu- Kỳ… Các Tướng ngồi im nghe, có vị lắc đầu…Riêng Tướng Kỳ bên cạnh ông Thiệu, cũng không nói gì. Qua một vài phút Tướng Kỳ đứng dậy, ra ngoài cỡ hai phút, lại vào chỗ cũ. Có lẽ tâm thức Tướng Kỳ bị rung động, hay nói khác hơn tự tố cáo mình đã ngụy tạo ra đài phát thanh CS đó để đánh phá phong đòi bầu cử QHLH do GHPGVNTN đề xướng, HT Trí Quang chỉ đạo. Trong khi đó, tất cả Tướng,Tá đều tiếp tục im lặng đáng sợ! Qua vài phút im lặng, Tướng Thiệu ngỏ lời với các Tướng, là phải đẩy mạnh an ninh hơn nữa ở Huế, Đà Nẵng để tìm cho ra đài phát thanh của Phật Giáo theo Cộng Sản mà tiêu diệt. Tại các tỉnh khác, cũng phải bám sát sự sinh hoạt của Phật Giáo để nhận diện Cộng Sản trà trộn trong đó.

   Lời của Tướng Thiệu nói với các Tướng lãnh hôm xưa ấy, nếu không nói là được trúng ý Tướng Kỳ, đã mong muốn dẹp bỏ lực lượng Tướng Thi trong phong trào đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của Phật Giáo VN. Do đó vào ngày 15-05-1966, Tướng Kỳ cậy chức vụ Chủ tịch UBHPTU đưa TQLC và Dù ra Đà Nẵng đàn áp và tiêu diệt hết quân lính của Tướng Thi, để sau này sẽ lên ngôi Tổng Thống tương lai do Cần Lao hứa lèo.

   Giữa cuối tháng 3 và tháng 4-1966, là thời điểm Tướng Kỳ thành lập đài phát thanh bí mật tại Đà Nẵng, để vu khống Phật Giáo theo Cộng Sản, cũng là thời điểm được có 20 ngàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng tại Đà Nẵng, dưới quyền tư lệnh của Tướng Green. Tướng Green đi thăm viếng và tiếp xúc với các giới chức quân sự và hành chánh VNCH tại thị xã Đà Nẵng. Ông Green nói rằng không có dấu hiệu gì bị lọt vào tay Cộng Sản, thị xã rất yên tĩnh, dân chúng sinh hoạt bình thường. Bên cạnh Tướng Green, có Tướng Lewis Walt, chỉ huy trưởng lực lượng quân sự Mỹ tại Quân Đoàn Một, cũng đem lời cho rằng vấn đề cần phải giải quyết bằng thương thuyết (phỏng theo Như Áng Mây Bay- Tâm Đức trang 303).

   Những tin: Tướng Thiệu triệu tập các tướng Quân Đoàn và Sư Đoàn về Dinh Độc Lập cho nghe băng cassette. Tướng Green thăm viếng thị xã Đà Nẵng ... Tướng Lewis Walt cho rằng... Tướng Kỳ giả tạo đài phát thanh ... Tướng Kỳ bị các Tướng Cần Lao bắt ép nhận Phó Tổng Thống  nhiệm kì một. Tướng Kỳ bị Cần Lao cho ra khỏi chính phủ nhiệm kì hai, v.v... Tất cả tin bí mật trên được lọt ra ngoài hành lang Dinh Độc Lập vào năm 1971 trở đi, do các viên chức chính phủ và Tướng Tá ngoài Ki Tô kể lại. Nói rõ hơn, do cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ bực tức các Tướng Cần Lao và Tổng Thống Thiệu phản bội, cho ông đi tàu bay giấy, mà lộ ra nửa úp nửa mở với Tướng, Tá các cấp trên, dưới  trong các binh chủng, nhất là giới sĩ quan An Ninh QĐ, Quân Báo, Tình Báo, Cảnh Sát Đặt Biệt chỉ huy tỉnh, thị xã, quận, huyện ở miền Trung (Đà Nẵng - Huế ) lại càng biết rõ Tướng Kỳ thành lập đài phát thanh giả trong căn cứ Mỹ tại Đà Nẵng, được các quân nhân Mỹ giỏi về kỹ thuật giúp hình thành đài phát thanh. Ông Kỳ tuyển nhân viên Việt đọc tin tức toàn là âm điệu CS, để chụp mũ phong trào Phật Giáo tranh đấu đòi bầu cử QHLH năm 1966, có CS trong đó giựt dây, cho mục đích để thắng Tướng Thi, mà lên ngôi Tổng Thống. Qua đây, người viết xin hỏi ông Liên Thành, cựu Thiếu Tá tình báo, chỉ huy trưởng cảnh sát TP Huế, ông có biết Tướng Kỳ đã thành lập đài phát thanh trong căn cứ Mỹ Đà Nẵng phát đi những tin tức toàn là âm điệu CSVN, để vu khống phong trào tranh đấu Phật Giáo đòi bầu cử QHLH năm 1966, là theo Cộng Sản hay không? Hay là vẫn nói việc ấy là của trung ương ?

  Tất cả Tướng lãnh, Tá lớn, Tá nhỏ, Úy lớn, Úy nhỏ, Dân biểu, viên chức chính phủ, chính quyền Đệ II VNCH, và hằng ngàn tri thức, người dân các giới ngoài xã hội VNCH lúc bấy giờ, ai cũng dư biết Tướng Kỳ, các ông Cần Lao trong chính phủ quân phiệt và sau đó ở hai nhiệm kỳ Tổng Thống Đệ II VNCH của ông Thiệu đã gây cho GHPGVNTN nói chung, từng cá nhân Chư Tăng: HT Thích Trí Quang, HT Đôn Hậu, HT Mật Nguyện, HT Thiện Minh, HT Huyền Quang, HT Trí Thủ  v.v…, nói riêng đã tiếp nhận nhiều khổ nạn...!

   Những nổi khổ, nghiêng ngửa ấy, không còn hiện hữu trong bản thân PGVNTN, từ sau khi được biết Tướng Kỳ phản bội, Cần Lao phản bội Tướng Kỳ (hãy xem đề mục “Tướng Nguyễn Cao Kỳ bị Cần Lao Cướp Công” ở trang sau) vào năm 1971, cho đến nay 2019, không còn hiện hữu. Có nghĩa là Tăng, Ni, Phật tử VN hải ngoại đã chôn vùi những oan nghiệt ấy vào quá khứ không khơi lại làm chi nữa. Cho dù các ông Cần Lao, ông Liên Thành cố sức khơi lại phong trào đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo ngày xưa. Rồi cứ ra lời om xòm trước đám Cần Lao và trong sách với lời lẽ thô bạo chụp mũ Phật Giáo theo Cộng Sản, HT Trí Quang là Cộng Sản, để tiếp tục đánh phá Phật Giáo, gây oan nghiệt cho Phật Giáo và cộng đồng người Việt hải ngoại, với mục đích gì ?. Nói rằng vì chống CSVN, đâu phải chống theo cách chụp mũ chư Tăng PGVN theo CSVN ? Ông Liên Thành lại càng không phải là Cần Lao, vì ông hô lên là cháu của Cố HT Thích Tịnh Khiết, Đức Đệ I Tăng Thống GHPGVNTN. Hay là ông chạy tội dùm cho các Cần Lao Thiên Chúa chỉ lo đạo Chúa nên chi để mất Đệ II VNCH vào tay CSVN ?.   

     QUÂN NHÂN, CÁN CHÍNH CÁC CẤP

     VNCH  ĐỀU BIẾT TƯỚNG KỲ

  Hằng trăm ngàn sĩ quan các cấp và binh lính trong các đơn vị QLVNCH ngày xưa, đều biết Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra tay đánh bại Tướng Nguyễn Chánh Thi đang chỉ huy lực lượng quân nhân trong phong trào đòi bầu cử  QHLH tại Đà Nẵng, bằng cách tạo ra đài phát thanh bí mật trong căn cứ Mỹ ở Đà Nẵng, sặc mùi cộng sản, để vu khống phong trào là do cộng sản nằm vùng chỉ đạo cho Phật Giáo. Chỉ có lấy cớ phong trào theo cộng sản, do cộng sản, mới đem quân ra để giải phóng. Tướng kỳ đánh bại Tướng Thi, nhằm mục tiêu là lên ngôi Tổng Thống, do các Tướng Tá Cần Lao hứa lèo sau khi họ tổ chức xong cuộc bầu cử  Quốc Hội Lập Hiến. Chỉ có lòng tham quyền cố vị, quá ham chức tước của Tướng Kỳ, và sự thống trị chính quyền của các ông Tướng Cần Lao ngày xưa, là nguyên nhân đã đưa đến sự  sụp đổ Đệ II VNCH. Vậy mà một số người Việt gốc Thiên Chúa, Liên Thành ngu xuẩn, lại nói rằng Đệ II VNCH bị tan hàng vào mùa xuân 1975, là do PGVNTN theo CSVN ! Với các nhân viên Tòa Đại Sứ và CIA Mỹ ngày xưa, họ càng dư biết, phong trào đòi bầu cử QHLH của PGVNTN là hợp pháp, là mong muốn dân Nam VN được có một chính thể VNCH Dân Cử, chứ không phải do Cộng Sản chỉ đạo. Qua đó cho ta thấy, nếu phong trào do Cộng Sản nằm vùng giựt dây, thì tại sao Tướng Walt, Chỉ Huy Trưởng lực lượng Hoa Kỳ tại Đà Nẵng cho rằng vấn đề (phong trào) cần phải giải quyết bằng thương thuyết giữa Tướng Kỳ và Tướng Nguyễn Chánh Thi ? Cho nên chính phủ Mỹ ở Washington và ông Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge -Sài Gòn đã gọi phong trào đòi bầu cử QHLH do PGVNTN đề xướng, toàn quân lực VNCH và dân chúng kết đoàn tranh đấu ủng hộ Phật Giáo, là Binh Biến. Họ không dùng cụm từ “Biến Động Miền Trung.” Chỉ có ông Liên Thành mới dùng cụm từ BĐMT, để lừa bịp một số người Việt u mê tin theo để mua sách BĐMT của ông. Trong khi đó hằng trăm ngàn binh lính VNCH các cấp, dư biết phong trào đòi bầu cử QHLH ở Đà Nẵng - Huế ngày xưa, là hợp pháp, do Quân và Dân kết đoàn ủng hộ PGVNTN được thành công. Các giới chức Hoa Kỳ tại VN ngày xưa, cũng dư biết PGVNTN không muốn, không thấy Cần Lao nắm quyền chính phủ VNCH, dù là quân phiệt. Vì họ chỉ có lo phát triển Đạo Chúa của họ bỏ lơ chuyện quốc phòng, là nguyên nhân sẽ thua CSVN.

    TƯỚNG NGUYỄN CAO KỲ

    BỊ CẦN LAO CƯỚP CÔNG.

 Với  tướng Nguyễn Cao Kỳ, hầu hết các cựu Tướng Tá QLVNCH  hải ngoại đều biết Tướng Kỳ, là người có tâm không sâu sắc, hời hợt, ưa danh vọng, nóng tính, bộp chộp, thích nổ, làm liều không suy nghĩ, tỏ vẻ anh hùng, thích người khác xu nịnh nhưng lại ưa tin người, cho nên Tướng Kỳ quá tin tưởng chắc nịch vào lời các ông tướng tá Cần Lao bàn thảo ở hành lang, là Tướng Kỳ sẽ lên ngôi vị Tổng Thống do công lao dẹp được thầy trò Tướng Thi ở Đà Nẵng, trong kỳ bầu cử Tổng Thống sắp tới, do Quốc Hội Lập Hiến tổ chức. Không ngờ, tại những buổi họp của một số tướng lãnh trong chính phủ quân phiệt, về việc đưa hai ông Thiệu Kỳ đứng chung Liên Danh một ứng cử Tổng Thống. Thì các tướng Cần Lao đã phát biểu một cách thẳng thắng, phủ đầu rằng; Tướng Kỳ nên đứng vào địa vị phó Tổng Thống, tướng Thiệu Tổng Thống, bởi vì hiện tình chính trị miền Nam đang bị bất ổn, do vậy Tướng Kỳ không đủ khả năng đối phó, Tướng Thiệu mới đủ khả năng.Thật sự tướng Kỳ là Phật tử, cho nên không thể ở địa vị Tổng Thống, đúng theo chủ trương của Tòa Thánh Vatican và GH Thiên Chúa Giáo VN, Tổng Thống của VNCH (nước Chúa) phải là người theo Đạo Thiên Chúa, dù là Đạo Đứng hay đạo Nằm Ngửa, chứ không để người ngoài Đạo ở ngôi vị Tổng Thống. đó là nguyên nhân làm sụp đỗ chính thể Đệ II VNCH. Thật giống  y hệt như lời ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư Đảng CSVN, đã phát biểu : “ Tổng Bí Thư, phải là người BẮC vì có lý luận” ngay giữa đại hội Đảng khóa 12- 2016.

   Trước những ngôn ngữ của các tướng Cần Lao, có ẩn ý sẽ sát phạt, hạ bệ bằng vũ lực, nếu Tướng Kỳ khăng khăng đòi ở địa vị Tổng Thống. Trước không khí ngột ngạt đó, Tướng Kỳ khởi lòng dung hòa, không muốn xảy ra tranh chấp, biến động giữa các tướng với nhau, càng làm cho miền Nam vốn đang bất ổn càng thêm bất ổn, chứ đâu phải Tướng Kỳ thiếu khả năng chính trị, điều hành chính trị, quân sự!

   Nói rõ hơn, tại miền Nam lúc bấy giờ, có rất nhiều Tướng Tá và nhiều viên chức hành chánh, chính khách chính trị lỗi lạc, và các giới trí thức gốc Phật Giáo, đủ khả năng điều hành chính trị, như Giáo Sư Nguyễn Văn Bông, LS Phạm Nam Sách, các Tướng như Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Đính,… Nhưng rất sợ bạo lực Tướng Tá Cần Lao, các trí thức Thiên Chúa Giáo ra tay sát hại, như GS Nguyễn Văn Bông đã bị họ sát hại ngay giữa thành phố Saì Gòn, rồi đổ thừa cho CSVN.

Để cho mọi người Việt các giới hải ngoại được biết đến tinh thần yêu nước, thương đồng bào nghèo khổ, tình quê hương, tình huynh  đệ chi  binh,… của Tướng Nguyễn Cao Kỳ qua bài tổng hợp của Phạm Bình Thường, đăng trong Tạp Chí Niềm Tin – ATLANTA, Hoa Kỳ số 185, ra ngày 15/8/2011 sau đây:

   “Tướng Kỳ nổi bật ở giai đoạn năm 1964-1965 vì tính cách độc lập của ông và vai trò của không quân trong sự tranh chấp của các tướng lãnh đưa tới những cuộc đảo chánh liên tiếp. Chính thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là người đã quyết định chọn ngày 19 tháng 6 là ngày kỷ niệm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

   Năm 1967, tướng Nguyễn Cao Kỳ cùng với Tướng Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và ông đắc cử Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa nhiệm kỳ 1967-1971. Trong hồi ký cũng như qua phỏng vấn một số cựu sĩ quan cao cấp VNCH. Ban đầu tướng Kỳ giành được nhiều tín nhiệm trong giới quân nhân hơn tướng Nguyễn Văn Thiệu. Và tướng Kỳ là người có nhiều khả năng nhất được đề cử trở thành vị đại diện duy nhất của quân đội tham gia bầu cử với vai trò ứng viên Tổng Thống. Sự ủng hộ từ hàng ngũ các tỉnh trưởng dành cho ông cũng vượt trội so với sự hậu thuẫn mà tướng Nguyễn Văn Thiệu có được. Tuy nhiên, đã có sự thay đổi vào giờ chót khi tướng Nguyễn Văn Thiệu được hậu thuẫn của những thế lực chính trị khác như từ phía lãnh đạo Công giáo miền Nam, vì tướng Nguyễn Văn Thiệu là tín hữu Công giáo. Mặc khác là sự ủng hộ của chính quyền Hoa Kỳ đã làm tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp nhận tham gia liên danh tranh cử Thiệu-Kỳ với vai ứng viên Phó Tổng Thống. Lúc đó, tướng Kỳ tuyên bố; “khi việc bầu cử chưa được rõ ràng thì tôi trở về làm lại tư lệnh không quân như cũ! “Nhưng nhiều nguồn tin từ các vị tướng lãnh cho biết, và mới đây bản tin của AP cũng tiết lộ, lúc đó vì tướng Kỳ muốn nêu cao tinh thần đoàn kết của quân đội nên đã nhân nhượng Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống trong một nhiệm kỳ. Cũng vì điều này mà báo chí Mỹ gọi tướng Kỳ là “tay chơi cự phách”, là News Maker- người tạo ra tin tức.

   Tướng Nguyễn Cao Kỳ là người đưa ra sáng kiến và quyết định lập những pho tượng lính Việt Nam Cộng Hòa ở Sài Gòn và khắp Miền Nam.Từ năm 1968 trở đi là giai đoạn ông bị gạt ra ảnh hưởng các vị trí quan trọng trong chính quyền, dần chuyển sang vị thế đối lập với nhóm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông có những lời lẽ gay gắt chỉ trích T T Thiệu.Trong cuộc bầu cử năm 1971 chỉ có một liên danh duy nhất là ông Nguyễn Văn Thiệu và ông Trần Văn Hương. Tướng Dương Văn Minh là người mới trở lại Việt Nam sau vài năm lưu vong, mới đầu có ý định ra tranh cử nhưng sau đó tuyên bố rút lui.

  Tháng 2 năm 1975, khi cộng sản tiến chiếm Ban Mê Thuột, Tổng Thống Thiệu đưa ra kế hoạch bỏ Cao Nguyên, mở đường máu tỉnh lộ 7, dời quân đoàn 2 chiến thuật từ Pleiku về Nha Trang. Miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị thất thế. Trong bối cảnh đó, tướng Nguyễn Cao Kỳ yêu cầu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trao quyền chỉ huy quân đội cho ông. Tướng kỳ tuyên bố tử thủ. Tại cuộc họp ở Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Kỳ đã muốn bắt giam trung tướng Đặng Văn Quang lúc đó là cố vấn tối cao quân sự của Tổng Thống thiệu (Tướng Quang cũng vừa mới qua đời vào ngày 15 tháng 7 năm 2011 tại Sacramento, hưởng thọ 82 tuổi), nhưng tướng Quang trốn thoát được. Tướng Kỳ cho rằng sự yếu kém về lãnh đạo quân sự sẽ dẫn đến sự sụp đỗ của miền Nam. Trong khi đó thì nhiều tỉnh đã rơi vào tay cộng sản. Chính phủ Mỹ bỏ rơi miền Nam hoàn toàn. Tướng Kỳ có lòng nhưng không có quân, đành phải bỏ cuộc. Giờ chót Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã rời khỏi Sài Gòn bằng may bay trực thăng ra tàu USS Blue Ridge của hạm đội 7 Hoa Kỳ ngoài khơi Vũng Tàu.Trong chuyến đi này có cả Tướng Ngô Quang Trưởng.

  Việc ông về Việt Nam để hòa hợp, hòa giải dân tộc, có một số người chống đối. Nhưng những tâm tư, tình cảm  của ông đối với đất nước, dân tộc như nguyện vọng mà ông đã công khai đề nghị với chính quyền CSVN: “Phải có lưỡng đảng, phải có tự do tôn giáo, Phải giữ lại nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Phải thay đổi lá cờ đỏ sao vàng. Phải tận diệt tham nhũng”, là nhũng điều mà chúng ta cần suy gẫm. Lịch sử sẽ phán xét. Còn nhũng công lớn của Tướng Kỳ: như xây dựng thời đệ nhị Cộng Hòa, chọn ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, tận diệt tham nhũng, đầu cơ trích trữ, giúp vốn cho người nghèo, cho nhũng người lái xe lam, xe xích lô máy, trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, chận sự tấn công của Bắc Việt, ổn định trật tự miền Nam, là những điều khó phủ nhận.

   Theo tin nhận, thì lễ cầu siêu và an vị linh cốt của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, có rất đông người từ khắp nơi về tham dự. Ai cũng muốn tiễn biệt ông lần cuối, Phạm Bình Thường (Tổng hợp).

   Qua bài tổng hợp trên nói về Tướng Nguyễn Cao Kỳ, do Phạm Bình Thường ghi lại, được nhiều người Việt cao niên, trung niên trong giới trí thức VN nói rằng: chính thể đệ II VNCH ngày xưa , để cho Tướng Kỳ làm Tổng Thống  điều hành chính trị, quân sự, thì miền Nam VN, khó có thể bị lọt vào tay CNVN. Bởi vì Tướng Kỳ giỏi về văn hóa, có tài lãnh đạo quân đội , biết đường hướng chính trị đối phương, có tinh thần bao dung toàn bộ các cấp sĩ quan, nhân viên hành chánh không phân biệt đối xử. Sở dĩ chánh thể Đệ II VNCH bị Cộng Sản VN giải thể, là do ông Thiệu, các Tướng Tá Cần Lao Thiên Chúa Giáo đã có thái độ hành xử không thân thiện, không bình đẳng , và kỳ thị đối với các Tướng Tá, nhân viên hành chánh gốc Phật Giáo. Điều đó được chứng minh rõ nét ở hai trường hợp: luật sư Phạm Nam Sách bị ông Thiệu bắt giam vào Nha Cảnh Sát và Đại Tá Trần văn Kha bị an ninh quân đội giam lỏng tại Bộ Tổng Tham Mưu. Hai vị đó bị ông Thiệu bắt giam, là do viết bài chống ông Thiệu đồng lõa với các Tướng Cần Lao tham nhũng trước khi Đệ II VNCH bị tan rã vào sáng ngày 30 tháng TƯ, 1975.

   

               NHỮNG NGƯỜI VIỆT KÉM VĂN MINH VĂN KHỐ

Đề tài trên, tôi muốn chỉ rõ thẳng vào một số ông Cần Lao Thiên Chúa Giáo VN cực đoan, thủ cựu đang đứng trong bóng tối giựt dây, xúi giục các ông Cần Lao khác như L G (T G), L T, Đ V Nh,v.v...đánh phá chư Tăng PGVN trong và ngoài nước.

    Ba ông đầu sỏ nói trên được người Việt hải ngoại biết sự nghiệp của họ là viên chức, sĩ quan cảnh sát, giáo sư kiêm nhà văn dưới thời VNCH.Tạm gọi họ là trí thức do có hiểu biết chút ít về văn học sử như ông Nh. Nhưng đa số trí thức văn hóa thật của các giới người Việt hải ngoại, trong đó có nhiều trí thức Công Giáo. Tất cả đều nhìn thấy rõ mặt của ba ông L G, L T và Đ V Nh, là những loại người không có nền văn minh VĂN KHỐ trong tâm thức, gọi là ĐUI MÙ Ý THỨC. Có nghĩa là ba ông ấy không biết đến, không đọc đến những lời chân thành, thật tâm của các giới CIA, Tòa Đại Sứ Mỹ tại miền Nam VN ngày xưa, đã xác nhận, và khẳng định lời nói và hành động của chư Tăng nói chung, HT Thích Trí Quang nói riêng trong hai phong trào tranh đấu chống chế độ Đệ Nhất VNCH của Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963 và chế độ quân phiệt Thiệu – Kỳ năm 1966 là chơn chánh thật lòng, vì dân tộc và đạo pháp, không theo cộng sản, không bị cộng sản xúi giục, không có cộng sản xâm nhập vào khối Phật Giáo .

   Để chứng minh lời các nhân viên Tòa Đại Sứ và CIA Mỹ tại Sài Gòn đã khẳng định HT Thích Trí Quang không phải Cộng Sản, không nghe theo Cộng Sản VN qua đề tài sau đây: “Mươi Lần Nghi Mươi Lần Nói Không

   

           MƯỜI LẦN NGHI MƯỜI LẦN CIA  NÓI KHÔNG

  Đề tài trên hàm ý chỉ cho chư Tăng Viện Hóa Đạo- GHPGCNTN nói chung, HT Thích Trí Quang nói riêng, được các ông Đại Sứ, nhân viên Tòa Đại Sứ, tình báo CIA Mỹ và các giới truyền thông ngoại quốc xin tiếp kiến suốt thời gian trong hai thời kỳ Phật Giáo tranh đấu ngày xưa. Thời kỳ một 1963, tranh đấu đòi Tổng Thống Ngô Đình Diệm hãy để cho Phật Giáo VN được tư do truyền giáo và hành đạo như Thiên Chúa Giáo. Thời kỳ hai 1966, tranh đấu đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến dưới thời chính phủ quân phiệt Thiệu - Kỳ, để cho nhân dân miền Nam được có một chính thể VNCH lý tưởng do dân cử, thì toàn dân và đạo pháp mới được sống trong an lành, đoàn kết xây dựng đất nước được giàu mạnh không Cộng sản, do vì không còn Cần Lao Thiên Chúa nắm quyền quốc gia. Điều đó được các giới chức Mỹ đã biết rõ, ghi chép và lưu trữ.

   Các ông Đại Sứ Cabot Lodge, Taylor, viên chức Tòa Đại Sứ, tình báo CIA Mỹ và các giới truyền thông ngoại quốc tại Sài Gòn, Miền Nam nói chung ngày xưa, xin tiếp kiến Chư Tăng, HT Thích Trí Quang giữa hai cuộc tranh đấu ấy của Phật Giáo để làm gì? Dĩ nhiên họ có nhiều mục đích. Chỉ giúp đỡ cho Phật Giáo được thành công để ổn định trật tự, an bình cho toàn dân giữa lúc chiến tranh, chứ không đem lòng phá vỡ hay xúi giục chính quyền đương thời đàn áp Phật Giáo, đúng với vai trò của các giới chức Mỹ và cố vấn, đều thi hành đúng tự do, dân chủ, nhân quyền. Trong khi đó những nhóm quân nhân Cần Lao và các ông Thiên Chúa trong các xóm đạo, cấu kết nhau làm đảo chánh nhiều lần ở Sài Gòn ngày xưa như vậy, mà các viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ, CIA cũng yên lặng từng bước theo dõi. Nói rõ hơn, tính nhân bản của người Mỹ ngoài xã hội, trong các tổ chức…trong chính phủ Mỹ từ ngàn xưa cho đến nay, họ luôn luôn chọn sự thật, sai nói sai, đúng nói đúng, không gian dối, ý thức về tự do, dân chủ, nhân quyền đối với tất cả con người trong mọi chủng tộc trên xứ Mỹ và ở các quốc gia khác, họ đều tôn trọng, đối đãi lịch sự, tử tế không xảo quyệt… Nhất là đối với các cấp lãnh đạo trong các tôn giáo tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác họ càng kính cẩn, tôn trọng, không dám vu khống chuyện xấu, không dám hành xử thô bạo, thấy sai nói là sai, thấy đúng họ nói là đúng, không dám phịa chuyện không, nói có, v.v…

   Hành động và ngôn ngữ thật của người Mỹ được thấy rõ ở toàn thể các giới chức Mỹ tại Tòa Đại Sứ Mỹ, tình báo CIA và các phóng viên truyền thông quốc tế, trong đó có Mỹ tại Sài Gòn ngày xưa, họ đã nói thật, viết ra thật của hai cuộc đấu tranh của Phật Giáo mà HT Thích Trí Quang, là vị Tăng chỉ đạo… Qua nhiều lần tiếp kiến với Ngài, đem lời luận bàn, trao đổi ý kiến ở các việc… có tính cách điều tra ở mặt tâm lý theo dõi việc làm và giả thuyết đi kèm để tìm ra sự thật hay giả, mà người Mỹ trong các giới chính quyền ưa áp dụng. Nếu không nói rằng: các giới chức Mỹ vô tình đã áp dụng được Nguyên lý hoài nghi của Phật Giáo. Tức là theo nguyên lý học Phật để được giác ngộ chân lý, là phải đem tâm  hoài nghi, đừng tin vội giáo lý Phật. Điều đó được thấy Đức Phật đem lời căn dặn người học Phật, để được giác ngộ đạo lý, mà hành theo điều mình đã ngộ, đã thấy. Chưa ngộ, mà hành ắt sẽ sai, nếu vội tin là cuồng tín. Do đó người học phật, cần phải hoài nghi, cho đến khi nào nhận thấy không còn thắc mắt gì nữa…Nghi lớn giác ngộ lớn, nghi nhỏ giác ngộ nhỏ, chẳng nghi, chẳng giác ngộ. Không nghi, không phải là học phật.

   Do có Nghi, nên chi có hỏi, có bàn luận với HT Trí Quang nhiều lần, để tìm hiểu, cho nên các giới chức Mỹ đã thấy rõ tâm ý của HT Thích Trí Quang qua hai phong trào tranh đấu năm 1963 và 1966, là mong muốn một số vấn đề rất quan trọng cho dân tộc và Phật Giáo Việt Nam. 1- Đó là mong muốn Tăng, tín đồ Phật Giáo được tự do hành đạo, truyền giáo như Thiên Chúa Giáo. 2- Mong muốn dư đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo trong chính quyền VNCH đừng tiếp tục đàn áp Phật Giáo, trả thù Phật Giáo. 3- Mong muốn VN là một quốc gia phi Cộng Sản. 4- Mong muốn VN đừng có chiến tranh nữa, phải hòa bình. 5- Mong muốn miền Nam được có một chính thể VNCH lý tưởng, được tự do, dân chủ, nhân quyền do dân cử, có quốc hội lập hiến, không còn Cần Lao quân phiệt cai trị nữa, do toàn dân làm chủ đất nước, mà Quốc Hội Dân Cử, là nền tảng, thiết lập.

   Để cho toàn thể người Việt các giới hải ngoại, trong đó có hằng trăm ngàn Phật tử, lâu nay, chỉ nghe Cần Lao Thiên Chúa đem lời đánh phá HT Trí Quang, chưa được thấy tâm ý của HT Thích Trí Quang vì Đạo Pháp và dân tộc trong hai cuộc tranh đấu của Phật Giáo 1963 - 1966 trong quá khứ. Nay được thấy qua những lời xác định chắc nịch của nhiều nhân viên Tòa Đại Sứ, nhân viên tình báo CIA Mỹ, truyền thông quốc tế, tất cả đã ghi lại và lưu trữ sau đây:

   VÀO ĐỀ . 1- Qua thời gian lâu dài, Thích Trí Quang vẫn là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Học giả bên cánh hữu thì cho rằng Thích Trí Quang chắc chắn là tay sai cộng sản hoạt động theo chỉ thị của Hà Nội. Học giả bên cánh tả thì lý luận rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo ôn hòa, dấn thân cho dân chủ và quyết tâm đòi chấm dứt chiến cuộc nhanh chóng. Bài viết này cho rằng cả hai lối lý giải ấy đều không có tính thuyết phục. Như nhiều người Hoa Kỳ đã kết luận đúng đắn ngay trong thời gian cuộc chiến diễn ra, không ai có bằng chứng vững chắc để nói được rằng Trí Quang là một công cụ của cộng sản hay chí ít là có thiện cảm với những mục tiêu của Hà Nội hay Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN). Nếu căn cứ vào những bằng chứng được lưu trữ qua các cuộc đàm thoại của Trí Quang với giới chức Mỹ thì rõ ràng là, Trí Quang thực sự có thái độ chống Cộng mạnh mẽ và hoàn toàn chấp nhận việc Mỹ dùng sức mạnh quân sự đối với Bắc Việt và Trung Quốc.

   2-Như chính Moyar cũng nhìn nhận, các quan chức chính phủ Mỹ, những người có đủ mọi lý do tự lợi (self-interested) để kết luận Trí Quang là Cộng Sản, lại trước sau như một đã bác bỏ cách đánh giá này. Như các nhà phân tích của CIA đã kết luận tháng Chín 1964: “Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Trí Quang, những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông hay thậm chí những kẻ hoài nghi về động lực chính trị của ông, có thể đưa ra bằng chứng vững chắc về bất cứ liên kết nào hiện có giữa ông và Cộng Sản (6)”. Giới tình báo Mỹ và Sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn không bao giờ do dự trong cách đánh giá của họ về những động lực chính trị của Trí Quang, ngay cả vào thời cao điểm của cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1966, mặc dù các viên chức quan trọng như Henry Cabot Lodge và Maxwell Taylor về sau này lại chấp nhận luận điểm của Moyar một cách trễ tràng và thiếu bằng chứng. Vào thời đó và cả ngay bây giờ, người ta vẫn có nhiều lý lẽ rất thuyết phục để phản bác luận cứ cho rằng Trí Quang cố tình làm tay sai cho Cộng Sản hay thậm chí trên bình diện trí thức đã có thiện cảm với chương trình chính trị của MTDTGPMN. Sự thể này về sau Trí Quang bị chế độ Cộng Sản hành hạ và phải sống trong tình trạng quản thúc tại hai ngôi chùa(Ấn Quang-Già Lam) ở Việt Nam thời hậu chiến (sau 30-4-1975), chỉ là một trong nhiều lý do để hoài nghi luận điểm của Higgins/Moyar (7).

  3-  Chiến tranh Việt Nam như Marguerite Higgins, Richard Critchfield và Robet Shaplen cũng từng đưa ra luận điểm này khi họ viết về cuộc chiến (5). Tuy nhiên, như chính Moyar cũng nhìn nhận, các quan chức chính phủ Mỹ những người có đủ mọi lý do tự lợi (self-interested) để kết luận Trí Quang là Cộng Sản, lại trước sau như một đã bác bỏ cách đánh giá này. Như các nhà phân tích của CIA đã kết luận tháng Chín 1964: “Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Trí Quang , những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông.”(ám chỉ cho Cần Lao Thiên Chúa Giáo và số Phật tử kém hiểu biết).

 4-  Sau mỗi cuộc khủng hoảng do Trí Quang châm ngòi trước đây, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ luôn tìm cách tái lập quan hệ tốt với Phật Giáo vì lý do hiển nhiên đó là phe hiển nhiên đó là phe Phật Giáo không thể bị tiêu diệt khỏi bài  khỏi bài toán đi tìm phương cách xây dựng một xã hội không – Cộng Sản khả dĩ đứng vững ở miền Nam.

5- Khi kí giả Marguerite Higgins đăng một bài trên báo the Washington Star cảnh báo rằng chính quyền Johnson cần phải thức tỉnh đối với Trí Quang và điều mà nhà báo gọi là những âm mưu của ông ta với cộng sản, Bộ Trưởng Ngoại giao Dean Rusk chỉ thị người đứng đầu Đoàn Công tác Việt Nam (The Vietnam Working Group/VWG) trả lời riêng với Higgins. Thomas Corcoran, Giám Đốc VWG, nhận định nghiêm chỉnh rằng không có chuyện các nhân viên tình báo biết chắc Trí Quang có móc nối với cộng sản và cũng không có chuyện dữ liệu này phần nào đang bị những người làm chính sách ở Washington ém nhẹm. Đích xác dựa vào ý kiến của các nhân viên nói tiếng Việt của Tòa Đại Sứ, Corcoran lí luận rằng không ai có thể đưa ra bất cứ một nhận xét tối hậu hay dứt khoát nào về mục tiêu và động lực chính trị của Trí Quang.

6-Từ tường thuật của Topmiller người ta không thể không ngờ được rằng Trí Quang thường rất thân Mỹ và Chống Cộng gay gắt, hoàn toàn không quan tâm đến những nguyên tắc phổ quát về dân chủ và tự do ngôn luận, và cực kì hiếu chiến trong quan điểm về phương sách điều hành cuộc chiến. Mặc dù hẳn nhiên là có một phong trào Phật Giáo đối kháng quan trọng ở miền Nam, nhưng người ta lại hoàn toàn sai lạc khi cho rằng “hòa bình” là một trong những mục tiêu hàng đầu của Trí Quang. Trí Quang hiếm khi có luận điệu bênh vực cho một miền Nam trung lập hay cổ vũ cho việc theo đuổi bất cứ một cuộc đàm phán nào với MTDTGPMN trước khi Hoa Kỳ và VNCH nắm được thế thắng trên chiến trường.

    7- Sau khi đánh giá kĩ lưỡng các bằng chứng do nhiều người chỉ trích Trí Quang đưa ra, CIA kết luận rằng không có bất cứ bằng chứng vững chắc nào để xác nhận giá trị của những luận cứ cho rằng ông ta chịu ảnh hưởng của Cộng Sản. Nhìn vào bản chất cá tính của Trí Quang, nhân viên CIA kết luận: “Khó mà tưởng tượng được Trí Quang chịu làm tay sai cho bất cứ ai, dù đó là Hà Nội, Bắc Kinh, hay Mạc Tư Khoa.” (32)  Vì bất cứ một nỗ lực nào nhằm triệt hạ Trí Quang khỏi sân khấu chính trị Việt Nam sẽ gặp thất bại thảm hại, CIA kết luận rằng ông ta là một “thực tế” không thể bỏ qua được vì “bất cứ một chế độ chống Cộng nào ở Miền Nam muốn có cơ may tồn tại đều phải được Trí Quang ủng hộ hay chí ít, chấp nhận.” (33) (không ở trong túi áo của ai cả. Tiểu luận tự ghi HT T Quang).

8- Khi kí giả Marguerite Higgins đăng một bài trên báo the Washington star cảnh báo rằng chính quyền Johnson cần phải thức tỉnh đối với Trí Quang và điều mà nhà báo gọi là những âm mưu của ông ta với cộng sản hoàn toàn sai lạc. Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk chỉ thị người đứng đầu Đoàn Công tác Việt Nam (the Vietnam Working Group/ VWG) trả lời riêng với Higgins.

9-  Thomas Corcoran, Giám đốc VWG, nhận định nghiêm chỉnh rằng không có chuyện các nhân viên tình báo biết chắc Trí Quang có móc nối với cộng sản và cũng không có chuyện dữ liệu này phần nào đang bị những người làm chính sách ở Washington ém nhẹm. Đích xác dựa vào ý kiến của các nhân viên nói tiếng Việt của tòa đại sứ, Corcoran lí luận rằng không ai có thể đưa ra bất cứ một nhận xét tối hậu hay dứt khoát nào về mục tiêu và động lực chính trị của Trí Quang.

10-  Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk đích thân yêu cầu Lodge đừng chuẩn y những luận điệu quy kết những nhà lãnh đạo Phật Giáo là cộng sản, vì những luận điệu này vẫn không đưa ra được bằng chứng về sự móc nối và bởi vì một đường lối như vậy sẽ gặp phải sự phẫn nộ của nhiều lãnh đạo Phật Giáo, những người có thể được chứng minh là không Cộng Sản (88). Sau khi nghe Cy Sulzberger của báo New York Times nhấn mạnh vai trò quan trọng của Việt Cộng rằng ông “thấy rất ít bằng chứng vững chắc khẳng định VC đã thực sự điều khiển vụ binh biến Huế - Đà Nẵng. Chắc chắn là, có nhiều báo cáo ở các cấp thấp nói về những nỗ lực xâm nhập hàng ngũ tranh đấu của cộng sản và mọi người đều tin VC đã cố gắng làm việc đó, nhưng tôi không thể đưa ra cho ông ấy bằng chứng vững chắc nếu bằng chứng ấy không hề hiện hữu.” (88) Komer lấy làm tiếc là Lodge đã đưa ra cho Sulzberger và nhiều kí giả khác một lối giải thích về cuộc khủng hoảng Phật Giáo hoàn toàn sai lạc và không được nhiều quan chức khác tán thành.

   HT Thích Trí Quang có nhiều tư tưởng thật lành mạnh, rất siêu xuất, hết mình cho dân tộc và Đạo Pháp, làm cho đôi khi quên vị trí thực tại. Điều nầy được ông Topmiller nói: “Người ta không ngờ được rằng Trí Quang thường rất thân Mỹ và chống Cộng gay gắt, hoàn toàn không quan tâm đến những nguyên tắc phổ quát về dân chủ và tự do ngôn luận…”

11- Tư tưởng siêu xuất khác: Mối quan hệ của Trí Quang về chủ nghĩa cộng sản vượt cả ngoài biên giới Việt Nam. Sau khi Trung Quốc có bom nguyên tử, Trí Quang nghĩ rằng tín đồ Phật Giáo chống lại sự bành trướng của cộng sản tại Đông Nam Á.” (44) Theo ông, khả năng về vũ khí hạt nhân của Trung Quốc đòi hỏi phải tăng cường gấp bội khả năng chiến tranh quy ước của Mỹ cũng như gia tăng sức mạnh bảo vệ của chính các nước châu Á nhằm chống lại sự bành trướng và xâm nhập của Trung Quốc.” Đối với Trí Quang, mối quan tâm về Trung Quốc nghiêm trọng đến nỗi ông muốn xuất ngoại để nói với Phật tử các nước khác về “sự cần thiết phải duy trì sự hiện diện của Mỹ ở châu Á.” (45) Không có gì đáng ngạc nhiên nếu như khoảng tháng Mười Một năm 1964, giới chức Hoa Kỳ vẫn rất hài lòng với tư duy và ý kiến chính trị của phong trào Phật Giáo: “Khá thuận lợi và sự cần thiết của sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam và ở những nước châu Á khác được họ nhìn nhận.” (Lời xác nhận của ông Fredrik Logevall).

12-Về tư tưởng siêu xuất của HT Thích trí Quang, cũng được ông J.D. Rosenthal nói đến. Ông J.D. Rosenthal, viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ gần gũi nhất với Trí Quang trong suốt giai đoạn này, vô cùng ngạc nhiên về việc ông đã có thể dẹp qua một bên bất cứ nỗi dằn vặt nào trong đức tin liên quan tới chiến dịch Rolling Thunder. Thật vậy, theo Rosenthal, “Chẳng những không có một e ngại luận lí nào về những trận dội bom của Mỹ. Ông lại tỏ vẻ lo lắng rằng cơ hội do những vụ oanh tạc này mang lại sẽ bị lãng phí vì chúng không đạt đến mức độ ác liệt cần thiết.” (67).

13-Việc Trí Quang công khai tán thành chiến dịch lẽ ra có thể chống đỡ phần nào cho lập trường của Mỹ vào thời điểm nó bị chỉ trích gay gắt bởi một quần chúng quá lo ngại về những hệ quả của một chiến dịch dội bom rộng lớn trên miền Bắc. Bộ Ngoại Giao Mỹ cho rằng nếu Tòa Đại Sứ có thể yêu cầu Trí Quang công bố lập trường của ông cho đông đảo quần chúng, đó sẽ là tư tưởng vì dân tộc của HT Thích Trí Quang, là mong muốn miền Nam được có một chỉnh thể VNCH lý tưởng, được tư do, dân chủ, nhân quyền bình đẳng phi cộng sản, phi tôn giáo, do dân chọn mà có.

14-Tư tưởng trên, được ông Đại Sứ Mỹ Maxwell Taylor lập lại: “Loại chế độ chính trị nào mà Trí Quang muốn thấy cầm quyền…” Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ với giới chức Hoa Kỳ rằng ủng hộ một chính phủ thậm chí độc tài hơn miễn là chính phủ đó “thật sự Cách Mạng.” (53) Nếu một chế độ như thế chịu đặt Đảng Cần Lao ra ngoài vòng pháp luật, Trí Quang sẵn sàng chấp nhận việc chế độ ấy có đủ toàn quyền cấm chỉ đình công, giới hạn tự do ngôn luận và tiết chế các đảng phái chính trị, những đảng mà theo Trí Quang, phải có “mục tiêu chống cộng và lí tưởng chống trung lập rõ ràng dứt khoát.”  (Theo tài liệu Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam. JAMES McALLISTER cập nhựt 10/8/2008 14:42  JAMES McALLISTER, Giáo Sư Williams College, dựa trên hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại Giao Mỹ- Trần Ngọc Cư dịch từ tiếng Anh).

 

   *  Bản Ghi Nhớ Tình Báo : HT Thich Trí Quang của Văn Phòng Giám Đốc Trung Ương Tình Báo (CIA) Hoa Kỳ (Directorate of Intelliigence) qua đề tài Thích Trí Quang và Mục Tiêu Chính Trị Phật Giáo tại Nam Việt Nam (THICH TRI QUANG AND BUDDHIST POLITICAL OBJECTIVES IN SOUTH VIET NAM)  Hồ Sơ Mật- Viết ngày 20 tháng 4 năm 1966- Hồ sơ số No: 0806/66- Bản thứ 213. Giải Mật ngày 15 tháng 1 năm 2004. Tên hồ sơ: CIA-RDP80B01676R0001000500011-6.pdf.

LỜI NGƯỜI DỊCH: Hồ sơ này đã giải mật theo luật Hoa Kỳ- tuy vẫn còn xóa trắng 2 dòng ở trang 1, và xóa trắng hai trang 3 và 4 – sẽ cho thấy cách nhìn từ chính phủ Mỹ về tình hình Việt Nam trong thập niên 1960s. Hồ sơ này cho thấy đánh giá từ phía tình báo Hoa Kỳ về Thầy Thich Trí Quang và hoạt động của Phật Giáo VN trong năm 1966, tức là ba năm sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân. Một vài đánh giá trong bản văn này bây giờ đã thấy là không chính xác, khi Mỹ dựa vào suy đoán để gán ghép một mục tiêu chính trị nào đó cho một hay nhiều vị sư. Tuy nhiên, bản văn này cho thấy cái nhìn từ phía tình báo Hoa Kỳ đối với Phật Giáo trong tình hình lúc đó đang gay gắt, và sẽ chiếu rọi thêm một phần vào lịch sử phong trào Phật Giáo.

   Điểm ghi nhận từ hồ sơ đánh giá này:

(1) Phật Giáo đứng về quyền lợi dân tộc, không hề bị chi phối bởi Cộng sản hay người Mỹ;

(2) Thời kỳ Phật Giáo hồi phục gắn liền với phong trào kháng Pháp.

(3) Người Pháp củng cố quyền lực cai trị phấn lớn nhờ vào các giáo sĩ;

(4) Bản văn CIA này còn quá sơ sài, không nhìn đúng tình hình chế độ của Tổng Thống Diệm đã gay gắt đàn áp tôn giáo, như đối với Đại Cao Đài hay đối với Phật Giáo Hòa Hảo, đó là chưa nói tới trường hợp Phật Giáo.

(5) Bàn thân Thầy Thích Trí Quang không liên hệ gì tới CIA hay Cộng sản, chỉ là một người chủ nghĩa dân tộc;

(6) Theo CIA đánh giá, Phật Giáo là cảm xúc sâu thẳm nhất của đa số dân Việt Nam (xem đoạn văn 27), chính phủ Phật Giáo nếu có sẽ có thể là kình địch mạnh nhất mà Việt Cộng có thể đối diện (xem đoạn văn 30)….

Những Bối cảnh này cần ghi nhận:

     -Tháng 3 năm 1966, Phật tử biểu tình tại Đà Nẵng và Huế, tổng đình công chiếm đài phát thanh ở Huế và Đà Nẵng.

     -Ngày 17-3-1966, tại Sài Gòn đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, Cabot lodge gặp Thầy Thích Trí Quang, trong khi các tướng Nguyễn Căn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ gặp Thầy Thích Tâm Châu.

     -Ngày 19-3-1966, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN tuyên bố không chống đối chính phủ mà chỉ đòi hỏi bầu cử và thành lập chính phủ dân sự. Biểu tình tiếp diễn.

     -Ngày 5-4-1966, tướng Nguyễn Cao Kỳ đem theo hằng ngàn binh sĩ ra Đà Nẵng bằng cầu không vận Mỹ, nhưng bị binh lính địa phương ngăn chặn, không cho ra khỏi sân bay.

     -Ngày 8-4-1966, chính phủ gửi tiếp hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra Đà Nẵng nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ phản đối và yêu cầu chính phủ giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.

     -Ngày 14-4-1966, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu nhượng bộ, công bố sắc luật số 14/66, tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến để soạn thảo và biểu quyết hiến pháp VNCH. Phật Giáo tạm ngưng đấu tranh.

     -Ngày 17-4-1966, Thầy Thích Trí Quang từ Sài Gòn ra Huế dàn xếp và kêu gọi ngưng biểu tình.

     -Và ngày 20-4-1966, hồ sơ tình báo này được soạn thảo…

      Một vài tư tưởng sau đây đáng ghi nhớ, được lấy ra từ Tóm Lược tình báo.

-Những mục tiêu được nêu lên từ những vị lãnh đạo Phật Giáo nhấn mạnh tới việc gìn giữ sự độc lập của Nam Việt Nam và sự tự do không bị Cộng Sản chế ngự.

Các vị Sư chính trị, như Thích Trí Quang, không nhất thiết lên tiếng cho, hay đại diện cho, ước muốn chân thực của tất cả Phật Tử Nam Việt Nam, nhưng họ có một tổ chức chính trị hiệu quả, dựa vào số đông quần chúng, hơn bất kỳ ai khác không phải người Cộng Sản.

Mặc dù họ (Phật Giáo)  có vẻ mong muốn một Nam VN độc lập trong kiểm soát của Phật Giáo, họ có lẽ nhận ra rằng mục tiêu này không có thể thành đạt nếu không có Mỹ ủng hộ để chống lại người Cộng Sản.

       Sư Thích Trí Quang.

Nếu người Phật Giáo thành công trong việc lật đổ chính phủ hiện nay ở Nam VN và dựng lên một chính phủ như họ muốn, kết quả sẽ là một chiến thắng cho Sư Thích Trí Quang, người sẽ trở thành, ít nhất tạm thời là, khuôn mặt chính trị quyền lực nhất tại Nam VN. Sư Thích Trí Quang là một người Việt Nam độc đáo, và rất phức tạp. Ông lộ vẻ mờ nhạt, tự đồng nhất “ ý muốn quần chúng” với của riêng ông, và kỹ lưỡng chơi trò chính trị. Ông là người theo chủ nghĩa dân tộc tới mức không ưa ngoại quốc; ông là bậc thầy của nghệ thuật kích động và áp lực, và là chính khách hiệu quả nhất hiện hoạt động ở Nam VN. Không ai thực sự biết ông muốn gì cụ thể, và ông có lẽ không thể nói ra các mục tiêu tích cực của ông với bất kỳ mức độ chính xác nào…(Tới đây, có 2 trang bị xóa trắng, không được giải mật)…cần tới sự hổ trợ của Mỹ trong việc chiến đấu chống lại Việt Cộng và đối với sự bất khả của việc thương thuyết với người Cộng Sản. Thường khi, ông như dường đã xem người Thiên Chúa giáo VN như là một hiểm họa lớn đối với chủ nghĩa dân tộc và đối với Phật Giáo, hơn là người Cộng Sản.

      Bổ túc ở 3 đoạn văn 27, 30.

   Đoạn văn 27. Phật Giáo như là một khái niệm tôn giáo chính trị, đã chứng tỏ rằng chính họ có khả năng đánh động những cảm xúc sâu thẳm trong những khối đa số của dân tộc Việt. Một chính phủ Phật giáo khuynh hướng dân tộc nhạy cảm có thể sẽ là điều mà tuyên tryền Cộng Sản sẽ thấy khó tấn công. Người Cộng sản cũng sẽ gặp gian nan khi tìm bất kỳ đồng minh nào trong những người đối lập tự nhiên của chính phủ Phật giáo so với  người Thiên Chúa giáo, những người như dường kiên quyết chống Cộng.

   Đoạn văn 30. Trong khi có thể tranh cãi rằng người Cộng sản có thể nằm lặng lẽ để khích lệ khả năng của những cuộc thương thuyết thành công với một chế độ Phật giáo, người Cộng sản sẽ không nhất thiết lý luận và hành động kiểu này. Hậu quả chung của những hoạt động gây rối tiếp diễn của họ, và có thể ngay cả phong trào tranh đấu hiện nay, có thể làm khởi lên trong những người Phật tử một ý thức ưu tiên về nhu cầu chống lại hiểm họa Cộng sản. Nếu người Phật tử toàn lực gắn bó vào cuộc chiến chống Cộng, họ có thể sẽ là một kình địch chính trị mạnh mẽ hơn bất kỳ kình địch nào mà Việt Cộng từng đối diện.(Hồ Sơ Mật 1963- Từ Các Nguồn Tài Liệu Của Chính Phủ Mỹ-NHÓM THIỆN PHÁP – trang 271-275).

      Nhận định riêng của tác giả : ( cho ra sau) Chế độ Đệ II VNCH tại miền Nam lúc bây giờ là chính quyền của Thủ Tướng Phan Huy Quát, khả dĩ được toàn dân ngoài xã hội và Phật Giáo (HT Trí Quang) tôn trọng chấp nhận. Nhưng vì Thủ Tướng Phan Huy Quát, là nhân sĩ Nho Giáo, có cảm tình với Phật Giáo, cho nên bị dư đảng Cần Lao trong và ngoài quân đội ra tay chống phá, tìm mọi cách tiêu diệt. Vì thế Thủ Tướng Phan Huy Quát mới giao quyền điều hành quốc gia lại cho quân đội. Tướng Nguyễn Chánh Thi được các Tướng Phật tử chỉ định đứng ra, tạm thời lãnh đạo VNCH. Nhưng Tướng Thi sợ Cần Lao ám hại, nên từ chối không nhận.Tức thì Cần Lao đưa ra hai Tướng  Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, để cho dân, quân các cấp nhìn vào đó thấy cấp lãnh đạo chính phủ không phân biệt tôn giáo, có Phật giáo, Thiên Chúa giáo. Nhưng thật sự bên trong, là do dư đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo thao túng mọi việc hành chánh và quân đội. Chức vụ của hai Tướng Thiệu, Kỳ lúc bấy giờ trong chính phủ quân phiệt, chỉ là bù nhìn trên cơ sở ký sắc lệnh…

   Phong trào đòi bầu cử QHLH được phát động thật hùng mạnh khắp Miền Nam VN, mà lực lượng nòng cốt tại Đà Nẵng và Huế, do toàn quân đội VNCH các cấp 80% và dân chúng 95%  đứng lên.Vì thế cho nên, được các giới chức Mỹ Tòa Đại Sứ Sài Gòn, và tại Đà Nẵng gọi là cuộc Binh Biến hay là cuộc khủng hoảng chính trị, không ai gọi là Biến Động, chỉ có tên Cần lao Liên Thành gọi Biến động mà thôi.

   Phong trào đòi bầu cử QHLH, do tập thể Tăng già trong Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cùng chủ xướng, HT Thích Quang chỉ đạo phát động. Phong trào đòi bầu cử QHLH này, chính là nền tảng thành lập một chỉnh thể VNCH lý tưởng phi Cộng Sản, phi tôn giáo, có sức mạnh chuyển hóa miền Bắc hòa nhập vào miền Nam là thành trì ngăn chặn làn sống đỏ Trung Hoa. Phong trào đòi bầu cử QHLH đang trên đà tiến đến cung thành VNCH đầy hoa lệ, thì bị Tướng Nguyễn Cao Kỳ phản bội, đem quân dẹp tan. Điều này được chứng minh ở phần ông Nguyễn Cao Kỳ đã nhờ sĩ quan kỹ thuật của Mỹ tại Đà Nẵng, thiết lập dùm một đài phát thanh trong căn cứ Mỹ. Rồi phát thanh toàn là giọng điệu CS không thôi, nhằm vu khống Phật Giáo theo CSVN (được nói rõ trang sau).

   Trước hình ảnh phong trào đòi bầu cử QHLH do Phật Giáo khởi xướng, bị Tướng Kỳ nghe theo Cần Lao xúi giục, đem quân dẹp tan. Làm cho toàn dân và quân đội VNCH đều đem lòng buồn phiền oán trách Tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa, bởi vì bị tan vỡ lòng mong muốn miền Nam được có  một chính thể dân chủ. Tâm sầu muộn ấy của toàn quân dân miền Nam được ông Mark Moyar thấy rõ, đem lời nhận xét : “…có một điều hình như ít ai đem ra tranh luận là việc triệt tiêu Trí Quang và Phong trào Phật Giáo năm 1966, đã giảm thiểu hơn nữa những viễn cảnh vốn đã mong manh về một chế độ không cộng sản được lòng dân xuất hiện ở miền Nam VN”.

  Thiết nghĩ rằng; các  ông Cần Lao và Tín hữu KiTô giáo hải ngoại, nên thấy tư tưởng trên của ông Mark Moyar. Do vì không thấy, nên chi ông Liên Thành gọi “Biến Động Miền Trung” rồi các ông Cần Lao hùa theo. Nếu không nói rằng; ông Thành bị đui mù ý thức. Có nghĩa là tâm ông trong quá, hiện tại, tương lai đều bị biến động, nên chi ông không thấy toàn quân, dân Vùng I Chiến Thuật, đồng loạt đứng lên sau lưng chư Tăng GHPGVNTN trong việc vận động bầu cử QHLH, là chính đáng, ôn hòa, trật tự, bất bạo động rõ như ban ngày như vậy, mà ông Liên Thành không thấy, cho là Biến Động ? Qua ở nước Mỹ, một đất nước có nền “văn hóa thầm lặng, văn minh văn khố, thấy rộng nhìn xa, lưu trữ dữ kiện lịch sử”. Sao ông Liên Thành không học hỏi theo 4 nền văn minh của Mỹ nói trên, để được có lại thân tướng chững chạc, đứng đắn,  ăn nói có văn hóa Việt Nam và nếp sống của các đời vua Nhà Nguyễn, như những ông có họ Vĩnh, Bảo,Tôn thất,…để xứng đáng dòng họ nhà vua ? Mà ông Liên Thành sao không có? Cứ  ngẩn mặt lên, trắng sát đôi mắt sau cập kính cận, nhìn đăm đăm về phía trước, đưa tay lên, xuống cùng lời nói xàm, nói bậy, nói huyên thuyên…một âm duy nhất Tri Quang là Cộng Sản, Đôn Hậu là Cộng Sản, không ngớt, không cho ai phát biểu trong lúc ra mắt sách BĐMT. Qua đó cho ta thấy ông LT dùng cụm từ “BĐMT” đặt tên cho cuốn sách, là một mánh khóe để lường gạt dân Việt hải ngoại tò mò mua sách. Mua nhiều, được tiền nhiều, cho việc sinh sống, nếu không nói là cách làm ăn bất lương.Thay vì đem lời rao sách: “ Sách này hay lắm quý vị ơi, mua đi, mua đi..” Thì ông Thành lại nói “ Phong trào đòi bầu cử QHLH mà PGVN phát động năm 1966, là do CSVN chỉ đạo, Thích Trí Quang là CS, Đôn Hậu là CS”, để đánh vào tâm lý người Việt hải ngoại, từ lâu cứ nghe các ông Cần Lao Thiên Chúa rêu rao rằng Đệ II VNCH bị tan hàng, là do PGVN theo CS, quý HT Trí Quang, Đôn Hậu…là CS. Đúng là tâm như thế nào, hành động và lời nói ở thân tướng như thế đó không sai chạy. Như vậy, sách, mà ông LT ra mắt trước hằng chục cựu quân, cán chinh VNCH tại một số nơi ở CALI, không phải sách văn hóa. Đó là sách Biến Động, bởi vì trong đó, toàn là nói láo, không nói có, có nói không, phịa chuyện xấu, vu khống, chụp mũ CS, bởi cái tâm lăng xăng,...Biến Động Miền Trung của ông Liên Thành là chỗ đó. Trong lúc cộng đồng người Việt hải ngoại, đã và đang đoàn kết một khối trong công cuộc chống CSVN bị CS Trung quốc chỉ đạo từng bước để đồng hóa, trong đó có xâm lược hải phận Hoàng Sa, đất liền biên giới Việt bắc…Thì ông Liên Thành ra mắt sách nói bá láp, bá xàm, đánh phá Phật giáo, vu khống chư Tăng theo CS…làm cho khối người Việt Thiên Chúa, Phật Giáo bị biến động tâm tư, mất đoàn kết, do ông LT gây ra, tạo ra không khí biến động đó, làm sao có thể giải trừ được CSVN, để đuổi CS Trung Quốc ra khỏi Hoàng Sa ?

 

     CÁC GIỚI CHỨC CỘNG SẢN VIỆT NAM

     BIẾT HT TRÍ QUANG THÂN MỸ

Sau 30.04.75, chúng tôi đã bị đi cải tạo nhiều năm tại các trại cải tạo Nam, Bắc. Được về tháng 9 năm 1987. Khi về Sài Gòn được vài hôm, thì mấy huynh đệ cũ ngày xưa đến thăm. Chủ đề hàn huyên tâm sự toàn là những chuyện Chư Tôn Giáo Phẩm đang còn trong tù, vị được thả ra, vị còn, vị viên tịch, Giáo hội mới, Giáo hội cũ… Tất cả cũng chỉ vì thân Mỹ, thân các Tướng, Tá Viên chức chính quyền VNCH ngày xưa, bị cộng sản biết được, bắt vào tù, thủ tiêu, ép buộc lập thành lập GHPGVN theo sự điều khiển của họ. Nghe vậy, một huynh mới hỏi rằng: “ CSVN ở trong rừng, ngoài Bắc, làm sao họ biết quý Hòa Thượng, Thượng Tọa lãnh đạo GHPGVNTN của mình thân Mỹ, thân chính quyền VNCH ?”.

Một huynh cựu tù cải tạo nói rằng; làm sao họ biết … Toàn thể các huynh cười ngất. Thì một sư em mới nói: “sống với hưu nai trong rừng hèn chi ngớ ngẩn, không biết gì như con nai vàng ngơ ngác”. Một huynh khác hỏi ông bạn ở tù mới về, có biết ông Long người Huế hay không? Ông bạn trả lời: “ Ông ấy thường có mặt bên cạnh HT Thích Thiện Minh tại Tổng Vụ Thanh Niên, đường Công Lý”. Rồi hỏi tiếp có biết ông Đỗ Trung Hiếu hay không?  Ông bạn trả lời: “ ông Hiếu là dân cư  Hòn Khói- Ninh Hòa. Ngày Xưa ông Hiếu có một lúc ở dưới nhà Nhang chùa Hải Đức, đi học trường Võ Tánh Nha Trang cỡ năm 1958-1959. Vài  năm sau, ông Hiếu vào Sài Gòn làm giáo sư dạy toán, lý, hóa tại trường tư thục Nguyễn Công Trứ”.

   Một huynh cựu trào Sài Gòn, lên giọng với âm thanh dõng dạc “chính hai ông Long, Hiếu” là người biết rõ quý Thượng Tọa, HT của mình, vị nào có đệ tử là Tướng, Tá, vị nào có đệ tử là Viên chức chính quyền VNCH, vị nào thường gặp các Tướng QLVNCH, vị nào được các giới chức Mỹ đến gặp. HT Thiện Minh đến gặp Tướng Nguyễn Khánh tại Dinh Thủ Tướng ở đường Thống Nhất, ngày nào, giờ nào, nói gì… mà ông Long chả biết. Rồi sau đó HT Thiện Minh đến Bộ Tư Lệnh Không Quân ở Tân Sơn Nhất vào giờ nào, nói gì với Tướng Nguyễn Cao Kỳ vào giữa năm 1966, mà ông Long chả biết. HT Thích Trí Quang được các giới chức Tòa Đại Sứ Mỹ tiếp chuyện nhiều lần ở ẤN QUANG mà ông Hiếu chả biết! Nhiều ông như ông Long, Ông Hiếu. Nội hai ông đó, mà chư vị HòaThượng, Thượng Tọa mình, cũng đủ ê càng. Cho nên khi quý Ngài của mình bị công an bắt vào nhà tù Chí Hòa, Phan Đăng Lưu sau 30-04-1975. Trong lúc hỏi cung họ đặt để hồ sơ của quý Ngài trước mặt họ, rồi họ đọc lên những việc làm quý Ngài có liên đới với Mỹ, với các tướng tá QLVNCH. Làm cho quý Ngài phải nói là có thật. Hai ông Long, ông Hiếu bây giờ (tháng 9-1987) họ đang là nhân viên Ban Tôn Giáo Trung Ương trong Mặt Trận Tổ Quốc. Mấy ông đó là đặc công tình báo CSVN, họ biết quý T Tọa, HT mình thân chính quyền VNCH, thân Mỹ, thì các cán bộ cao cấp ở Hà Nội cũng biết luôn”.

   Huynh cựu trào Sài Gòn vừa ngưng trong mấy giây, thì một huynh khác nói rằng : “HT Thiện Minh bị chết trong nhà tù, quý HT, T Tọa đang bị trong tù, đang bị lưu đày xa xứ như HT Quảng Độ bị đày ra Thái Bình, HT Huyền Quang bị giam lỏng ở chùa Hội Phước, Quảng Ngãi, còn HT Trí Quang bị họ quản thúc ở Ấn Quang. Họ sợ Ấn Quang là tai mắt quốc tế, họ đưa về Già Lam. Tất cả đều do các cấp lãnh đạo chóp bu chính phủ Hà Nội ra lệnh cho Bộ Công An B Sài Gòn thi hành”.

   Đến năm 1991, chúng tôi lên đường sang Mỹ định cư theo diện HO. Mãi đến năm 2001, chúng tôi bắt gặp một tập tài liệu có nhan đề “THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO VIỆT NAM”. Tác giả Đỗ Trung Hiếu – năm 1994. Trong đó có nhiều phần, phần mà chúng tôi phải đọc tới đọc lui và làm cho chúng tôi tư duy, đó là lời của mấy ông cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nói HT Thích Trí Quang là CIA chiến lược.

   Để cho quý Phật tử hải ngoại được biết, chúng tôi trích một đoạn đối đáp giữa ông Đỗ Trung Hiếu (có bí danh là Mười Anh) và ông Xuân Thủy sau đây:

   Cụ Xuân Thủy trầm ngâm hỏi đi hỏi lại nhiều việc và những nhân vật Phật Giáo. Bổng cụ nhìn tôi hỏi:

-Anh nghĩ thế nào về Thượng Tọa Thích Trí Quang?

-Thưa bác, đây là một nhà Sư uyên thâm Phật Học, hoạt động chính trị thông minh.

-Quan điểm chính trị của Thượng Tọa Thích Trí Quang ra sao?

-Thưa bác cháu biết Thượng Tọa Thích Trí Quang từ năm 1959. Trong phong trào Phật Giáo đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963, Thượng Tọa là linh hồn của phong trào và của Phật Giáo miền Trung và sau đó là nhà chiến lược của GHPGVNTN. Thượng Tọa đứng trên lập trường dân tộc. Nhưng ý anh Tư Ánh (Trần Bạch Đằng) khác cháu.

-Trần Bạch Đằng nói sao? Lời ông Xuân Thủy.

-Anh Tư Ánh nói Thượng Tọa Thích Trí Quang là loại CIA Chiến Lược. Cháu hỏi bằng cớ? Anh Tư Ánh nêu những sự kiện: Năm 1964 trận lụt ở miền trung, quân giải phóng chuẩn bị nhổ các đồn bót QLVNCH. Thượng Tọa Thích Trí Quang nêu khẩu hiệu “GHPGVNTN CỨU LỤT.” Cờ năm sắc trên các ca nô, tàu, máy bay trực thăng cứu sạch lính VNCH. Cũng năm 1964, nhân dân phẫn nộ trước chính quyền quân phiệt Thiệu Kỳ, MTGPMN nêu khẩu hiệu chống quân phiệt để đẩy mạnh phong trào đô thị, Thượng Tọa Thích Trí Quang lập “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” (HĐNDCQ) Miền Trung đòi bầu cử QHLH chính phủ dân sự, gom hết quần chúng về phía mình và đạp xẹp khẩu hiệu của ta. Năm 1965, Mỹ đổ quân trắng trợn xâm lược miền nam VN, MTGPMN đẩy mạnh phong trào chiến tranh cách mạng chống Mỹ. Thượng Tọa Trí Quang nêu khẩu hiệu “Cầu Nguyện Hòa Bình” làm hạn chế cuộc đấu tranh chống Mỹ của ta. Cháu cho rằng những điều đó chưa đủ thuyết phục vì mỗi người có thể hiểu một cách khác theo vị trí của mình.

   Anh Tư Ánh mỉa mai: “đi tìm bằng cớ ư?” còn khuya. Cỡ tình báo chiến lược chỉ có trung tâm CIA ở Washington DC và Lầu Năm Góc mới xác nhận được. Cháu vẫn chưa tin Anh Tư Ánh nói anh út (Nguyễn Văn Linh) giận Thích Trí Quang lắm, vì MTGPMN chưa hề thua ai thế mà bị Thích Trí Quang cho đo ván ba lần. Ba lần đó Thích Trí Quang cứu Mỹ, QLVNCH một cách nhẹ nhàng. Bao nhiêu triệu dollars mới trả nổi những đòn chiến lược đó.

   Quả thật năm 2008, chúng tôi được đọc tài liệu “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam”, được thấy rõ thêm chư vị Thượng Tọa, Hòa Thượng VHĐ, GHPGVNTN nói chung, HT Trí Quang nói riêng, đã thật sự có liên đới với các giới chức Tòa Đại Sứ và CIA Mỹ trước 1975, cho nên bị CSVN sát hại giam cầm tù đày xa xứ, không cho quý Ngài dự bất cứ chức vị nào trong  Giáo Hội Phật Giáo VN (mới sau 30-4-75) .HT Trí Quang bị họ giam lỏng và quản thúc tại chùa Ấn Quang rồi Già Lam đúng như lời của các giới chức CIA và Tòa Đại Sứ Mỹ đã nói ở trang 3 (tổng số 31 trang tài liệu) mà chúng tôi đã trích ra thống kê  14 đoạn.  HT Trí Quang  đang bị nhà cầm quyền CSVN quản thúc tại chùa Ấn Quang, rồi chùa Già Lam Gò Vấp sau 30-4-75, luôn có Công An ngồi trước cửa.

Sở dĩ CSVN không giam Ngài Trí Quang vào nhà tù lâu năm như quý Hòa Thượng, Thượng Tọa  khác hay đày ra Huế, lại đặt để ở chùa Già Lam Sài Gòn, là vì nhắm vào Ngài như một con tin để rình mò tóm bắt thêm nhiều chính khách chính trị đa dạng khác từ mọi phía trong nước, ngoài nước đến để móc nối tư tưởng chính trị của Ngài. Cũng như để lừa dối toàn dân Việt trong và ngoài nước tưởng lầm HT Trí Quang đã làm xong vai trò cố vấn chính trị cho CSVN, giành được độc lập, thống nhất đất nước rồi nên ngồi im. Nếu vậy CSVN quá khôn và quá ác ở việc quản thúc HT Trí Quang như một cách làm cho cộng đồng Phật Giáo bị giảm đi tiềm lực lục hòa, đánh phá nhau, phân hóa chia rẽ nhau là một sách lược. Đã có người trong giới Phật tử nói HT Trí Quang làm xong vai trò. Nói như vậy là nói bậy, do không chịu đọc tài liệu “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam.” Đọc trong đó ta mới thấy người CSVN quá sợ HT Trí Quang, bởi vì HT Trí Quang là linh hồn của dân tộc nói chung, Phật Giáo nói riêng và được ảnh hưởng ra tận các nước Phật Giáo hải ngoại, cũng như được sâu rộng vào các giới chính trị quốc tế. Điều đó được các giới chức Tòa Đại Sứ Mỹ và CIA nói trong tài liệu:

“Trước sự vô cùng sững sốt của Tòa Đại Sứ Mỹ và giới lãnh đạo quân sự miền Nam,Tướng Khánh không muốn liều lĩnh đương đầu một mất một còn với Trí Quang. Theo quan điểm của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, những đòi hỏi của Trí Quang được dân chúng tin theo quá nhiều, khiến Khánh không thể làm ngơ, Khánh cảm thấy không còn lựa chọn nào hơn, là phải chấp nhận, vì thanh thế của Trí Quang lớn đến nỗi, ông không những có thể sách động dân chúng chống chính phủ, mà còn tác động lên hiệu năng của toàn quân.”

 

LÝ DO  NÀO THIÊN CHÚA GIÁO TIẾP TỤC ĐÀN ÁP PGVN  ?

   Chúng tôi dư biết các giới Thiên Chúa Giáo VN, đã và đang đem tâm hận thù Phật Giáo VN muôn kiếp, không đội trời chung với Chư Tăng, Ni các cấp, Phật tử VN các giới trong và ngoài nước. Là vì hai lý do sau đây: Một, Chư Tăng, Ni, Phật tử các giới trong QLVNCH và ngoài dân, đã làm cuộc Cách Mạng lật đổ chế độ Đệ I VNCH Thiên Chúa Giáo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cái chết của anh em ông Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Hai, Chư Tăng trong Hội Đồng Lưỡng Viện – VHĐ - GHPGVN TN tại quốc nội trước và sau 1975, cho tới nay 2016…, luôn chỉ cho toàn thể dân tộc VN qua nhiều thế hệ, được biết rõ Đệ II VNCH Cần Lao quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu, đã đàn áp và tiêu diệt phong trào đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của Phật Giáo Việt Nam năm 1966, không để cho PGVN kiến tạo một chỉnh thể VNCH được tự do, dân chủ, nhân quyền theo mô thức của chính phủ Hoa Kỳ do dân ứng cử, bầu cử mà các viên chức Tòa Đại Sứ Mỹ đang chờ đợi phong trào được thành tựu. Dư Đảng Cần Lao và ông Thiệu đã phá vỡ phong trào đòi bầu cử QHLH của Phật Giáo. Sau đó Cần Lao tổ chức bầu cử quốc hội giả tạo, theo kiểu “ao thả vịt.” Cuối cùng quân phiệt, vẫn hoàn quân phiệt, Diệm vẫn là Diệm, Cần Lao vẫn cần Lao, là cái nhân đưa đến cái quả, Đệ II VNCH Thiên Chúa Giáo bị Hoa Kỳ chán ghét, bỏ rơi và bị tan hàng trước lực lượng cộng sản VN luôn đói khổ, ăn bờ, ngủ bụi mà lại thắng VNCH ! Để chứng minh cho toàn dân VN hải ngoại được thấy Cần Lao trong chính phủ quân phiệt Thiệu Kỳ, không dám tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến qua lờnhận định của ông Hughes, được các giới tổ chức CIA Mỹ ghi lại sau đây:

   Theo lí luận của Hughes, được tìm thấy trong những “mối bất bình đối với tập đoàn lãnh đạo Thiệu – Kỳ, một chế độ mà phe Phật Giáo cho là chuyển động quá chậm chạp và miễn cưỡng trong việc hợp pháp hóa tình trạng của nó, như tổ chức tuyển cử quốc gia, và giao quyền điều khiển chính phủ lại cho giới chức dân cử. Nói chung, chế độ này đã đi ngược chứ không đẩy mạnh cuộc cách mạng 1963.” (91).

   Đến khi Tổng Thống Thiệu ký sắc lệnh tổ chức bầu cử QHLH vào ngày 12/4/1966 đến ngày 11/9/1966, Cần Lao tổ chức bầu cử QHLH, nhưng tất cả trí thức Phật Giáo đều bị bắt vào tù, gọi nhập ngũ Võ Bị Thủ Đức. Vì thế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bày tỏ thất vọng không có ứng cử viên Phật Giáo…

   Chính phủ VNCH đè bẹp phong trào tháng Sáu, năm 1966. Khi Bộ Ngoại Giao bày tỏ niềm thất vọng vì không có ứng viên nào từ phong trào tranh đấu Phật Giáo ra tranh cử Quốc Hội Lập Hiến mới, mà việc triệu tập của nó vốn là một nhượng bộ quan trọng do lực lượng đối lập giành được. Lodge trả lời rằng phe Phật Giáo tranh đấu không phải là một “tổ chức đối lập trung thực” và rằng ông chống lại mọi nổ lực có mục đích khuyến khích họ tham dự sinh hoạt chính trị (93). Hầu như Trí Quang và phe Phật Giáo tranh đấu đứng ngoài sinh hoạt chính trị Miền Nam cho đến ngày VNCH không còn tồn tại.

Thật sự, phe Phật Giáo không đứng ngoài sinh hoạt chính trị, mà do vì không có cán bộ chính trị như Thiên Chúa giáo. Hơn nữa, bản chất của Phật Giáo là xuất thế gian, cho nên ông Đại Sứ Cabot Lodge nói Phật Giáo đứng ngoài vòng sinh hoạt chính trị là quá đúng. Qua hai đoạn văn trên, toàn thể dân tộc Việt Nam hải ngoại đã thấy đệ II VNCH Cần Lao bị tan hàng vào 30-4-75, là do miền Nam Việt Nam không được có một chính thể Dân Cử, chỉ là chính thể VNCH Thiên Chúa ! Đúng thật, Thiên Chúa Giáo có một khối chính trị gia lỗi lạc như ông Ngô Đình Nhu , thì lại trong chức vụ cầm quyền, chỉ chuyên lo cho Đạo Chúa của ông, không lo xây dựng một nước Việt Nam tự do, dân chủ, hoàn toàn chỉ lo cho đạo Chúa của họ. Người Việt hải ngoại đã biết điều đó chưa? Hay còn nghi ngờ do Phật Giáo, do Hoa Kỳ phản bội người Việt Nam mà không thấy toàn dân miền Nam (quân, cán chính và ngoài xã hội) đang ước mơ được có một chính thể Dân Cử, là động cơ thắng cộng sản? Lại để cho người Mỹ trong các cơ sở CIA và Tòa Đại sứ Mỹ thấy niềm mơ ước của toàn dân, nhưng bị tan tành bởi Cần Lao đàn áp, tiêu diệt phong trào năm 1966.

       Lời ông MoYar hối tiếc dùm :

   “Chính quyền Johnson và Trí Quang lẽ ra có thể đã xây dựng được một mối quan hệ phong phú, một quan hệ khả dĩ vận dụng được sức mạnh của phong trào Phật Giáo để chống lại Bắc Việt và MTDTGPMN, thì điều này vẫn không rõ ràng, và chắc chắn có nhiều lí do để hoài nghi rằng một quan hệ đối tác như thế hoặc là có thể xảy ra hoặc là đáng mong muốn. Tuy nhiên, có một điều hình như ít ai đem ra tranh luận là việc tiêu diệt Trí Quang và phong trào Phật Giáo năm 1966,  đã giảm thiểu hơn nữa những viễn cảnh vốn đã mong manh về một chế độ không cộng sản được lòng dân xuất hiện ở miền Nam.”( toàn dân miền Nam mong muốn …bị Cần lao Thiên Chúa phá nát ).

   Do còn hận thù Chư Tăng (HT Trí Quang), Ni, phật tử VN nói chung trong và ngoài VNCH, ngàn đời chưa dứt, bởi còn nhớ đến cái chết của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963, cho nên Cần lao tìm mọi cách đánh phá PGVN ở hải ngoại. Điều này được thấy ông Liên Thành cố sức chụp mũ HT Trí Quang là Cộng Sản, chỉ có Cần Lao, Thiên Chúa như Liên Thành và những ai chưa nghe, biết đến Tướng Kỳ lập ra đài phát thanh sặc mùi Cộng Sản để gán ghép phong trào Phật Giáo theo Cộng Sản, mới đem lòng tin. Chứ hằng trăm ngàn Phật tử hải ngoại, xem lời ông vu khống Phật Giáo chúng tôi theo Cộng Sản, đều bỏ ngoài tâm, vứt lời ông Liên Thành vào hầm xí! Bởi vì ai cũng thấy ông Liên Thành là người buôn hàng đánh phá Phật Giáo. Điều đó được chứng minh qua lời rao hàng của ông sau khi ông Nguyễn Hữu Đĩnh, cựu Đại Úy cảnh sát khóa 3 Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, đã đem lời hỏi ông rằng; giữa những điệp viên CSVN như Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Cao Thăng, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Hữu Hạnh trong Đệ I, Đệ II VNCH và các sư thì ai là người làm cho chính thể Đệ II VNCH bị sụp đổ? Thì ông Liên Thành không dám trả lời , cứ tập trung lời lẽ vu khống hai HT Thích Đôn Hậu, HT Thích Trí Quang chúng tôi là Cộng Sản.Vì đang rao bán món hàng vu khống các Hòa Thượng trong Phật Giáo là CSVN, làm sao mà nói ngược lại được ! Sau đó ông Định Nguyên (Nguyễn Hữu Đĩnh) đem lời yêu cầu ban tổ chức nhắc lại câu hỏi, thì ông Liên Thành cũng lờ đi, rồi lời lẽ “bổn cũ soạn lại, ra rả Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu là CSVN…” ( phỏng theo “Huế Ơi Oan Nghiệt. Bảo Quốc Kiếm, trang 429-430).

Qua lời chứng minh trên, ông Liên Thành đã nhận chịu cha của “thằng buôn hàng đánh phá Phật Giáo” hay chưa? Ông Liên Thành là người thuộc dòng họ vua, quan nhà Nguyễn, có cội gốc Phật Giáo, có văn hóa tổ tiên VN, sao ông lại ăn nói ác đức đối với Chư Tăng Phật Giáo chúng tôi bằng lời dơ nhớp của ông ? Chỉ có những con buôn chính trị, buôn tôn giáo như ông Liên Thành và các ông Cần Lao, mới sử dụng vô số ngôn ngữ thối tha, tanh hôi đó...!!!

Việc triều chính trong chính quyền, quân đội VNCH, không lo quốc phòng, cấu kết nhau tham nhũng, buôn lậu,…Nhưng các quân binh chủng QLVNCH ngoài chiến trường đã đánh thắng quân đội CSVN nhiều trận lớn từ 1964 đến cuối năm 1974. Trong khi đó các viên chức chính trị gốc Cần lao ở hậu phương ôm hết 3 cơ quan Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp. Như Nguyễn Bá Cẩn Thiên Chúa làm chủ tịch Hạ Viện, Cần Lao Trần Văn Lắm làm cả hai chức Bộ Trưởng Ngoại Vụ và chủ tịch Thượng Viện. Các Tướng Tá Cần Lao thì tranh giành quyền chức, buôn lậu, phó mặc cho các đơn vị chủ lực trên 4 vùng chiến thuật, đa số do các Tướng, Tá Phật Giáo chỉ huy, ra sao đó thì ra với quân đội CSVN, họ bất biết. Như tiểu đoàn TQLC, do Đại Tá Bảo (Phật tử ) chỉ huy đánh vào Cổ Thành Quảng Trị năm 1972. Đại Tá Lê Trung Tường (Phật tử ) Pleiku chỉ huy đánh Du kích CSVN ở đồi Chupao và rừng dừa Tam Quan Bồng Sơn vào mùa hè đỏ lửa 1972  được thắng trận cả hai nơi ấy, được TT Thiệu thăng cấp Chuẩn Tướng. Nhiều Tướng, Tá Phật tử đã đánh thắng quân đội CSVN như vậy, không thể kể ra hết được.

NGƯỜI TRÍ KHÔNG NÓI THEO KẺ VÔ TRÍ.

Người viết muốn nói đến toàn thể dân tộc Việt Nam Tam Giáo và người Thiên Chúa Giáo Việt Nam tiến bộ, đều là người TRÍ, cho nên đã và đang thấy được những ông Cần Lao Thiên Chúa Giáo Việt Nam cực đoan hải ngoại, đang khơi lại biến cố xưa của PGVNTN tranh đấu chống chế độ Thiên Chúa trị của anh em ông Diệm năm 1963 và cuộc Binh Biến miền Trung 1966. Trong đó được thấy các ông Cần Lao viết bài mang nội dung chửi bới, phịa chuyện xấu vu khống, chụp mũ chư Hòa Thượng, Thượng Tọa Phật Giáo là cộng sản qua báo chí như tờ Sài Gòn Nhỏ, trên các diễn đàn điện tử hải ngoại, nhằm mục đích đổ thừa cho Phật Giáo theo Cộng Sản làm tan hàng chính thể Đệ II VNCH, chứ không phải do họ (Tướng Tá Cần Lao), để chạy tội ngày xưa trước 1975 là cấu kết nhau tham nhũng, ôm hết quyền hành tư pháp, hành pháp, lập pháp, không lo quốc phòng, chỉ lo xây dựng nước Chúa, trong đó rước tình báo Cộng Sản vào Dinh Độc Lập.

Người trí thức VN, ai cũng thấy tập đoàn Thiên Chúa Giáo VN cực đoan trong quân đội, hành chánh VNCH và trong xóm Đạo, đã làm mất chính thể Đệ II VNCH vào tay Cộng Sản VN. Nay ra Hải Ngoại, lại to mồm nhiều lời ác đánh phá Phật Giáo, gây cho tín hữu hai bên Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo người Việt trở lại hận thù, oán ghét nhau. Vậy mà cứ hô to lời đoàn kết, đoàn kết để chống Cộng Sản VN, đuổi Trung Quốc.

   Các ông Cần Lao Thiên Chúa Giáo VN cực đoan Hải Ngoại, cấu kết nhau đánh phá PGVN trong và ngoài nước như vậy, đâu có ích lợi gì cho cộng đồng người Việt Hải Ngoại! Nếu không nói rằng; chỉ có lợi cho những con buôn tôn giáo, dựa vào lời đánh phá của các ông Cần Lao, mà ra sách để thương mãi, như hai ông NHÂM và LIÊN THÀNH, được điển hình rõ nét.

Với những người VÔ TRÍ, mới tin theo lời các ông Cần Lao đánh phá Phật Giáo, và tin theo lời rao hàng của ông Nhâm trong sách GTC và BĐMT của ông Liên Thành là thật. Người TRÍ nhìn qua là biết các ông Cần Lao chạy tội, ông Nhâm ông Liên Thành vừa là con buôn, vừa là chạy tội dùm cho tín hữu Ki Tô giáo nói chung, cựu Cần Lao nói riêng đã làm tan chính thể Đệ II VNCH do rước tình báo A22- CSVN vào Dinh Độc Lập.

   Người viết cũng xin có mấy lời nhắn nhủ đến một số nam, nữ các giới đến chùa, đi chùa (khác với về chùa). Trong đó có một số ông và bà có đeo hoa sen trắng GĐPT, có THƠ, có VĂN... được gọi là trí thức. Mà cớ sao lại nói theo lời ông NHÂM, ông LIÊN THÀNH rằng; HT Thích Đôn Hậu, HT Thích Trí Quang... là cộng sản ?.

   Chỉ có những người vô trí thức (dù cho có văn, thơ, vẫn là vô trí thức, mới tin theo lời rao hàng đánh phá Phật Giáo của hai con buôn hàng đánh phá Phật Giáo: Đặng Văn Nhâm và Liên Thành.! 

MỘT SỐ ĐÔNG CẦN LAO VÀ GIÁO DÂN

THIÊN CHÚA LÀM SỤP ĐỔ ĐỆ II VNCH.

 

   Một số Tướng, Tá Cần Lao và tín hữu Công giáo đã tạo ra nhiều nguyên nhân xấu ác suốt 12 năm, hợp lại thành cơn bão ác lớn có sức mạnh cuốn đi Đệ II VNCH rất nhanh trong vòng 50 ngày lẻ vào cuối xuân 1975. Nhiều nguyên nhân ác cơ bản sau đây : Một. Cần Lao Nguyễn Khánh đem quân chỉnh lý chính phủ Dương Văn Minh vào ngày 30-1-1964, được sự ủng hộ của đảng Đại Việt, trong đó có các tướng lãnh Thiên Chúa Giáo gốc Cần Lao còn thương tiếc anh em ông Diệm, cho nên Tướng Khánh tuân lệnh Cần Lao bắt hết các Tướng Lãnh trong HĐQNCM, đem nhốt nhiều nơi, với mục đích đi lại vết xe cũ của TT Diệm, làm cho chính phủ Hoa Kỳ, Tòa Đại Mỹ Sứ Sài Gòn tưng hửng, nghẹn ngào trong im lặng, không đồng ý môn đệ anh, em ông Diệm (Cần lao) lên cầm quyền, sẽ làm hư kế hoạch ĐÔ MI NÔ của Hoa Kỳ. Kể từ đó chính phủ Hoa Kỳ mất cảm tình đối với các cựu Cần Lao điều hành chính quyền, chỉ còn một chút hy vọng ở các Tướng, Tá Phật Giáo trong QLCNCH chỉ huy quân đội ở tiền tuyến. Do đó Hoa Kỳ vẫn tiến hành kế hoạch Đô Mi Nô, đưa Quân Lực Hoa Kỳ vào Nam VN vào ngày 20-6-1964 sau khi CIA đã biết được nghị quyết của Đại Hội IX của Đảng Lao Động VNDCCH Bắc Việt vào tháng 12-1963, sẽ tích cực chiến tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, do các ông Lê Duẫn, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ thống nhất bằng vũ lực. Đến tháng 2-1964, Lê Đức Thọ tuyên bố chương trình chính huấn đối với quân, cán chính, rồi đưa vào Nam cùng lúc là sư đoàn 9 Bắc Việt đầu tiên tại Tây Ninh năm 1964. Vì thế Hoa Kỳ mới đưa Quân Lực Mỹ vào Nam VN ngày 20-6-1964 là như vậy. Đến ngày 8-9- tháng Ba,1965, Hoa Kỳ đưa thêm hai trung đoàn Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào Đà Nẵng. Từ đó số lượng Quân Lực Hoa Kỳ tại Nam VN lên đến hằng nghìn quân bên cạnh QLVNCH để tiếp sức ngăn chặn quân đội Bắc Việt đang có ngay tây Nam Sài Gòn. Ấy thế vậy mà, trong khi đó các Tướng, Tá Cần Lao và tín hữu Ki Tô Giáo VN trong lãnh vực chính trị không hay biết gì đến Bộ đội Bắc Việt vào Nam, chỉ có Hoa Kỳ quan tâm thấy được liền đưa quân vào Nam VN, còn tập đoàn Cần Lao chuyên làm nhiều cuộc đảo chánh liên tiếp như đã nói ở những trang trước, để củng cố quyền lực trong việc tái lập lại chế độ Diệm.

Biết và nghe chính phủ Hoa Kỳ không chấp nhận mình, lại bị sinh viên, học sinh xuống đường biểu tình phản đối vào  ngày 16-8-1964. Đến 29-10- 1964, Nguyễn Khánh từ chức, xé Hiến Chương Vũng Tàu, bỏ vào sọt rác, cạo râu, ngồi im chờ thời. Thời mới đến với ông, là ra đi làm Đại Sứ vĩnh viễn ở xứ người.

 

                              NỖI LÒNG CỦA  CÁC GIỚI  CHỨC HOA KỲ TRƯỚC

                                    TẬP ĐOÀN CẦN LAO GÂY XÁO TRỘN CHÍNH TRỊ

                                    TẠI NAM VN SUỐT 9 NĂM.

 

1- Các giới chức Mỹ, ai cũng nghẹn ngào trước hành động Nguyễn Khánh chỉnh lý Dương Văn Minh chưa nguôi hẳn, thì lại thấy có nhiều cuộc đảo chánh tiếp. 2- Một cuộc đảo chánh do một số đoàn thể tín hữu Thiên Chúa thực hiện vào ngày 13 tháng Chín, 1964, nhưng không thành. 3- Tướng Cần Lao Lâm Văn Phát, Nguyễn Bảo Kiếm, tình báo CS Phạm Ngọc Thảo làm đảo chánh với sự tiếp tay của một số đoàn thể Ki Tô Giáo nhưng, không thành. Chính cuộc đảo chánh của Tướng Phát, là có CSVN tiếp tay và vùng lên sau đó, mặc dù Phạm Ngọc Thảo đã bị ANQĐ giết chết, vẫn vùng lên giữa đô thành Sài Gòn. Điều này được thấy một Phong Trào Dân Tộc Tự  Quyết Miền Nam Việt Nam, trụ sở đặt tại đường Võ Tánh và ra mắt vào tháng 2-1965. Chủ Tịch là Bác sĩ Phạm văn Huyến, nguyên là Đặc Ủy Di Cư năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, rồi làm cố vấn tư pháp cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Qua đây cho ta thấy anh, em ông Diệm đã đưa CSVN vào các cơ cấu VNCH. 4- Lực lượng Đại Đoàn kết Ki Tô Giáo biểu tình chống chính phủ Phan Huy Quát vào ngày 27 tháng Năm, 1965. 5- Một phái đoàn đại diện các đoàn thể chính trị Công Giáo vào Dinh Gia Long gặp Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bày tỏ bất tín nhiệm Thủ Tướng Phan Huy Quát, Cùng lúc bên ngoài họ biểu tình la hét mất trật tự, hô hào chống chính phủ Phan Huy Quát. Đám biểu tình chiếm Dinh Gia Long, ăn, uống, vất đồ bừa bãi như chỗ không người. 6- Tháng 2-1966, chính phủ Cần Lao quân Phiệt Tướng Thiệu đã đàn áp thật nặng nề đối với phong trào Vận động bầu cử Quốc Hội Lập Hiến do GHPGVNTN phát động tại Đà Nẵng, Huế đề xây dựng một chính thể VNCH dân chủ. 7- Đến ngày 15-5-1966 Tướng Kỳ đem hai đơn vị Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến ra Huế, Đà Nẵng đàn áp phong trào đòi bầu cử QHLH được thông qua Tổng Thóng Thiên Chúa Nguyễn Văn Thiệu. 8- Sau đó Tướng, Tá Cần Lao đua nhau bắt giam hằng trăm Sĩ quan gốc Phật Giáo đem giam vào nhà tù, và đày vào tận miền Tây (Trung Tâm Huấn Luyện- Trần Quốc Tuấn Cao Lãnh). 9-Các TƯỚNG, TÁ và các trí thức chính trị Cần Lao trong chính phủ TT Thiệu, tự đưa TT Thiệu lên ngôi TT nhiệm kỳ hai vào ngày 3 tháng Mười, 1971. không cho người khác ứng cử, không để dân đi bầu tự độc diễn lên ngôi Tổng Thống. 10- Tất cả trí thức Thiên Chúa Giáo trong chính phủ Đệ II VNCH  của TT Thiệu, chia nhau ôm hết các cơ quan trọng yếu như Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp, chủ tịch Hạ viện là Cần Lao Nguyễn Bá Cẩn,  CT Thượng Viện và Ngoại Trưởng là Cần Lao Trần Văn Lắm. Các Bộ Trưởng, Thứ Trưởng khác, Nha, Sở v.v…toàn là Thiên Chúa Giáo, suốt gần 9 năm, không cho các giới trí thức Phật Giáo tham gia triều chính bằng cách bắt nhập ngủ, giam vào nhà tù, và bát đơn ứng cử Dân Biểu.

Tất cả hiện tượng biểu tình của giới Thiên Chúa Giáo nói chung, đã gây rối loạn xã hội trên toàn Miền Nam, làm biến động tình hình chính trị trong các chính phủ lên, xuống lia lịa tại Nam VN từ 30 -1 1964, cho đến 12-6-1965, thời điểm Thủ Tướng Phan Huy Quát trao chính quyền VNCH lại cho quân đội, một Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia ra đời do hai Tướng Thiệu Kỳ thành lập như vậy. Chính phủ Hoa Kỳ trung ương ở Washington DC và Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn đều biết hết tất cả ngọn ngành xuất phát, do tập đoàn Ki Tô Giáo trong, ngoài chính phủ Quân Phiệt Cần Lao ông Thiệu. Mỹ không nhúng tay vào, để mặc nhiên cho các giới quân sự, chính trị VNCH tính chuyện với nhau. Nói khác hơn, Hoa Kỳ đang bận rộn đổ quân vào Nam VN vào ngày 20-6-1964, mà Tướng William Westmoreland là tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Nam VN. Tướng Taylor thay thế Cabot Lodge làm Đại Sứ  Hoa Kỳ tại VN. Hai Tướng, một ở lãnh vực quân sự là Westmoreland, một ở lãnh vực chính trị là Taylor. Qua đó cho ta thấy chính phủ Mỹ chỉ nhắm vào quân sự hơn là chính trị. Nếu không nói là Hoa Kỳ mở đầu chiến lược mới của Hoa Kỳ về chiến tranh tại VN, cho nên mới gác những “chính biến” ấy qua một bên, để xem “con tạo chính trị Cần Lao xoay vần đến đâu, chỉ quan tâm hàng đầu về QLVNCH, còn việc chính biến ấy sẽ tính sau, chứ không phải bỏ qua. Những trang sử đã ghi rõ như vậy, các ông Cần Lao và tín hữu KiTô Việt Nam cực đoan ở hải ngoại, còn to mồm đổ hô Đệ II VNCH bị tan hàng do Phật Giáo nữa, hay không ?

 

       

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA HÙNG MẠNH.

 

   Phải công nhận các binh chủng chủ lực các Sư đoàn Bộ Binh, TQLC. Nhảy Dù, BĐQ, LLĐB và ĐPQ của QLVNCH trên khắp 4 vùng chiến thuật rất mạnh, thường làm chủ chiến trường 70%, đẩy lui nhiều đợt tấn công lớn của các đơn vị chủ lực bộ đội Miền Bắc, MTGPMN, kể từ tháng 9-1965, là thời điểm được có Quân Lực Hoa Kỳ đang ở bên cạnh. Do đó có những trận đánh thật là ác liệt, cho đến nỗi, khiến cho Đức Giáo Hoàng Paul VI phải lên tiếng kêu gọi hai bên VN nên ngưng chiến vào ngày 11 tháng Hai, 1965.

    Không những chỉ ở cái thuở ban đầu ân tình ấy với những người lính Mỹ và VNCH, mới có những trận đánh lớn với quân đội CSVN vào tháng Chín, 1965 ! Mà hằng loạt trận đánh lớn trước đó đã có, thì nay được tiếp tục mạnh hơn nữa trong những năm dài tháng rộng, từ 1965, cho đến 1973 sau Hiệp Định Paris càng đánh lớn, vì quân đội anh em Bắc Việt vi phạm hiệp định đình chiến. Những trận đánh lớn mang tính lịch sử của QLVNCH, đã được thống kê và in thành sách. Trong những trận lớn đó, có trận Mỹ Việt cùng hành quân. Có những trận chỉ có TQLC, Nhảy Dù, BĐQ…sô lô một mình, vẫn được thắng lớn, chứ không phải không có lực lượng Mỹ mà mình thua trận, như trận cuối cùng ở rừng cao su Long Khánh của sư đoàn 18 do Tướng Lê Minh Đão chỉ huy đã tiêu diệt trọn một sư đoàn anh em Bắc Việt, chết nằm la liệt trong trạng thái như ngủ say tại rừng cao su, không thấy có vết máu nào trên cơ thể của hằng ngàn đứa con Mẹ Việt Nam còn ngay thơ, chưa đến tuổi thanh niên.

Sở dĩ QLVNCH đang ghì tay súng ngoài tiền tuyến lại tuần tự bị tan hàng trong mùa xuân 1975 như vậy, là do chính phủ Hoa Kỳ trung ương Washington và Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn, từ chỗ mất cảm tình với một số (không vơ đũa cả nắm) Tướng, Tá Cần Lao và các trí thức Công Giáo, đã làm nhiều cuộc đảo chánh, gây xáo trộn, bất ổn xã hội miền Nam từ lúc Tướng Khánh đảo chánh chính phủ Dương Văn Minh 30-1-1964, cho đến suốt hai nhiệm kỳ TT Thiệu, không bao giờ ngưng như đã được thống kê “Mười” trường hợp nói trên, chưa nói đến những việc buôn lậu, Cộng Sản Huỳnh Văn Trọng tập hợp nhau tại Tòa Khâm Huế trong cái gọi là lo chuyện nhà Thờ cho hai Linh Mục Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ, rồi bị CIA đưa danh sách qua Tổng Nha Cảnh Sát, bắt nhốt rồi đem xử tại Tòa Án Vùng Ba Chiến Thuật, mà TT Thiệu không tin, cho rằng do Hoa Kỳ tạo ra, vu khống ông để cắt viện trợ, rút quân. Vì thế cho nên đã làm cho chính phủ Hoa Kỳ trung ương Washington DC, Tòa Đại Sứ Sài Gòn cảm thấy từ chỗ mất cảm tình, cho đến ghét bỏ chính phủ Đệ II VNCH Cần Lao Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu 2 nhiệm kỳ, rồi tìm cách giã từ toàn bộ Quân, Cán Chính Đệ II VNCH. Nói rõ hơn, trong chính quyền TT Thiệu từ trung ương, xuống địa phương thì bị xáo trộn, biến động liên miên như đã nói vừa rồi ở “Mười” trường hợp. Còn tiền tuyến thì cường độ chiến tranh leo thang giữa hai bên quân đội Bắc Nam và lực lượng Mỹ, thật dữ dội mịt mù khói lửa. Phải nói rằng; ở lãnh vực Quân sự và chính trị của Hoa Kỳ lúc bấy giờ bị chìm ngập trong biển đầy cơn sóng bối rối cao độ này, từ 1965, cho đến tháng 4-1967. Cơn sóng bối rối, ở cái nghĩa là, không nói được lời nào trước hằng trăm làn sóng Cần Lao nổi dậy phục thù Phật Gíao, phục hoạt chế độ cũ Ngô Đình Diệm qua những cuộc đảo chánh cho mục đích cướp lại chính quyền, mà các Tướng, Tá Cần Lao đã thông đồng với nhau về âm mưu đó, trước khi giả vờ đứng vào Hội Đồng Quân Nhân Cách Mang Dương Văn Minh. Giả vờ hơn nữa khi biết được Đại Tá Quyền Hải Quân(CL) bị bắn chết ngoài xa lộ do có hành động chống lại. Do đó vai trò cố vấn Mỹ về chính trị VNCH coi như bị đặt ra ngoài hành lang Dinh Độc Lập.

     Bản tánh nhân dân Hoa Kỳ. Các giới chính trị, quân sự cấp cao VNCH ngày xưa đều biết người Mỹ nói chung, các nhân viên Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn, tình báo CIA và cố vấn chính trị, quân sự, họ không bao giờ nói đến những việc sai trái của các giới chính trị, quân sự của các nước đồng minh, trong đó khi tiếp xúc với các cấp lãnh đạo VNCH, việc gì họ đều nói tốt cả. Nhưng họ luôn âm thầm ghi nhận hết tất cả việc xấu, tốt. Đa số xấu nhiều hơn, do vậy họ bắt đầu tìm cách rời bỏ VNCH. Để biết rõ chính phủ Hoa Kỳ tuần tự cắt viện trợ, ra chính sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh do Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Melvin Laird công bố vào tháng 3-1969. Đến ngày 14-5- 1969,  Tổng Thống Nixon đề nghị chương trình 8 điểm cho Việt Nam, chuẩn bị rút quân ra khỏi Nam VN. mở hòa đàm với chính phủ Hà Nội, tiến tới rút quân đơn phương…Không bỏ qua, sẽ tính sau là chỗ đó.

  Tuy nhiên đã lỡ đem hằng ngàn quân Mỹ bên cạnh QLVNCH rồi và cuộc chiến đang xảy ra, thì phải theo, cho đến khi nào không muốn nữa thì tính chuyện phải trái đối với tập thể chính trị gốc Cần Lao nói chung chính phủ VNCH, TT Thiệu nói riêng. trong đó có kế hoạch giao vận mệnh Miền Nam VN lại cho TT Thiệu rồi rút quân. Nhưng vấn đề giao VNCH lại cho TT Thiệu, không phải một sớm một chiều mà có thể được. Phải trãi qua nhiều bước. Bởi vì ra đi trong danh dự, được lòng cả hai bên Hà Nội và Sài Gòn, hơn nữa cả trăm ngàn quân trong cả ngàn căn cứ của các binh chủng trên lãnh thổ Miền Nam, phải tuần tự theo kế hoạch  “vừa đàm, vừa đánh”, để cầm chân quân đội Bắc Việt, cho đến khi hai bên Hoa Kỳ và Hà Nội đạt đến sự thỏa thuận về pháp lý là rút quân. Bước đầu tiên được thấy Tổng Thống Johnson thăm quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam vào ngày 26-10-1966. Đến 16-3-1967, chiến tranh Mỹ Việt hai miền Bắc Nam bộc phát cao độ, cho đến nỗi quân đội Mỹ đã làm chết 250 người dân Mỹ Lai Quảng Nam do tưởng lầm lính Việt Cộng Miền Nam trong lúc hành quân. Đến ngày 1-5-1967. Ông Ellsworth Bunker thay thế Cabot Lodge làm Đại Sứ Hoa Kỳ tại Nam VN.

   Để thực hiện vừa đánh vừa đàm, Đại diện Hoa Kỳ và Hà Nội gặp nhau sơ khởi tại Paris vào ngày 10 tháng Năm, 1967, để thương thảo. Không tiến bộ gì trong 6 tháng đầu. Do vì không đạt được gì ở hòa đàm, cho nên QL MỸ, QLVNCH và quân đội Hà Nội, MTGP tiếp tục đánh nhau thật ác liệt từ tháng 6, 1967 cho đến cuối tháng 12- 1967.

Giữa những tháng 6,7,8,9, 10, 11 và 12 của năm 1967 này, các giới chính trị, quân sự Hoa Kỳ tại Nam VN, bị chìm ngập trong sự xáo trộn chính trị, trong khi đó hằng ngàn người lính QLVNCH trong các đơn vị chủ lực trên Không, dưới đất, cùng với các lực lượng không quân, lục quân Hoa Kỳ, tất cả đang ghì tay súng ngoài mặt trận 24/24 tiến quân đánh lại hai chủ lực Bắc Việt và MTGP đang bắn phá khắp nơi trên khắp 4 vùng chiến thuật. Quân số Hoa Kỳ tham chiến tại Nam VN lúc bấy giờ tăng lên trên 500,000 quân. Không quân Hoa Kỳ tiếp tục không tập Bắc Việt. Thì tập đoàn Cần Lao hậu phương VNCH tổ chức bầu cử Tổng Thống và Thượng Viện. 11 Liên Danh tranh cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống. Chỉ có  Liên Danh quân đội Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đắc cử với 1,638,902 phiếu trong tổng số 4,868,266 hay 30% phiếu. Con số 1 triệu 638, 902, do ban tổ chức bầu cử công bố, chưa chắc đúng. Năm mươi(50) Liên danh ra tranh cử Thượng Viện, thì 6 Liên danh Thiên Chúa Giáo(gốc Cần Lao) trúng cử, dù cho có danh hiệu :1- Nông Công Binh, 2-Bông Lúa, 3-Công Ích và Công Bằng Xã Hội, 4-Đại Đoàn Kết, 5-Mặt Trời, 6-Đoàn Kết Tiến Bộ. Không có trí thức Phật Giáo nào được ra tranh cử, vì bị bác đơn, bắt nhập ngũ, bắt giam vào nhà tù. Tất cả cơ chế, cơ cấu chính phủ Đệ II VNCH của Tổng Thống Thiên Chúa Nguyễn Văn Thiệu, như các nghành Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp, v.v…hoàn toàn do Cần Lao Thiên Chúa Giáo ôm hết. Điều đó được thấy rõ hai ông Cần Lao : Nguyễn Bá Cẩn làm chủ tịch Hạ Viện, Trần Văn Lấm chủ tịch Thượng Viện và Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao VNCH từ đó cho đến những ngày VNCH sắp tan hàng, thì các ông ấy tìm đường chạy trước ngày 30-4-1975.

   Sau những ngày tháng bị chìm ngập trong cái biển chính trị, quân sự Miền Nam VN đầy sóng gió tranh giành chức quyền, khói lửa chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ trung ương và Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn, có lẽ đã thông đồng với nhau, là để cho hai bên quân đội Bắc Việt và VNCH chiến đấu tại miền Nam VN vào ngày 30 tháng Một, 1968(Tết Mậu Thân) để xem bên nào thắng. Vì thế cho nên, lực lượng quân sự Mỹ trên toàn cõi Nam VN đều án binh bất động, ngồi im trong căn cứ để xem hai người lính Việt Nam (Bắc Nam) đấu súng với nhau. Dĩ nhiên, Mỹ không để QLVNCH bị thua CSVN. Hay nói khác hơn, Hoa Kỳ dụ lực lượng CSVN hai miền Nam, Bắc vào nội địa VNCH để tiêu diệt bớt tìm lực, cho hai mục tiêu nhắm đến : Một. Để giảm cường độ chiến tranh tại miền Nam VN xuống thấp nhất sau khi quân CSVN còn rất it và các cơ sở tình báo, đặc công bị phá hủy gần hết. Rõ thật qua mấy ngày ngồi im, các lực lượng Không quân, Lục quân Mỹ khắp nơi, ra quân tiếp sức QLVNCH tảo thanh quân đội CSVN, cho nên các ổ đặc công, tình báo CSVN tại các nội thành Miền Nam VN đã bị phá hủy sạch hết do QLVNCH thực hiện, nhưng tình báo CSVN lại còn nguyên hình trong Dinh Độc Lập, sau lưng TT Thiệu.(đã nói đến phần ông Huỳnh Văn Trọng) họp nhau ở Tòa Khâm Huế).

    Hai. Nói cho Hà Nội biết; Hoa Kỳ không thể thua quân sự với Hà Nội. Điển hình rõ nét qua trận đánh Tết Mậu Thân, quân đội CSVN đã bị tổn thất nhiều về quân số, dụng cụ chiến tranh, tình báo, cơ sở đặc công, v.v…bị tan rã gần đến số KHÔNG bên ngoài Dinh Độc Lập. Nếu để cho quân đội Hà Nội thắng trận tràn ngập miền Nam VN, mà Hoa Kỳ đang còn. Chừng đó Hoa Kỳ không khác nào như quân Pháp bị thua trận với quân lực VNDCCH (Việt Minh) tại Điện Biên Phủ năm 1954! Mặc dù Hoa Kỳ trên đà thắng Hà Nội nhưng, phải rút quân ra khỏi miền Nam VN, do nhân dân MỸ yêu cầu, và, hơn nữa chính phủ Hoa Kỳ xét thấy không còn quyền lợi nào tại VN, cho nên không muốn giúp VNCH nữa, nhưng rút quân trong an toàn và danh dự.

   

Kế Hoạch Mỹ Rút Quân Ra Khỏi Căn Cứ.

   Về mặt an toàn, là trong lúc những người lính Mỹ sắp xếp quân trang cá nhân ra khỏi căn cứ, lên xe, không bị lính CS pháo kích, vì đa số căn cứ Lục quân Mỹ đều ở cách xa thành phố dân Việt, 9, 10 cây số, vùng không có dân cư. Chẳng hạn hai căn cứ Lục quân Mỹ tại núi Hàm Rồng (một sư đoàn) và 1 trung đòan ở Biển Hồ Pleiku. Họ ra đi tuần tự từ tiểu đoàn, trung đoàn một cách an toàn vào cuối năm 1971. Chứ trước đó, vào những năm1967, 68 phi trường Cù Hanh, căn cứ Mỹ Biển Hồ, thành phố Pleiku bị VC pháo kích thường xuyên lúc xế chiều và ban đêm. Như Hội Trường Diên Hồng gần chợ mới bị pháo kích ngay giữa nóc lúc 11 giờ đêm mùa hè 1969, sau khi văn nghệ chấm dứt, hằng trăm quan khách, các sĩ quan các cấp ra về. Một đêm khác vào cuối năm 1969, VC pháo kích vào thành phố Pleiku cỡ 3 giờ chiều, hỏa tiễn rơi trong lề đường Trịnh Minh Thế, không nổ, nó chui sâu xống, rồi quẹo đầu nằm im dưới nền nhà gần đó. Đó là nhà của Trung Tá Bác Sĩ Trần Quý Trung, Giám đốc Quân Y Viện Pleiku. Sau đó được chuyên viên vũ khí đến gỡ ngòi, lấy lên. Đến đầu năm 1972, căn cứ Hàm Rồng được bàn giao lại cho Phòng Tư QĐII. Phòng Tư cho các cơ sở tôn giáo và Hướng Đạo Sinh vào lấy tôn, váng. Chỉ chừa lại một số nhà ở phía tây dưới chân núi HR cho Trung Đoàn, thuộc sư đoàn 22 BB VNCH, Trung Đoàn Trưởng là Đại Tá Minh (người Huế, gốc BĐQ).Triệt thoái quân ra khỏi căn cứ, không phải đi về Mỹ liền, phải qua mấy đợt: Đồn trú dã chiến tạm thời. Sự đồn trú tạm thời, được thấy quân số một tiểu đoàn. Họ đến một khu rộng, cây thấp bên trong quốc lộ 19 hướng đông thành phố Pleiku, thuộc xã An Mỹ. Tại đây, họ dựng những cái lều lớn như nhà ba giang thật thẳng hàng và hai nhà cho Bộ Chỉ Huy. Chung quanh đều có hàng rào kẽm gai mắt cáo. Có bồn chứa xăng dã chiến bằng cao su đen xì, phình lên mặt đất một nửa, một nửa dưới đất như con trâu no tròn cái bụng, nằm ở một góc trái của khuôn viên tạm trú, cách xa hai nhà bộ chỉ huy cỡ 20 mét. Con đường đi vào và chung quanh  được rải đá, có Restroom sau lưng nhà, có nhà bếp nấu thức ăn, có xe lớn xe nhỏ. Đúng là ăn ở theo kiểu Mỹ. Họ tạm trú ở đó không quá hai tuần, cho đến khi nào được lệnh vào phi trường Cù Hanh, lên máy bay vận tải C5 bay thẳng về Mỹ hay C130, trực thăng Sinuk đi xuống Cam Ranh, lên tàu thủy đến đảo Guam, về Mỹ bằng tàu thủy. Căn cứ tạm đó tại An Mỹ cho hằng ngàn lính Mỹ tại Hàm Rồng ra ở tạm, đến mấy đợt như vậy trong năm 1971. Những căn cứ Mỹ tại các nơi khác trong Nam, ngoài Trung đều thực hiện đúng theo kế hoạch tạm trú như ở An Mỹ pleiku trước khi đến phi trường trong vùng như Bình Thủy Cần Thơ, Biên Hòa, TSN, Phan Rang, Phù Cát. Riêng Đà Nẵng bay thẳng đến đảo Guam suốt năm 1971 và cuối thu năm 1972 mới hết.

  Trở lại vùng An Mỹ Pleiku. Vùng An Mỹ đối  diện với Lệ Chí, là hướng đông nam theo đường chim bay 4 cây số. Nếu trước đó vào những năm 1966, 67, 68. Mỹ đóng quân ở đây, nhất định sẽ bị du kích MTGP từ Lệ Chí pháo kích đến. Sở dĩ Hoa Kỳ dựng lều đóng quân tạm tại rừng An Mỹ một cách an ninh thoải mái như vậy, là do Mỹ và Hà Nội đã mở lại hòa đàm với nhau vào ngày 16 tháng Một, 1969 sau Tết Mậu Thân (30-1968). Cuộc hòa đàm lần này được mở rộng cho cả đại diện hai bên VNCH và MTGPMN vì có tính cách lâu dài và quan trọng. Do đó đến tháng 3-1969, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Melvin Laird công bố chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Đến ngày 14 tháng Năm, 1969, Tổng Thống Nixon đề nghị chương trình 8 điểm cho Việt Nam, chuẩn bị rút quân ra khỏi miền Nam VN. Đến ngày 8 tháng Sáu, 1969 Tổng Thống Nixon và phái đoàn Hoa Kỳ gặp Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và phái đoàn VNCH tại đảo Midway California, để bàn chuyện rút quân và hòa đàm Ba Lê. Đến ngày 4 tháng Tám, 1969, Henry Kissinger lại mật đàm với Hà Nội. Cuộc mật đàm song phương này của Kissinger với Hà Nội, trong đó, dĩ nhiên có để cập đến đừng pháo kích, đừng tấn công hãy để cho Hoa Kỳ rút quân trong an bình. Điều đó được thấy suốt năm 1971 và đầu năm 1972 không thấy VC pháo kích. Đến mùa hè 1972, CSVN tấn chiếm Kontum, bao vây An Lộc, Bồng Sơn, Quảng Trị. Gọi mùa hè 1972 này là “Mùa Hè Đỏ Lửa”, vì chiến tranh khói lửa mịt mù, nhà cửa bị sập, đồng bào bồng bế nhau chạy trốn bom rơi, đạn pháo từ hai phía CSVN và QLVNCH đang chiến đấu với nhau để giành thắng lợi về mình, suốt 7 tháng ròng rã (tháng 3 đến tháng 9-1972).

   Bắt đầu ngày 10 tháng 4, cho đến 20 tháng 10- 1972 , suốt trong 6 tháng 10 ngày này, Hoa Kỳ thả bom gần Hà Nội và Hải Phòng một, hay hai lần trong tuần thật dữ dội, kinh hoàng sau mùa hè đỏ lửa 1972. Hành động không tập này, Hoa Kỳ đối với Hà Nội, bởi lý do nào ? Có thể được thấy Hoa Kỳ nhằm vào hai mục tiêu: 1- Để trấn an TT Thiệu trên nguyên tắc, là mặc dù Hoa Kỳ hòa đàm với Hà Nội để rút quân và Việt Nam Hóa Chiến Tranh, nhưng Hoa Kỳ vẫn bảo vệ VNCH luôn được tồn tại, không để cho CSVN nuốt trửng miền Nam VN, cho nên mới oanh kích Bắc Việt cả 7 tháng như vậy. 2- Tiếng gọi sấm sét hãy trở lại bàn hòa đàm, và cảnh báo rằng; Hoa Kỳ không thể đầu hàng Hà Nội, chỉ vì không muốn tiếp tục bị sa vào 2 bãi lầy Cần Lao và VSVN trong Dinh Độc Lập, thì liệu đó mà lãn họp yêu sách, làm eo, lên giá ! Chỉ có hai ý niệm một giả một thật đó thôi, mà Hoa Kỳ oanh kích Hà Nội nhiều lần trong 6 tháng 10 ngày trong năm 1972.

   Sau ngày 20 tháng 10, đến ngày 12 tháng 12-1972, Hoa Kỳ và Bắc Việt tiếp tục hòa đàm, Hiệp Định Paris được ký, nhưng Việt Nam Cộng Hòa không chấp nhận. Có lẽ do vì TT Thiệu không chấp nhận, phản đối, không chịu ký, cho nên Hoa Kỳ tái oanh kích Bắc Việt từ ngày 18- tháng 12, cho đến 15 tháng 1- 1973, để làm tin cho TT Thiệu rằng; Hoa Kỳ không bỏ rơi VNCH đâu, hãy ký vào Hiệp Định Paris, thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế cho VNCH để tự tồn tại theo chính sách VN Hóa Chiến Tranh. Chỉ vì TT Thiệu không chấp nhận, và làm eo không ký vào bản Hiệp Định, mà Hoa Kỳ phải dội bom Bắc Việt để cho ông Thiệu tin dù là giả, coi như mua chữ ký ông Thiệu với cái giá quá ác, là làm cho ruộng đồng, cơ sở, cầu cống miền Bắc, thêm một lần chót bị tan nát. Chỉ vậy thôi, chứ không có lý do nào khác. Cho nên cuộc Hòa Đàm lại tái họp vào ngày 8 tháng Một, 1973. Đến ngày 27 tháng Một, 1973, Hiệp Định Paris được ký kết giữa bốn bên Hoa Kỳ, Hà Nội, Cộng Hòa Miền Nam VN và VNCH, TT Thiệu ký sau cùng bởi hằng chục lá thư TT Nixon gởi TT Thiệu, trong đó có lá mặn chát, có lá ngọt lờ lợ, có lá đắng, cay. Do vì lời lẽ mặn chát và ngọt lờ lợ ấy, mà TT Thiệu chịu đặt bút xuống ký vào Hiệp Định Paris. Nếu không nói rằng; kẻ mạnh đối với kẻ yếu, vua đối với các bậc hạ thần, cường quốc đối với nhược tiểu, chủ đối với tớ, người giàu đối với kẻ nghèo…

Tổng Thống Thiệu Ôm Vào Lòng Ngũ Vị Cuộc Đời :

CHUA, CHÁT, ĐẮNG, CAY, MẶN HƠN MUỐI.

 

   Ông Nguyễn Văn Thiệu được các giới Ki Tô Giáo bên trong chính phủ Ki Tô VNCH và ngoài xã hội, cùng tiếp tay xây dựng cho ông hai đài Đệ II VNCH vào ngày 3 tháng  Chín - 1967 và 3-tháng Mười,1971. Rồi đặt ông ngồi trên ghế Tổng Thống, một ngôi vị mà 2 lần danh vọng tuyệt đỉnh. Được các khách quý đến Dinh Độc Lập tham dự lễ đăng quang, nhậm chức tân Tổng Thống lần hai,trong đó có ông Hubert Humphrey, tháp tùng có Đại Sứ Bunker và Ted Van Dyk.Trong những giờ phút huy hoàng đó, Tân Tổng Thống Thiệu được ông Hubert Humphrey, phó Tổng Thống Hoa Kỳ tấn phong bằng lời lẽ thật đắng cay: “ Ngài cần biết về tình hình chính trị ở Hoa Kỳ, hiện nay đã đến lúc cần phải có một giai đoạn chuyển tiếp để Miền Nam có thể tự lực, tự cường”.

  “ Vâng tôi hiểu,” Ông Thiệu đáp, “ nhưng chúng tôi còn cần phải có sự hiện diện của Hoa Kỳ với mức độ hiện tại.”

  “ Thêm vài năm nữa với cùng một mức độ viện trợ quân sự và kinh tế như hiện nay thì chắc không thể có!” (KĐMTC- TS Nguyễn Tiến Hưng-trang32).

 Cùng ngày, Tổng Thống Thiệu được CSVN trong dinh Độc Lập tấn phong cho ông một hỏa tiễn 82 ly, nổ trên đường Thống Nhất gần sở Thú, vang rền cả Sài Gòn, trong lúc phái đoàn ông Humphrey vừa rời khỏi thềm Dinh Độc Lập.

 Kể từ đó về sau, suốt Chín năm dài, tháng rộng(1967-1975), ông Thiệu luôn tiếp nhận vào lòng Năm vị cuộc đời : chua, chát, đắng, cay, mặn hơn muối, do từ chính phủ Hoa Kỳ, TT Nixon gởi tặng cho ông.

    Để được biết rõ lời chua chát như thế nào của ông Hubert Humphrey, phó TT Thống Hoa Kỳ tấn phong tân Tổng Thống Nguyễn Thiệu trong ngày đăng quang, cũng như được biết từng tính chất một của 5 vị cuộc đời, mà TT Thiệu đã nhận chịu suốt 9 năm trên ghế Tổng Thống, 4 chân đã tuần tự bị gãy theo từng năm tháng, để rồi thể hiện ra lời nói cầu khẩn, vang xin Hoa Kỳ viện trợ quân sự, kinh tế, đừng rút quân và trạng thái lo âu, đăm chiêu, thờ thẫn, buồn bã, dằn vặt, giày vò, bực tức,..ra lời “Hoa Kỳ phản bội”,…vào giờ phút cuối trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng Tư, 1975,  ngôi vị Tổng Thống không tự chủ, trước khi giã từ quê hương, ra đi qua xứ người. Đã được Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng cập nhật, ghi lại khá đầy đủ, trung thực rõ ràng nhiều hậu quả thật chua chát, đắng, cay, mặn hơn muối đã dội lên thân, tâm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được thấy trong tác phẩm KĐMTC. Quý đồng bào Việt Nam các giới hải ngoại, nên tìm đọc tác phẩm “KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY”. Tác giả Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, mới thấy rõ hết nguyên nhân Đệ II VNCH bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi, là do hai bãi lầy Cần Lao và Cộng Sản VN trong Dinh Độc Lập, gọi là phe ta dung chứa phe mình, ham dụ người vào đạo Chúa để vinh danh Chúa, dưỡng hổ di họa, tiên trách kỷ, hậu trách nhân, hai đấu thủ trên đài, thì một trong hai sẽ bị rơi đài do vì yếu cơ, hay bị yếu kém đường quyền,…

 

Truy Tầm Tận Gốc Nguyên Nhân Mới Thấy Được Quả.

 

   Hằng triệu bản thể bất động, sinh động của muôn loài chúng sanh và con người, cũng như vô số sự việc mưu sinh của loài người để sống và tồn tại trên vũ trụ, trần gian này, tất cả không tự thể, đều do các duyên giả hợp kết tụ lại làm Nhân, mà sanh ra Quả (bản thể) là một định luật, hễ có Nhân là có Quả. Hay là từng cá thể con người khởi lên ý tưởng về sự việc nào đó (ý nghiệp), rồi hành động tạo tác, tức khắc được có ngay kết quả, gọi là Nghiệp và Kết quả, không sai chạy đâu cả, vì kết quả rất hiện thực, Nhất là những cái quả do hành động chính trị của những nhân vật chính trị trên một đất nước đã tạo ra, càng thấy rõ hơn hết, không thể chối cãi được trước nhân chứng bị hệ lụy, đó là người dân. Điển hình rõ nét; như TS Nguyễn Tiến Hưng, là nhân chứng thực của hằng trăm dữ kiện mang tính hệ quả (kết quả kéo theo nhiều việc không tốt) dưới triều đại Đệ II VNCH của vị Tổng Thống không tự chủ trên hai lãnh vực chính trị và quân sự. Do đó TS Hưng không thể không đưa hằng trăm hệ quả duy nhất ấy vào tác phẩm KĐMTC. Sở dĩ TS Hưng không đưa ra nguyên nhân, lý do chính thể Đệ II VNCH của TT Thiệu bị tan hàng vào sáng 30 tháng , 1975, cũng là lý do riêng của ông.

   Lời TS Nguyễn Tiến Hưng nói : “ Cuốn sách này không đề cập tới toàn bộ những lý do đã dẫn tới sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên là trước thất bại, ta phải tự trách mình trước: “tiên trách kỷ hậu trách nhân hay “mea culpa (lỗi tại tôi). Về khía cạnh chính trị nội bộ của Miền Nam chẳng hạn, tác giả không đề cập tới những nguyên nhân mà các tác giả khác đã phân tích rất nhiều: như sự chia rẽ nội bộ, tư cách và khả năng cấp lãnh đạo, tham nhũng, độc tài; hay những thái độ chống đối, thờ ơ, tránh né từ phía một vài thành phần nhân dân. Cũng không bình luận là lãnh vực quân sự, cả về chiến lược lẫn chiến thuật, Về những địa hạt này, tuy chúng tôi có được nghe nhiều điều đáng buồn về các cấp lãnh đạo chính yếu, nhưng không đủ khả năng, hiểu biết, và kinh nghiệm để nhận xét cho thấu đáo. Về phía Hoa Kỳ, tác giả cũng không đề cập nhiều tới những yếu tố khác như phong trào phản chiến, vai trò báo chí Mỹ, hay chiến thuật quân sự, những đề tài đã được phân tích khá rộng rãi”. (KĐMTC, tr 22 TS Nguyễn Tiến Hưng).

   Mặc dù TS Hưng tuyên bố không đề cập đến những nguyên nhân, lý do Đệ II VNCH bị tan hàng, ông chỉ thống kê hằng trăm hệ quả đau thương trong tác phẩm KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY. Nhưng, với số đông người Việt các giới có hiểu biết trước 1975, sau 75 trong đó có số ít tín hữu Ki Tô Giáo tiến bộ, tất cả đều thấy được nhiều nguyên nhân xấu, ác trong quá khứ xa, gần nối tiếp nhau do những người Việt Ki Tô Giáo tạo nên qua nhân chứng và lịch sử từ hai triều đại VNCH Ki Tô Giáo quá khứ gần, đó là Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Thì hằng trăm nguyên nhân xấu, ác tương tác nhau đã nở rộ, sinh sản ra hằng trăm hệ quả ác, khiến cho Hoa Kỳ chán ghét, đảo chánh Tổng Thống Diệm. Dưới thời Đệ II VNCH của Tổng Thống Thiệu, Hoa Kỳ có chính sách VN Hóa Chiến Tranh, hòa đàm, cắt toàn bộ viện trợ, rút quân một cách chân chánh do ba phía Việt Nam đồng ý. Chính ông Hưng cũng đã thấy một chút nguyên nhân nho nhỏ, cho nên ông đã đưa ra cụm từ “ Nguyên nhân chính Mỹ bỏ rơi Miền Nam”. Rồi ông tự đặt câu hỏi và trả lời “ Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền Nam ? “Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam không còn nữa”  (KĐMTC tr 455. TS NT HƯNG). Câu trả lời của Tiến Sĩ Hưng, nếu không nói là rất tế nhị, không dám nói rõ nguyên nhân…Tuy nhiên, TS Hưng dùng câu cách ngôn “tiên trách kỷ hậu trách nhân”, để ám chỉ một số Tướng Tá Cần Lao cực đoan vì quyền lợi về vật chất, chức tước trong chính quyền quá nhiều cho cá nhân mình, không chia sẻ cho những người ngoài Thiên Chúa, không lo quốc phòng, an ninh tổ quốc, chuyên lo tham nhũng là kẽ hở cho CSVN vào Dinh Độc Lập, đã bị CIA Mỹ lập hồ sơ đưa qua Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia năm 1969, bị Tòa Án Vùng 3 chiến thuật xử, cho ra nhà tù Côn Đảo (đã nói ở những trang trước), là nguyên nhân làm sụp đổ chính thể VNCH. Vậy mà các ông Cần Lao không tự trách mình, không nói “lỗi tại tôi”, lại đem lời trách Hoa Kỳ phản bội, đổ hô cho Phật Giáo theo cộng sản.

   Những hành động tiêu cực của các ông Cần Lao nói trên, đã đi ngược lại chính sách của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt tìm lực cộng sản quốc tế, bằng cách xây dựng tại Miền Nam Việt Nam một chính thể dân chủ VNCH, là lá Chắn, be bờ, ngăn chặn làn sóng đỏ phương bắc Trung Quốc, CSVN miền Bắc tràn xuống Đông Nam Á. Vậy mà các ông Cần Lao đã tự phá vỡ lá Chắn, bờ Đê Miền Nam VN, khiến cho Hoa Kỳ nản lòng, bỏ rơi Miền Nam. Chứ Mỹ không có quyền lợi nào tại Nam Việt Nam cả, ngoài vai trò đi xây dựng bờ be, lá chắn ngăn chặn cộng sản quốc tế.

  

VẤN ĐỀ THAM NHŨNG.

  

   Hoa Kỳ không quan tâm lắm về hành động tham nhũng, chỉ quan tâm công việc chính là chống cộng sản. Riêng một số đông trí thức trong và ngoài quân, cán chính VNCH, ghét tham nhũng, có tấm lòng mong muốn VNCH phải được trong sạch hóa, là diệt tham nhũng vào thời điểm bị Hoa Kỳ cắt viện trợ, để giữ sức mạnh QLVNCH vốn đang có trên vận hành tiếp tục chống CSVN. Những thành phần trí thức chống tham nhũng có Linh Mục Trần Hữu Thanh, Luật sư Phạm Nam Sách, Đại Tá Trần Văn Kha,…Linh Mục Trần Hữu Thanh đã phát động phong trào chống tham nhũng đầu tiên sau ngày 27-1-1973, là thời điểm Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lo âu, buồn bực, ăn không ngon, ngủ không yên, bức rức trong lòng, như ngồi trên than hồng, tâm hồn như điên dại cho đến nỗi ông không hiểu ý tưởng của Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald R. Ford từ chối khéo về viện trợ trong thư gởi TT Thiệu ở câu: “(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép.” ( lời dịch ra Việt ngữ của TS Hưng, trang 256 KĐMTC ). Thì Tổng Thống Thiệu lại nhờ TS Hưng viết thư cho Tổng Thống Mỹ Gerald R. Ford…..tôi xin long trọng yêu cầu Ngài thi hành hai biện pháp sau đây:

  “ -Ra lệnh cho phi cơ B 52 can thiệp trong một thời gian ngắn nhưng mãnh liệt xuống những nơi tập trung quân và căn cứ hậu cần của địch trong lãnh thổ Miền Nam Việt Nam, và

   -Cung ứng khẩn cấp cho chúng tôi những phương tiện cần thiết để ngăn chặn và đẩy lui cuộc tấn công…” (KĐMTC TS Hưng tr 261).

   

      Tổng Thống Thiệu Như Người Điên.    

 

    Rõ thật, ông Thiệu bị điên đầu cho nên ông đã quên lửng cái việc gióc hết toàn lực các binh chủng quân đội VNCH, hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào vào tháng  2- 1971, để tiêu diệt các căn cứ hậu cần của CS Bắc Việt, nhưng bị lực lượng CS Bắc và Nam tấn công trong thế thủ, làm cho QLVNCH bị tổn thất nặng nề về quân số, quân dụng, vũ khí. Chính Đại Tá THỌ Nhảy Dù tại mặt trận Hạ Lào bị CSVN bắt đưa ra miền Bắc, đã nói trên đài phát thanh Hà Nội trong khoảng tháng 5- 1971, nói rằng máy bay phản lực Mỹ có bay qua trên không phận Hạ Lào do Bộ Tư Lệnh Hành Quân đánh điện yêu cầu nhưng, không lực Mỹ không yểm trợ, rồi bay hút mất ra hướng đông nam. Thời năm 1971 đó, không lực Mỹ đã không yểm trợ oanh kích, làm sao có thể yểm trợ vào thời điểm quyết định bỏ Miền Nam, rút quân cắt viện trợ, hòa đàm Paris đã được 4 bên ký kết ngày 27- tháng Giêng, 1973, mà TT Thiệu lại gởi thư cho TT Gerald R. Ford  vào ngày 25 tháng Năm, 1973 yêu cầu cho máy bay B 52 oanh kích ! Máy bay chiến đấu F 18 còn chưa có, huống hồ B 52 làm sao có, một khi Mỹ đã quyết tâm bỏ rơi VNCH ! Thật sự Hoa Kỳ có oanh kích Bắc Việt sau hiệp định Paris nhưng, thả bom ở đồi núi để trấn an TT Thiệu mà thôi. Vậy mà ông Thiệu tưởng là thật. Đúng là tâm hồn TT Thiệu bị trôi lăn trong cơn cuồng phong chính trị. Nhưng một điều lấy làm lạ, là ông Thiệu đã ra lệnh cho cảnh Sát bắt LS Phạm Nam Sách, giam lỏng tại Tổng Nha Cảnh Sát. Quân Cảnh bắt Đại Tá Trần Văn Kha, giam lỏng tại Bộ Tổng Tham Mưu. Những trí thức không tham nhũng, có tấm lòng mong muốn bộ máy chính quyền VNCH phải trong sạch giữa thời điểm đất nước bị nghiêng ngửa qua những bài viết cảnh giác trên các nhật báo Chính Luận, Tự Do, v.v… Như Đại Tá Trần Văn Kha, Luật Sư Phạm Nam Sách đã viết. Thì tại sao lại bị An Ninh Quân Đội, Cảnh Sát bắt giam mỗi vị một nơi vô thời hạn không xét xử như vậy ? Trong khi đó LM Trần Hữu Thanh cũng lên tiếng tố cáo nhân viên VIP chánh phủ tham nhũng trên các báo chí, sao không bắt giam ? May mà được có những cấp dưới có lòng thương kính, đến mở cửa vào giờ thứ 25, hai ông Kha và Nam Sách ra đi dưới trời Sài Gòn nắng hạ tháng Tư náo loạn.

   Sau khi được định cư tại Hoa Kỳ, California năm 1991, tác giả được gặp  hai vị đó tại hai nơi khác nhau. Qua những giờ phút hàn huyên, tác giả được nghe Đại Tá Kha, LS Sách kể cho nghe nhiều chuyện oái âm, trong đó có chuyện bị cảnh sát, quân cảnh bắt rồi giam lỏng, không phải do ông Thiệu, mà là do các ông Cần lao trong hai cơ quan Tư Pháp, Hành Pháp bắt để bao che một số Tướng, Tá Cần Lao tiêu cực tham nhũng (không vơ đũa cả nắm).

Biết được cấp chỉ huy cao nhất ở ngành An Ninh Quân Đội nói riêng, toàn là tín hữu Ki Tô Giáo làm chánh sở tại 4  Quân Đoàn. Điều này được thấy có 3 Đại Tá chánh sở ANQĐ, đó là Đại Tá Chu Văn Sáng QĐ II, ĐTá Hãn QĐ III, ĐT Sảo QĐ 4, cùng ở chung với tác giả tại trại cải tạo Nam Hà Phủ Lý, không thấy chánh sở ANQĐ QD I.

 

                                          TRANG SỬ CHÍNH TRỊ

                                      CÁC LINH MỤC RƯƠC CSVN VÀO

                                      DINH ĐỘC LẬP THÌ ĐÚNG HƠN.

 

Toàn thể dân tộc Việt Nam trong các giới ngày xưa và hôm nay tại quốc nội, hải ngoại, ai cũng dư biết các tín hữu Thiên Chúa giáo VN thường dụ người ngoại đạo vào đạo Chúa mình, để vinh danh Chúa, được Chúa gọi về Thiên Đàng ngồi bên Chúa hưởng dung nhan Chúa, dù cho có tạo ra vô số tội ác giết người tại cõi trần, vẫn được Chúa rước lên Thiên Đàng, cho nên,  những Cán bộ Cách Mạng Việt Nam lãnh đạo chính phủ Việt Minh, từ chính quyền Trung ương và địa phương, đã cài nhiều Cán bộ vào Đạo Thiên Chúa xin rửa tội theo đạo rất sớm từ 1945, để tình báo. Bởi vì đã dư biết các Giám mục, Linh mục, tín hữu tại các xóm đạo, sẽ là công cụ tay sai của các bạo lực Thực dân phương Tây xâm lược VN. Trong những công cụ đó, có thành lập chính quyền tay sai, do những tín đồ Thiên Chúa cầm quyền ở ngôi vị Quốc trưởng,Thủ tướng,Tổng Thống. Nội Các chính quyền tay sai này toàn là Thiên Chúa giáo, từ Thủ Tướng xuống các Bộ, Nha, Sở,Tỉnh trưởng, Quận, Huyện trưởng, v.v…toàn là Tín đồ Thiên Chúa chia nhau nắm chính quyền. Điều đó được thấy qua các chính quyền tay sai Trần Trọng Kim, (1945) Bảo Đại (1948- 1955) Ngô Đình Diệm,(1955- 1963) Nguyễn Văn Thiệu. (1967-1975) . Những dữ kiện trên, được nhiều giới trí thức VN trước 75, hiện còn trong nước và hải ngoại đều biết chính quyền CSVN ngày nay, là hậu thân của chính quyền Việt Minh kháng chiến chống Thực dân Pháp ngày xưa từ 1945, cho đến nhiều thập niên kế tiếp, (1954-64-75 ), lúc nào cũng cài cán bộ vào Đạo Thiên Chúa, để sau đó vào các chính quyền Thiên Chúa miền Nam Việt Nam của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu để tình báo. Cho nên những năm gần đây, các ông trí thức người Việt ta tại Hải ngoại, nhất là tại các Quận California, sau khi đọc được những tài liệu “ Cụm Tình Báo A22 CSVN trong dinh Độc Lập”. Do đó mỗi lần gặp nhau, cứ nói tới, nói lui với nhau rằng “Hằng ngàn tình báo CSVN tại miền Bắc, theo đoàn người Thiên Chúa Giáo, di cư vào Nam 1955. Sau đó họ được các Linh Mục đưa vào nhà Thờ, rửa tội cho theo Đạo Chúa. Có ông vì quá oán hận, bực tức ra lời chửi thề văng tục… Đa số tình báo CSVN đều là trí thức, chứ, không phải lớp Ba trường làng như một số người Việt tỵ nạn CS thường nói. Vì thế được anh em ông Diệm và các Linh Mục sử dụng ở lãnh vực chính trị trong chính quyền trung ương và địa phương, Một số được vào dinh độc lập từ thời Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu , đều do các Linh Mục Thiên Chúa Giáo đưa vào từ năm 1955, dù có biết là cán bộ CS, vẫn cứ đưa vào để vinh danh Chúa là chính, không cần biết hậu quả sẽ bị mất chính thể VNCH. Những cán binh CSVN trong hai chính quyền Đệ I Đệ II VNCH rất nhiều như Thiên La, Địa Võng, không thể đếm  hết ra được. Chỉ đưa ra một số nhân vật có tiếng, như các ông sau đây:Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Nguyễn văn Lê, Nguyễn ĐứcTrí, Nguyễn Xuân Hòe, Vũ hữu Ruật, Nguyễn Xuân Đồng,... thuộc Cụm TB A22. Ngoài ra còn vô số Điệp viên khác, họ hoạt động từng nhóm tại các thành phố, quận , huyện, Xã, Ấp trên khắp Miền Nam VN trước 1975. Những điệp viên như: Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Cao Thăng, Đinh Văn Đệ (tỉnh trưởng Bình Thuận, Thị trưởng Đà Lạt , dân biểu đặc trách quốc phòng do T T Thiệu chọn), Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, sĩ quan không quân Nguyễn Thành Trung, v.v…

 

                                                CON CHIM ĐẦU ĐÀN

                                    CỤM TÌNH BÁO A22 LÀ VŨ NGỌC NHẠ.

   

   Vũ Ngọc Nhạ, sinh tại Thái Bình 1928. Ông Nhạ tên thật là Vũ xuân Nhã, còn có tên khác Vũ đình Long. vào đảng CSVN 1947, lúc 19 tuổi. Ông Nhạ có khiếu tình báo, do vậy ông được Đảng giao cho nhiệm vụ tình báo trong Giáo Hội Thiên Chúa giáo VN, để lặn sâu vào đối phương (các chính quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu…) Kể từ đó ông theo đạo Thiên Chúa 1947, thời điểm Pháp trở lại VN, sẽ dựng lại chính quyền Bảo Hộ do tín đồ Thiên Chúa giáo VN lãnh đạo; như bà Nam Phương Hoàng Hậu, trực tiếp chỉ huy chính phủ Bảo Đại. Điều đó được chứng minh; bà Nam Phương lập văn phòng tại Sài Gòn, cho mục đích triệt hạ Phật Giáo VN . Điều đó được thấy bà ra lệnh Thủ tướng Nguyễn văn Tâm, ra Huế gỡ bảng “Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam” tại chùa Từ Đàm xuống, không cho treo vào năm 1952.Tiếp đến hai chính phủ VNCH ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, đều do tín đồ Thiên Chúa Giáo (Giám mục, Linh Mục cố vấn) chỉ huy triều chính, cũng nhằm vào mục tiêu triệt hạ PGVN, xây dựng nước Chúa. Biết trước được điều đó, các cấp lãnh đạo chính quyền CSVN, liền tìm mọi cách cài cán bộ vào nhà Thờ, xóm đạo từ 1950-1954 trên toàn lãnh thổ VN. Đến năm 1955,  riêng miền bắc, hằng  ngàn điệp viên CS theo đoàn Tín đồ Thiên Chúa di cư vào Nam, sau đó bắt đầu hoạt động trong các tổ chức hành chánh, chính trị, quân sự, bán quân sự…từ Đệ I VNCH ông Diệm 1955, cho đến Đệ II VNCH ông Thiệu từ tháng 9-1967 đến ngày 21 tháng 4-1975.

 

QÚA TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỤM

TÌNH BÁO A22 TỪ A ĐẾN  Z.

 

 Ông Nhạ vào đạo Thiên Chúa với bí danh Lê quang Kép, tên Thánh là PIÈRRE, lên chức thầy bốn, cố vấn. Ông Nhạ và gia đình di cư vào Nam 1955. Sau khi vào Nam. ông Nhạ được hai Linh Mục Hoàng Quỳnh và Lê Hữu Từ đỡ đầu cho mọi việc mưu sinh, như làm thư ký Bộ Công Chánh…cố vấn cho hai Linh Mục HQ, LHT về các việc GHCG. Do vậy, ông Nhạ được LM HQ đưa ra Trung làm công tác đặc biệt. Đang lo công việc nhà thờ, thì bị Công An Huế bắt giam vào Tòa Khâm.Tại đây, ông Nhạ móc nối với các tình báo CS trên 40 người đã bị bắt vào trước, như ông Mười Hương (người của ông Ngô Đình Cẩn),v.v…

   Điều chúng ta nên đánh dấu hỏi, những can phạm đó bị công an, mật vụ của ông Ngô Đình Nhu tại Huế bắt giam, vì khả nghi là tình báo CS theo kế hoạch của anh em ông Diệm, là tảo thanh cho hết cán bộ CS không tập kết ra Bắc, được cài ở lại miền Nam. Thì tại sao không giam ở Xà Lim của tỉnh ngoài phố, lại đem giam tại Tòa Khâm Thiên Chúa ? Phải chăng, để cho các Linh Mục đến dụ dỗ theo đạo Chúa thì sống, bằng không bị ngồi tù mãn đời rồi chết. Thế là trên 40 cán binh CS nòng cốt đã chịu rửa tội, theo đạo, liền được thả. Sau khi ra khỏi Tòa Khâm, hằng chục cán binh CS này, có mặt khắp Miền Nam. Số cán bộ bị bắt vào Tòa Khâm như các ông Nguyễn Xuân Đồng, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe đã được gặp ông Vũ Ngọc Nhạ tại Sài Gòn.

   Để cho anh em ông Ngô Đình Diệm tin là tín đồ Thiên Chúa Giáo thật, có tấm lòng với GHTCVN và trung thành với chế độ VNCH, ông Nhạ viết ra một tài liệu có nhan đề “Bốn Nguy Cơ Đe Dọa Chế Độ”, rồi đưa lên ông Ngô Đình Nhu. Cả 5 anh em ông Diệm:Thục, Diệm, Nhu, Cẩn, Luyện và Trần Lệ Xuân, cũng như các GM, LM và các giới Thiên Chúa trong nhà thờ, Cần Lao trong chính quyền , quân đội, đều đem lòng tín cẩn ông Nhạ, tôn vinh ông Nhạ  như vị Thánh cứu tinh. Tin một cách chắc chắn hơn nữa, vì ông Nhạ là Tín hữu ngoan đạo đang giúp việc cho LM Lê Hữu Từ. Kể từ đó ông Nhạ, được anh em ông Diệm đề cử chức cố vấn cho Tổng Thống Diệm và liên lạc các giới chính trị, quân sự (đảng Cần lao) gốcThiên Chúa và GM, LM, Tín hữu tại các xóm đạo. Do được tiếp xúc nhiều giới , ông Nhạ  đã thành lập mạn lưới tình báo có tên CỤM TÌNH BÁO A22 (mật danh ông Nhạ). Bên cạnh ông, có các ông Nguyễn văn Lê, Nguyễn ĐứcTrí, Nguyễn xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn xuân Đồng, Lê Hữu Thúy, (biệt danh Thắng A 25). Cụm trưởng TB A22 là ông Nguyễn Văn Lê, ông Nhạ phó, chỉ huy toàn bộ cụm TB A22, là ông Nguyễn Đức Trí.

   Sau khi ông Diệm bị Hội Đồng Quân Nhân VNCH lật đổ vào ngày 1-11-1963, thì các tướng Cần Lao vùng lên, làm nhiều cuộc đảo chánh, do LM Hoàng Quỳnh chỉ đạo nhưng, không thành. Cuối cùng, chính phủ Quân phiệt ra đời do hai Tướng Thiệu, Kỳ thành lập. Ông Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, ông Kỳ chủ Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Chính là cơ hội tốt cho các điệp viên CSVN xâm nhập vào nhiều cửa. Ông Nguyễn Đức Trí, đặc trách về quân sự cả hai phía: chỉ huy Đặc công hành động, điều nghiên tận gốc QLVNCH để lặn sâu, leo cao. Nhờ đó mà Cụm TB A22 của ông Nhạ, đã thu thập nhiều tin tức tình báo có giá trị lớn. Ông Nhạ giữ vai trò liên lạc với các giới chính trị Thiên chúa trong chính phủ và quân đội, cũng như dân sự tại các xóm Đạo. Nhờ đó mà ông Nhạ đã trở thành một chính trị gia lỗi lạc (Remarkably) bằng cái vỏ VNCH đối với các giới Thiên Chúa giáo trong chính phủ, ngoài xóm Đạo trên khắp 4 vùng chiến thuật, đều biết đến ông Nhạ. Ngay cả dưới thời Đệ I VNCH của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Nhạ, là người liên lạc với các cán bộ cao cấp CSVN, để cho anh em ông Diệm và bà Nhu được tiếp xúc tại Tây Ninh (riêng GM Ngô Đình Thục) rừng Định Quán, Nha Trang, để bàn chuyện hiệp thương Bắc Nam, sau khi biết ý đồ Hoa Kỳ sẽ lật đổ TT Ngô Đình Diệm.Vậy mà anh em ông Diệm cứ ngỡ là ông Nhạ nhờ Đại sứ Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế kiểm soát đình chiến tại Sai Gòn, lo cho việc đi gặp cán bộ CSVN. Không ngờ CS dẫn anh em ông Diệm đi gặp CS để nói chuyện hiệp thương vào cỡ tháng 9-1963, thời điểm Chùa chiền trên toàn Miền Nam, bị phong tỏa, Tăng, Ni bị bắt vào Rạch Cát Sài Gòn, Chín hầm tại núi Tứ tượng - Huế.

   Đến  ngày 1-4- 1967,Tướng Nguyễn văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống Đệ II VNCH, ông Thiệu  sử dụng ngay ông Nhạ ở ngôi vị cố vấn cho toàn bộ ở hai lãnh vực chính trị và quân sự. Nhưng sau đó không lâu, ông Nhạ chỉ thị cho ông Lê Hữu Thúy (thiên tài, đa mưu, túc trí) đưa ông Huỳnh văn Trọng vào dinh độc lập, giới thiệu cho Tổng Thống Thiệu.Với các cán bộ tình báo của CSVN, người nào cũng đa tài trong nghề nghiệp, tư cách đàng hoàng, tế nhị, chững chạc, lễ độ, ăn nói lịch thiệp, mạch lạc. Cho nên sau một tuần, Tổng Thống Thiệu đã chấp nhận ông Huỳnh Văn Tọng trong vai trò cố vấn tối cao cho Tổng Thống từ việc nhỏ, đến việc lớn,v.v…

   Lý do ông Nhạ ra khỏi dinh độc lập, và không cố vấn cho ông Thiệu nữa, đưa ông Trọng vào đó, trong việc cố vấn cho Tổng Thống Thiệu, là vì vai trò của cụm TB A22 , thường trực nối kết tình báo với các thành viên trong ba lực lượng: đặc công nội thành, sĩ quan QLVNCH và quân báo MTGP trên 4 vùng chiến thuật của VNCH, cho nên ông Nhạ phải liên lạc với các tình báo viên, như các ông Nguyễn Đức Trí, ĐT Phạm Ngọc Thảo, Trung Tá Đinh Văn Đệ (tỉnh trưởng Phan Thiết và thị trưởng Đà Lạt kiêm tỉnh trưởng Tuyên Đức), tướng Nguyễn Hữu Hạnh, v.v…để tiến hành tổng tấn công vào những năm tới 1968,69,71,72  cho mục tiêu làm mạnh cuộc hòa đàm Việt Mỹ tại PARIS.

  

PHÁI ĐOÀN ĐỆ II VNCH CÔNG DU HOA KỲ.

  

Xét thấy ông Huỳnh Văn Trọng, ăn nói lưu loát, tế nhị, chững chạc trong giao dịch…xứng đáng vai trò cố vấn, do đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không ngần ngại, liền đề cử ông Huỳnh Văn Trọng dẫn phái đoàn chính trị Việt Nam Cộng Hòa sang thăm Hoa kỳ. Ông Trọng và tất cả viên chức VNCH, được Tổng Thống JOHNSON tiếp và nói chuyện tại Tòa Bạch Ốc ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Phái đoàn chính trị của ông TRỌNG thăm Hoa Kỳ, là mục đích gặp Tổng Thống JOHNSON, để thăm dò tư tưởng T T JOHNSON đối với cuộc chiến VN như thế nào.

   Với tài nghệ tình báo chiến lược của người CSVN, ông Huỳnh Văn Trọng đã thu thập nhiều tin tức tình báo chiến lược qua những lời nói của TT JOHNSON trước phái đoàn. Sau khi về nước, dĩ nhiên ông Trọng tường trình lại một cách trung thực trước mặt TT Thiệu đúng theo tư tưởng của TT Hoa Kỳ đối với Đệ II VNCH.Theo một vài viên chức VNCH không Thiên Chúa, không Phật Giáo, nói rằng phái đoàn VNCH đi Hoa Kỳ, toàn là tín hữu Thiên Chúa không thôi. Do vậy về nước, ông Trọng là trưởng phái đoàn, phải tường trình lại một cách trung thực lời của TT Hoa Kỳ, ông JOHNSON nói về chính phủ Đệ II VNCH của TT Thiệu. Nhưng TT Thiệu im lặng không dám thi hành lời của TT JOHNSON yêu cầu…Kể cả số người khác trong đoàn, không dám hé môi, dù đã được nghe.

   Sự im lặng đáng sợ đó, có người đoán rằng (Ở đây đoán trúng 95%, không xác định nhé) ;  Tổng Thống JOHNSON bằng lòng ông Thiệu ở ngôi vị Tổng Thống Đệ II VNCH nhưng, không bằng lòng cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vừa rồi, là không có khối Phật Giáo trong đó.Yêu cầu TT Thiệu và khối Công Giáo , không nên đặt khối Phật Giáo ra ngoài chính quyền. Vì Phật Giáo có quá trình lập quốc và kinh nghiệm điều hành chính quyền qua truyền thống của tổ tiên họ trong quá khứ xa xưa dưới các đời Lý Trần,…Điều đó được thấy rõ qua những nhà sư lãnh đạo GHPGVNTN, đều mong muốn miền Nam VN, được có một chính thể VN Cộng Hòa bình đẳng , không phân biệt tôn giáo, là sức mạnh thắng CSVN, cho nên các nhà sư trong GHPGVNTN quyết tâm đòi bầu cứ QHLH là như vậy. Tổng Thống Hoa Kỳ, ông JOHNSON cũng nhã ý yêu cầu Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và khối Công Giáo VN nên hòa hợp với khối Phât Giáo, vì Phật giáo có một khối nhân sự rất lớn, là tìm lực, có sức mạnh thắng CSVN. Điều đó được thấy 80% quân nhân các cấp trong QLVNCH là Phật tử, hằng triệu Phật tử ngoài xã hội, tất cả  đều đứng về phia chư Tăng GHPGVNTN, hưởng ứng cuộc vận động bầu cử QHLH vừa qua, là do chính PGVNTN phát động, chứ không phải do CSVN chỉ đạo. Có lẽ do nhận được điện tín của HT Thích Trí Quang từ Huế gởi qua cho TT Johnson trong tháng 5-1966. Tổng Thống JOHNSON bay qua VN thăm quân đội Hoa Kỳ tại Đà Nẵng vào ngày 26 tháng 10-1966 , đã điều nghiên biết rõ, cho nên chính phủ Hoa Kỳ tại Washington DC và Tòa Đại Sứ Mỹ Sài Gòn, đã nói Cuộc Binh Biến tại Huế, Đà Nẵng, không do CSVN chỉ đạo. Họ dùng cụm từ “Cuộc Binh Biến”, cũng đủ nói lên do khối Phật giáo trong và ngoài QLVNCH.

   Cuối cùng, Tổng Thống JOHNSON yêu cầu Tổng Thống Thiệu và khối Công Giáo trong QLVNCH và trong Quốc Hội đương thời, nên hòa hợp với khối Phật giáo VNTN, trong đó chia bớt công việc triều chính cho các nhân sĩ Phật Giáo, không thể ôm hết ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp,Tư Pháp toàn là nhân sĩ Công giáo. Nếu mãi như vậy, khó có thể thắng được CSVN. Đã lỡ nhiệm kỳ này, nhiệm kỳ hai tới, phải để cho khối trí thức Phật giáo vào Quốc Hội và các cơ quan triều chính khác.Trong khi chờ đợi vào nhiệm kỳ hai, chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho nền Đệ II VNCH của TT Nguyễn Văn Thiệu được vững mạnh. Bên cạnh viện trợ, Hoa Kỳ không quên tiếp tục oanh kích Bắc Việt để cho Tổng Thống Thiệu yên tâm điều hành quốc gia. Nhiệm kỳ hai, vị Tổng Thống là ông Thiệu hay bất cứ ai, không làm theo những điều mà chính phủ Hoa Kỳ đã góp ý, thì Hoa Kỳ sẽ thay đổi chiến lược đối với Nam VN.

 

TỔNG THỐNG THIỆU IM LẶNG. ÔNG CỐ

VẤN HUỲNH VĂN TRỌNG HÀNH ĐỘNG.

 

Thật sự Tổng Thống Thiệu không dám thi hành những điều góp ý của TT Hoa Kỳ, vì quá sợ bạo lực của khối Công Giáo nói chung, Cần Lao nói riêng, nên chi im lặng để yên thân. Sự im lặng của ông Thiệu, khiến cho ông Trọng nghĩ rằng; Tổng Thống Thiệu sẽ làm theo lời góp ý của Tổng Thống Hoa Kỳ, JOHNSON, vì im lặng là đồng ý. Do vậy tất cả tình báo CSVN trong, ngoài Cụm TB A 22, có mặt trên 4 vùng Chiến thuật VNCH, đều sợ khối Phật Giáo VNTN trong và ngoài chính quyền VNCH, nhất là khối Phật tử (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh lính) trong QLVNCH, và những nhân sĩ PG ở lãnh vực chính trị trong chính quyền ở cấp thấp nhưng, quyết tâm chống CSVN, sẽ đứng dậy trong nhiệm kỳ Tổng Thống  đợt hai, chư Tăng GHPGVNTN chỉ đạo tái lập chính phủ VNCH thật vững mạnh dưới sự viện trợ của Hoa Kỳ. Chừng đó CSVN khó có thể hoạt động được nữa ! Tất cả Điệp viên CS nòng cốt nói chung trên toàn miền Nam, nói riêng Cụm TB A 22, đều biết đến sức mạnh của khối Phật giáo VNTN. Sau khi thấy ông Thiệu  độc diễn TT ở nhiệm kỳ hai và tập đoàn Cần Lao vẫn ôm hết các cơ chế chính phủ, chính quyền VHCH, tập thể Cụm Tình báo A22 liền triển khai kế hoạch Giải Phóng Miền Nam, theo dõi sinh hoạt của GHPGVNTN. Cho nên, sau khi chiếm trọn miền Nam VN trong tay, giống như lượm được vật báu trên đường do Mỹ bỏ rơi, họ lo giữ kỹ, sợ bị mất, giống như người nghèo lượm được của báu. Nói khác hơn, sau khi chiếm trọn miền Nam trong tay, các cấp Cán bộ CSVN lãnh đạo trong chính phủ Trung ương, đều sợ khối Phật giáo VN Thống Nhất vốn có từ trước tại miền Nam VN. Do đó họ đã bắt giam gần hết chư Tôn Giáo Phẩm VHĐ-GHPGVNTN vào nhà tù tại Sài Gòn và giam lỏng ở Bắc như HT Quảng Độ ở Thái Bình, HT Huyền Quang ở Quảng Ngãi, cầm tù HT Trí Quang trong nhà tù Chí Hòa một năm rưỡi, giam lỏng tại Ấn Quang, Già Lam có Công An canh giữ. Riêng hai HT Thiện Minh và HT Trí Thủ bị chết bởi họ. Như vậy, đồng bào VN các giới Hải ngoại đã biết chưa, hay vẫn còn nói theo lời các ông Cần Lao : Lữ Giang, Đặng V Nhâm, Liên Thành; rằng chư Tăng PGVNTN là CS ?

   Đồng bào VN tại Hải ngoại nên biết thêm nữa tại sao Hoa Kỳ vất bỏ Đệ II VNCH ? Thật là dễ hiểu, do vì quá chán khối Thiên Chúa Cần lao trong chính quyền, quân đội và trong  xóm đạo, cấu kết nhau xây dựng nước Chúa, rước điệp viên CS vào dinh độc lập để tôn vinh Chúa, không lo quốc phòng, thiếu an ninh lãnh thổ. Xúm nhau ôm hết quyền hành, làm loạn, gây bất mãn trong QLVNCH, tạo biến động ngoài dân. Điều này khiến cho chính phủ Hoa Kỳ chán ghét vất bỏ lại “Hòn Ngọc viễn Đông – Sài Gòn” cho CSVN lượm. Thật sự là như vậy.Thật sự hơn thế nữa, sau Tết Mậu Thân điệp viên CSVN chỉ còn lại 1 % cả miền Nam nhưng, Cụm TB A22, thì còn nguyên trong Dinh Độc Lập. Chính đó là những con “Nội Trùng” trong bản thân Đệ II VNCH của Tổng Thống Thiệu, mới là đáng nói. Giống như bản thân GHPGVNTN -VHĐ VPII HN bị một số sư sãi đầy tham, sân, si và con nội Trùng Võ V Ái phá nát. Thật đúng như lời các bác sĩ nói “mọi thứ bịnh nội tạng mau chết hơn là ngoài da”.

 

CỤM TÌNH BÁO A 22 HỌP MặT

   TẠI TÒA KHÂM HUẾ ĐÃ BỊ BẮT.

 

  Sau khi tường trình công tác thăm viếng Hoa Kỳ, hội kiến TT Jonhson cho TT Thiệu được biết, cỡ một tháng sau. Ông Cố Vấn Huỳnh Văn Trọng, đã tập trung hầu hết những cá nhân đã từng bị giam giữ tại Tòa Khâm trước đây, do can tội hoạt động tình báo CS. Cuộc họp này được diễn ra tại Tòa Khâm Huế, do ông TRỌNG chủ tọa, nói lên rằng; buổi họp toàn là các điệp viên thuộc cụm TB A 22, được trá hình là bàn luận công việc nhà thờ của hai LM Hoàng Quỳnh và Lê Hữu Từ. Không ngờ bị tình báo CIA  Mỹ theo dõi, biết được tất cả người trong buổi họp đó, đều là tình báo CS cũ, đã bị bắt giam tại Tòa Khâm trước kia. Cho nên CIA tiến hành mở lại hồ sơ từng cá nhân.Vì sự hoạt động tình báo của mỗi ng\ười CS trong nhiều nơi, quá ư phức tạp, do vậy CIA phải mất một năm, mới hoàn tất xong hồ sơ. Sau đó chuyển giao cho Tổng Nha Cảnh Sát. Đến tháng 7-1969, Tổng Nha Cảnh Sát VNCH đã thành lập một đơn vị, có mật danh S2/B. Rồi tiến hành vào ngày 24-7-1969, bắt giữ gần hết điệp viên CS của Cụm Tình Báo A22, nằm vùng trong các xóm đạo, ngoài dân, đi lễ nhà thờ.Tất cả trên 40 điệp viên nòng cốt, chỉ đạo hoạt động đều bi bắt hết, như các ông, Vũ Ngọc Nhạ, cố vấn Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe, Nguyễn Xuân Đồng, v.v…kể cả bà Cả Nhiễm đặc trách giao liên, cũng bị bắt. Riêng Cụm trưởng Nguyễn văn Lê đã tẩu thoát, ẩn trốn trong các xóm đạo. Cụm TB A22, đã bị phá vỡ toàn bộ.

   

    

LỜI KHAI CỦA NHỮNG BỊ CAN TẠI TÒA

ÁN MẬT TRẬN VÙNG III CHIẾN THUẬT.

 

   Tất cả bị can, đều đồng loạt khai rằng: “Mọi việc làm của chúng tôi; nhất cử nhất động, đều thi hành đúng theo chỉ thị, ủy thác, do lệnh của hai đời Tổng Thống Diệm, Tổng Thống Thiệu và các Tổng Trưởng, Thứ Trưởng, Tướng Lãnh, Đại Tá tại Bộ Tổng Tham Mưu, Nghị Sĩ, Dân biểu, Tỉnh trưởng, Tư lệnh 4 vùng chiến chiến thuật và cả CIA nữa”. Tất cả Chánh án của Tòa án Mật trận vùng 3 chiến thuật, đều bị bối rối trước lời khai của những can phạm điệp viên CS. Như vậy, làm sao có thể gởi trác đòi Tổng Thống Thiệu, ông Tổng trưởng này, Nghị sĩ kia,Tướng vùng nọ…ra tòa để đối chất ! Do vậy không kết tội tử hình được, vì không hội đủ yếu tố tội phạm, cho nên phảỉ tuyên án chung thân khổ sai cho các ông Nhạ, Trọng, Thúy, Ruật, Hòe, Đồng…Số còn lạ, ngồi tù từ 5 năm, đến 20 năm. Khi bị Quân Cảnh dẫn ra xe bịt bùng, tất cả dửng dưng, tỉnh táo, không ai có vẻ buồn lo, sợ hãi nào cả, vẫn nở nụ cười trên môi. Ông NHẠ còn quay sang các ký giả Việt Mỹ nói: “Cho tôi gởi lời thăm ông Thiệu, nhé”. Đó vụ án lớn nhất mang tính lịch sử có một, không hai tại VN giữa thế kỷ 20.

   Sau khi nhận được bản án của những điệp viên CS, bị Tòa Án MTVBCT kết tội chung thân khổ sai, 20 năm, 5 năm, do Tòa Án MTVBCT gởi đến,Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cảm thấy từ ngạc nhiên này, đến ngạc nhiên khác, không tin có thật. Bởi vì ông Thiệu nghĩ rằng; các ông Nhạ, Trọng, Thúy, Ruật…là những  tín hữu Công giáo, làm gì có chuyện theo CS, làm điệp viên ám hại quân, cán chính VNCH. Ông vẫn cho rằng “CIA dàn cảnh”, để vu khống, mà rút quân Mỹ về nước. Do vì không tin, cho nên Tổng Thống Thiệu đổi ông tỉnh trưởng Côn Sơn về đất liền, đưa người thân của mình ra đó,  chăm sóc vật chất, sức khỏe cho tất cả điệp viên CS Cụm TB A22 tại nhà tù Côn Sơn nói chung, hai ông NHẠ, TRỌNG nói riêng, như là hàng thượng khách (con cái Chúa, của GH Thiên Chúa VN ). Nói rằng; hai ông Nhạ,Trọng và các ông khác trong Cụm TB A22 bị ngồi tù tại nhà tù Côn Đảo.Thật sự chẳng có ông nào bị nằm trong những căn phòng tối đen, sàn xi măng lạnh ngắt, đầy mùi xú uế, nồng nặc chất vôi, muỗi mòng cắn rứt…Tất cả đều ở trong những căn nhà có phòng ngủ sạch sẽ, thơm tho, có phòng tắm, cầu xí, tự do đi lại chung quanh nhà, được có người phục vụ cơm bưng, nước rót ba bữa thường nhật.Vì thế, sau khi được trao trả về Lộc Ninh, được báo chí quốc tế phỏng vấn, ông Nhạ tuyên bố rằng: “Thời gian ở Côn Đảo, như là một cuộc dạo chơi tại Thiên Đàng”.

 

  a-  Điệp Viên  CSVN  Phạm  Xuân  Ẩn

 

  Phạm Xuân Ẩn, là trí thức miền Nam. Quê quán xã Bình Trước, Biên Hòa, sinh ngày 12-9-1927, là thời điểm dân tộc Việt Nam bị dưới ách đô hộ của Thực dân Pháp. Chính đó là năng lực khiến ông tham gia Cách Mạng VN. Cho nên sau khi ra trường College de Can Tho, ông gia nhập đoàn Thanh Niên Tiền Phong vào năm 1948. Từng bước hoạt động tình báo vào các cở Địch. Bước đầu tiên, làm thơ ký cho hãng dầu lửa Calltex. Bước hai, đó là nhân viên Quan Thuế Sài Gòn trong vai trò điều nghiên vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự từ Pháp sang VN. Bên cạnh ông có đến 14 ngàn Điệp viên được cài vào, cùng hoạt động với ông trong năm 1950.

   Tình báo Phạm Xuân Ẩn hoạt động đơn phương tại miền Nam, nhưng phải ra chiến khu để gặp các Cán bộ CS cao cấp để nhận chỉ thị, cho nên ông ra Chiến khu D (đông bắc Biên Hòa, tây bắc Ma Đa Gui) năm 1952. Tại đây được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giao cho trách nhiệm tình báo chiến lược vì ông có khả năng văn hóa và có tấm lòng vì dân, vì nước. Đến 1953 ông xuống Cà mâu, vào rừng U Minh. Tại đây được ông Lê Đúc Thọ kết nạp vào Đảng, sau đó về lại Sài Gòn tiếp tục hoạt động tình báo.

   Sống tại Sài Gòn, nhằm lúc quân Pháp bị thiếu lính cho các nơi; như Điện Biên Phủ, ông Ẩn bị gọi nhập ngũ đầu năm 1954. Nhờ biết tiếng Pháp, ông Ẩn được Pháp trưng dụng vào làm thơ ký Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Bộ Tổng Hành Dinh Liên Hiệp Pháp tại Camps Aux Mares (Thành Ô Mai ). Tại Camps Aux Mares, ông Ẩn giao duyên với Đại Tá Edward Landsdale, trưởng phái bộ đặc biệt của Mỹ (SMM) trên hai cơ sở Viện Trợ Mỹ (US.MAAG ) tại Sài Gòn và CIA tại đông dương.

   Năm 1955, thời điểm Ngô Đình Diệm truất phê Bảo Đại, thành lập Đệ I Việt Nam Cộng Hòa, có quân đội. Số sĩ quan trong quân đội VNCH đầu tiên của chính phủ Diệm, là do Pháp chuyển qua. Do đó ông Phạm Xuân Ẩn được Phái Bộ Cố Vân Quân Sự Mỹ đề nghị tham gia soạn thảo tài liệu Tham Mưu, Tổ chức tác chiến, Huấn luyện, Hậu cần cho quân đội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tham gia thành lập cái khung của 6 sư đoàn đầu tiên của QLVNCH, mà nòng cốt là Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt, nguyên là trong quân đội Pháp chuyển qua. Đồng bào VN hải ngoại thấy sao; chuyện điệp viên CSVN Phạm Xuân Ẩn đứng ra làm những việc trên: huấn luyện viên, tài liệu tham mưu, tác chiến,..cho QLVNCH ?

   Phạm Xuân Ẩn còn được các cấp lãnh đạo Đệ I VNCH lúc bấy giờ giao cho nhiệm vụ hợp tác với Mỹ trong việc chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng Tư lệnh tương lai, đưa sang Hoa Kỳ đào tạo. Trong số đó có Nguyễn văn Thiệu sau này là Tổng Thống VNCH. Tất cả mọi cơ cấu tạo thành 6 sư đoàn QLVNCH, lại do điệp viên CSVN Phạm Xuân Ẩn chăm lo chu toàn mọi việc từ A đên Z, mới là lạ kỳ! Chuyện khó tin, mà có thật. Hèn chi bị CSVN giải thể toàn bộ Đệ II VNCH vào sáng 30-4-1975, mà khối Thiên Chúa Giáo VN không thấy, cứ to mồm đổ hô cho Phật giáo VN theo CS.

 

     b- PHẠM XUÂN ẨN Du  Học Hoa Kỳ.

 

   Ông Ẩn được hai đồng chí của ông, là Mai Chí Thọ và Trần Quốc Hương (Mười Hương người thân cận với Ngô Đình Cẩn) chỉ đạo du học ngành báo chí tại Hoa Kỳ vào 10-1957, là cơ hội ngàn vàng được đi khắp nơi, để tiếp xúc với nhiều nhân vật quan trọng về quyền lực trong tay. Sau hai năm học, ông Ẩn về nước năm 1959. Đúng là ngôi vị báo chí, luôn tiếp cận với các nhân vật có quyền lực. Do đó Phạm Xuân Ẩn được bác sĩ Trần Kim Tuyến, giám đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị Và Văn Hóa Xã Hội (Thực chất, đó là cơ quan mật vụ của Phủ Tổng Thống, mà giám đốc là cán bộ CSVN)  biệt phái qua làm việc tại Việt Tấn Xã, phụ trách quan hệ với các phóng viên ngoại quốc đang làm việc trong đó. Phạm Xuân Ẩn làm việc cho một số hãng Thông Tấn Xã ngoại quốc như hãng Thông tấn Reuters từ năm 1960-1964, cho tuần báo Time từ 1965-1967. Cũng như có cộng tác với báo The Christian Science Monitor. Phải nói rằng; ông Phạm Xuân Ẩn, là người Việt duy nhất, lại là điệp viên CSVN, chính thức làm việc cho tuần báo Time của Mỹ.

 

 

        c- QÚA TRÌNH TÌNH BÁO CỦA PHẠM  XUÂN ẨN

              Trong Hai Chính Thể VNCH Từ Năm 1959-1975.

 

   Bằng sắc thái Phóng Viên Báo Chí bên ngoài ở bản thân, ông Phạm Xuân Ẩn đã được tiếp xúc với nhiều nhân vật cao cấp trong hai đời chính phủ VNCH Diệm, Thiệu, một cách sâu rộng ở các lãnh vực: Sĩ quan cấp cao,tình báo trung ương, Cảnh sát Tổng nha, An ninh quân đội, Bộ trưởng, Tướng tư lệnh vùng, Dân biểu, Thượng, Hạ Viện, Tỉnh trưởng, và  kể  cả CIA. Nhờ đó mà ông ẨN đã thu thập  nhiều tin tức quan trọng từ những cơ quan nói trên.Tổng số tài liệu ông ẨN thu thập được từ 1959- 1975 (17 năm) là 498 bản đủ loại: chụp hình, photo, nguyên bản, rồi gởi ra Hà Nội thông qua Trung Ương Cục Miền Nam. Khiến cho Đại Tướng Võ Nguyên Giáp hoát lên “ Chúng ta đang ở trong Phòng Hành Quân của Hoa Kỳ”. Sáng ngày 30 -1975, ông Ẩn đứng chứng kiến xe tăng của lực lượng Cách Mạng CSVN húc đổ cửa Cổng Dinh Độc Lập. Gần cả năm sau, cán bộ chính quyền mới tại Sài Gòn (UB Quân Quản). mới biết được ông Ẩn là đồng chí của mình.

 

          d-Tình Báo CSVN PHẠM NGỌC THẢO

 

   1-Thân thế. Ông Thảo dân cư Sài Gòn, sinh 14- 2-1922. Gia đình ông đều có quốc tịch Pháp, cha ông tên Phạm Ngọc Thuần địa chủ giàu có, theo đạo Thiên Chúa.Tên Pháp là Albert Thảo, con thứ 8 trong gia đình. Đậu tú tài ở Sai Gòn, ra học ở Hà Nội đậu bằng kỹ sư Công Chánh, liền bỏ quốc tịch Pháp, theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Được chính phủ Việt Minh đưa vào học trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn. Sau khi tốt nghiệp, ông Thảo về Phú Yên nhận nhiệm vụ giao liên, tại đây ông Thảo đưa một cán bộ về Nam, đó là Lê Duẫn. Ông Thảo được làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 410 Việt Minh thuộc Quân Khu 9. Thời gian chức vụTiểu đoàn trưởng, ông Thảo dạy chiến thuật du kích cho các ông Trần văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê văn Kim. Những ông này đã trở thành tướng lãnh của QLVNCH. Qua đây, thêm một lần nữa cho ta thấy các Tướng lãnh QLVNCH lại được tình báo CSVN huấn luyện cho về chiến thuật, chiến lược quân sự cơ bản. (các ông Cần laoThiên Chúa cực đoan hải ngoại có thấy nhục không ?)

   2-Hoạt động tình báo. Sau Hiệp định Genève 1954, Thảo được Lê Duẫn chỉ thị không tập kết ra Bắc, ở lại miền Nam để hoạt động tình báo. Từ đó Thảo đội lốp dân sự dạy học tại các trường tư thục Sài Gòn trong những năm 1954- 55. Thảo bị các ông Trần văn Đôn, Lê văn Kim, Nguyễn Khánh biết Thảo vốn là Sĩ quan quân đội Việt Minh, người Thầy dạy mình về chiến thuật du kích, cho nên Thảo bị Đại Tá Mai Hữu Xuân, giám đốc An Ninh Quân Đội VNCH lùng bắt, Thảo đều trốn thoát tại các xóm đạo.

   Để khỏi bị bắt, lại được an toàn cho việc tình báo, Thảo về Vĩnh Long, tìm gặp Giám mục Phêrô Ngô Đình Thục, do vốn quen biết với gia đình Thảo, do đó được GM Ngô Đ Thục xem như con nuôi, bảo lãnh cho Thảo và giúp cho nhiều việc trong đời sống như dạy học ở trường Nguyễn Trường Tộ, được phép đưa vợ con về sống tại Sài Gòn, làm việc ở Ngân Hàng bà Nhu, được chuyển ngạch sang quân đội với cấp bậc Đại Úy Đồng hóa, giới Thiệu với TT Diệm.

   3-Năm 1956. Được ông Huỳnh Văn Lang, Tổng Giám đốc Viện Hối Đoái, Bí thư Liên Kỳ Bộ của đảng Cần Lao giới thiệu,Thảo được cử đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long và Thảo đã gia nhập đảng Cần Lao.(cây dù lớn).

   4- Chức vụ và hành hoạt của Thảo trong QLVNCH. Tỉnh đoàn trưởng Bảo An Vĩnh Long, Tuyên Huấn đảng Cần Lao Nhân Vị, viết tài liệu Binh Pháp Tôn Tử, chiến thuật, chiến lược, nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy quân sự. Tất cả được hai ông Diệm, Nhu và các giới quân sự gốc Ki Tô chú ý. Đến 1957, Thảo được chuyển cề phòng nghiên cứu chính trị phủ Tổng Thống với cấp bậc Thiếu Tá, Tỉnh đoàn trưởng Bảo An Bình Dương, dự khóa Chỉ huy Tham Mưu ở Đà Lạt, giữ chức vụ Thanh Tra Khu Trù Mật 1960. Năm 1961 Thảo được thăng Trung tá, tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre). Thời gian này, Kiến Hòa trở nên ổn định, không còn bị phục kích, phá hoại nữa. Vì thế mà, Thảo bị tố cáo Cộng Sản nằm vùng, vì Thảo đã thả hơn 2 ngàn tù chính trị và liên lạc với bà Nguyễn Thị Định. Do vậy Thảo bị ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa, lại được cử đi học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Hoa Kỳ. Sau ngày Ngô Đình Diệm bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng lật đổ vào 1-11-1963, Thảo được thăng cấp Đại tá, làm Tùy viên Văn hóa báo chí trong HĐQNCM Dương văn Minh. Rồi Tùy viên văn hóa tại Tòa đại Sứ VNCH ở Hoa Kỳ.

   Năm 1965. Phải nói đây là thời điểm quyền lực của Nguyễn Khánh ở ngôi vị quốc trưởng, hay nói khác hơn Phạm Ngọc Thảo đã bị mất cây dù Che của anh em ông Diệm, cho nên Thảo đang ở tại Washington DC Hoa kỳ, thì bị Nguyễn Khánh gọi về, để bắt mà hành tội. Vì thế, khi về đến Tân Sơn Nhất, Thảo đào nhiệm, trốn trong các xóm đạo Thiên Chúa, rồi bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập, để tổ chức đảo chánh Nguyễn Khánh, nhằm mục đích triệt tiêu kế hoạch không tập xuống Bắc Việt vào ngày 20-2-1965, mà Khánh và Hoa Kỳ đã thỏa hiệp, do đó phải đảo chánh, lật đổ Nguyễn Khánh ngay trong ngày 19- 2-65 để cho dân miền Bắc sống trong bình an. Mặc dù Phạm Ngọc Thảo và tướng Lâm văn Phát đã điều động được xe tăng, quân đội đến chiếm đài phát thanh, trại Lê Văn Duyệt, bến Bạch Đằng, phi trường Tân Sơn Nhất suốt buổi sáng hôm ấy nhưng, không thành công, do Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn tuyên bố không ủng hộ. Trong khi đó Nguyễn Khánh đào thoát ra Vũng Tàu bằng máy bay Trực Thăng.

   Hai ngày 20, 21-2-1965, Hội Đồng Tướng lãnh họp tại Biên Hòa cho hai việc: 1- Đề cử Tướng Nguyễn Chánh Thi chỉ huy chống lại đảo chánh, do đó Tướng Thi ra lệnh Phạm Ngọc Thảo, Lâm văn Phát và 13 sĩ quan khác, phải ra trình diện trong vòng 24 giờ. 2-Quyết định giải nhiệm Nguyễn Khánh, đề cử tướng Trần văn Minh làmTổng Tư Lệnh QLVNCH. Nguyễn Khánh được Quốc trưởng Phan khắc Sửu ký sắc lịnh bổ nhiệm làm Đại Sứ lưu động vào ngày 22-2- 1965, nếu không nói rằng bị trục xuất ra khỏi nước. Nguyễn Khánh rời Việt Nam ngày 25- 2-1965, Phạm Ngọc Thảo cũng bỏ trốn luôn, ẩn núp tại các xứ đạo, để hoạt động bí mật.

Ngày 12-6-1965. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát trao quyền lãnh đạo quốc gia lại cho Quân đội. Hội đồng Tướng lãnh đề cử Tướng Nguyễn Chánh Thi. Tướng Thi không nhận, vì sợ Cần lao ám sát. Hai Tướng Thiệu Kỳ tình nguyện đứng ra lãnh đạo và thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (14-6-1965).Tướng Thiệu làm CT UBLĐQG, Tướng Kỳ làm CT UBHP Trung Ương. Chinh phủ của hai Tướng Thiệu Kỳ, gọi là Chính Phủ Quân Phiệt.

   Cộng Sản Phạm Ngọc Thảo Chống Phá Thiệu Kỳ. Chính phủ Quân Phiệt bị Phạm Ngọc Thảo ra tay đánh phá bằng tờ báo có tên Việt Tiến. Mỗi ngày phát hành 50 ngàn tờ. Nội dung, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Thiệu Kỳ, chống MỸ cứu nước.

   Tất cả phương tiện mà Phạm Ngọc Thảo được có trong việc chống MỸ và THIỆU, KỲ do hàng rào bảo vệ rộng lớn tại các xứ đạo Biên Hòa, Hố Nai, Gia Kiệm, Thủ Đức, Sài Gòn. Có nhiều Linh mục giúp đỡ in ấn và phát hành báo Việt Tiến. Những vấn đề; Thảo ẩn núp trong các Xứ đạo Thiên Chúa, được tín hữu và Linh mục giúp cho vật chất để Sống, phương tiện ra báo, phát hành chống Mỹ, Thiệu, Kỳ. Qua đây các ông cựu Tướng, Tá VNCH gốc Ki Tô giáo hải ngoại, có thấy các giới Thiên Chúa của các ông, đã giúp phương tiện cho CSVN đâm sau lưng chiến sĩ VNCH, hay, không ? ? ? Hay cứ vẫn to cái mồm cho rằng Đệ II VNCH bị tan hàng do Phật Giáo theo CSVN ? Cục An Ninh Quân Đội báo cáo lên ông Thiệu nhưng, ông Thiệu không tin, cho rằng ; do một số Quân nhân Phật tử cấp Tá, Tướng trong QLVNCH tạo ra để chống và hạ bệ chính phủ Quân Phiệt của ông. Đến khi thấy được tờ báo Việt Tiến và nhiều ông Tá lớn, Tá nhỏ Cần lao của ông đến trực tiếp tường trình. Sau đó mới nhận ra Tình báo CSVN giả vờ theo đạo Chúa , xin rửa tội, được các Linh mục nhiệt tình đón nhận. Hai ông Thiệu Kỳ liền kết án tử hình Thảo và rao truyền cho những ai bắt được Thảo, sẽ được trọng thưởng 3 triệu đồng VN.

  Trước nhiều hiện tượng đau khổ ở bản thân của Phạm Ngọc Thảo, làm cho ông Võ Văn Kiệt (Sáu Dân ) biết được, cảm thấy thương tâm, nên khởi lòng đi tìm ông Thảo, để đưa về an dưỡng ở chiến khu. Sau khi tìm gặp được, ông Kiệt nói ra ý tưởng trên, nhưng ông Thảo nói “vẫn còn khả năng”. Lời Võ Văn Kiêt kể lại: “ Tôi thấy Thảo gặp khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu, nhưng anh bảo vẫn còn khẳ năng đảo chánh để ngăn chận việc đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam”. Biết rõ Phạm Ngọc Thảo là CSVN nằm vùng tình báo, chứ không phải tín hữu Thiên Chúa theo CSVN, ông Thiệu ra lịnh An Ninh Quân Đội phải tìm bắt và thủ tiêu Phạm Ngọc Thảo. Do vậy, Thảo trốn khắp nơi trong các xứ đạo, vẫn bị ANQĐ theo dõi, biết được. Cuối cùng Thảo bị bắt vào lúc 3 giờ sáng, ngày 16-7-1965 tại Đan Viện Phước Lý (Thiên Chúa), xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa trong lúc Thảo vừa ra khỏi Viện Phước Lý. Thảo bị ANQĐ đem thủ tiêu tại con suối nhỏ gần TP Biên Hòa. Nhưng Thảo chưa chết, bị ngất xỉu do đạn trúng ở càm. Vì thế Thảo lê lết đến một nhà thờ không xa lắm. Tại đây, Thảo được Linh mục Cường, Tuyên úy của Dòng Nữ Tu Đa Minh cứu chữa. Không may, bị ANQD phát giác, Thảo bi bắt đưa về Cục ANQĐ tại đường Nguyễn Bỉnh Khiêm Sài Gòn. Tại đây, Thảo bị tra tấn thật dã man.Thảo đã qua đời vào đêm 17-7-1965,  ở tuổi 43.

   Quý đọc giả thấy nhân vật Phạm Ngọc Thảo như thế nào ? Quý vị phải thấy, thì mới biết thủ phạm phá nát chế độ VNCH từ thời Diệm đến thời Thiệu. Thủ phạm đó chính là những ông Ki Tô Giáo VN, chứ không ai vô đó. Rõ ràng trung ương đã biết ông Thảo là CS chính tông qua những hành động giao liên với bà CS Nguyễn Thị Định, thả 2ooo tù chính trị tại Kiến Hòa, thì tại sao không bắt ra tòa, xử lý đích đáng cái tội CS, lại cử ông Thảo đi học khóa chỉ huy tham mưu tại Hoa Kỳ ? Cũng như yểm trợ ngân quỹ để in tờ báo Việt Tiến mang nội dung chống phá chế độ VNCH, trong lúc bị ANQĐ truy lùng, rồi tìm thấy trong  Đan Viện Phước Lý của các Sơ tại xã Vĩnh Thanh, quận Nhơn Trạch, Biên Hòa ? Như vậy đồng bào VN các giới hãy chống mắt lên, mở tâm ra để thấy người Việt theo Ki Tô Giáo phá nát, làm sụp đổ chính thể VNCH. May mà nhờ được có tài liệu cụm Tình báo A22 CSVN trong Dinh Độc Lập ngày xưa, được CIA Mỹ lưu trữ. Bằng không, các ông Cần Lao, tín hữu Ki Tô VN tại hải ngoại tiếp tục há mồm la hét chửi bới chư Tăng, Phật tử.

 

Ai đưa những tay Tình báo “GỘC” Cộng Sản

          Vào Dinh Độc Lập? Chư Tăng PGVN ? Linh Mục ?

    Để cho đồng bào Tam Giáo được biết thêm, ai đưa các ông Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo, Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Trung Tá Đinh Văn Đệ, v.v…vào Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu? Từ đó hiện hữu ở các đơn vị, như tỉnh trưởng, tham mưu phó Bộ Tổng Tham Mưu, v.v…Trước khi họ vào các cơ sở quân sự và hành chánh chính trị, họ vào nhà thờ. Vậy mà ông Nhâm cứ la ó lên do Chư Tăng Phật Giáo. Ông Liên Thành còn ra rả như các Mệ bán cá chợ Đông Ba: “Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu là cộng sản.” Ông Liên Thành nói liên tục, lập tới lập lui “Trí Quang, Đôn Hậu là cộng sản”, không cho người khác nói. Đúng là ngôn ngữ dòng họ Vua Việt bị lai căn, mất gốc Hùng Vương! Khi nghỉ hơi, thì lại nói “các ông Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ,…là chuyện của Trung Ương. Có người ngồi dưới nói lớn “ông Liên Thành là người học đòi theo ông Nhâm là viết sách vu khống Chư Tăng theo cộng sản để bán sách kiếm chút cháo, chứ ông ta không biết đến chuyện CS vào Dinh Độc Lập đâu, vì cấp bậc quá thấp, làm sao biết được! (Ở buổi ra mắt sách BĐMT.

 

 

 

ĐỒNG BÀO VN CÁC GIỚI NÊN BIẾT.

 

     Trên đời này, mọi việc lớn, nhỏ được thành công, nhất là các việc chính trị, quân sự, tất cả đều do trí hiểu biết và mọi người (tập thể toàn dân ) đem tâm đoàn kết nhau, ắt sẽ thành công lớn hay nhỏ. Ngược lại có kẻ đem lòng phá rối, ganh tỵ, đánh phá muốn chiếm đoạt riêng cho mình, nhất định sẽ bị tan rã. Nói như ngạn ngữ VN “ Con Sâu làm rầu nồi canh”. Nồi canh của dân Việt ta bị một con sâu rơi vào, lấy đũa vớt ra, rồi cả nhà ăn canh. Nồi canh bị hằng chục con sâu rơi vào, làm sao ăn được vì bị hôi thúi, đem đổ. Nếu không nói rằng; Nồi Canh VNCH sau CM 1-11-1963 đang ngon, thơm tuần tự bị hôi thúi, do hằng ngàn Cần Lao (không dám gọi là Sâu) lặn vào đó gần 10 năm, quậy cho hôi, thúi, cho nên Hoa Kỳ đã vất bỏ. Qua đó cũng cho ta thấy luôn phong trào đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của GHPGVNTN không thành là do Cần Lao Thiên Chúa Giáo trong và ngoài chính phủ quân phiệt Thiệu - Kỳ cấu kết nhau phá vỡ, ép Tướng Kỳ đem quân tiêu diệt. Tất cả toàn quân, cán chính, và người dân đều thấy phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử QHLH của Phật Giáo năm 1966 tại Đà Nẵng và Huế, là chơn chánh, đúng như các giới chính trị Hoa Kỳ đã thấy, đã viết ra đề  tài “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam” và lưu trữ trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Washington DC, càng thấy rõ nền văn minh VĂN KHỐ của Hoa Kỳ nói riêng, thế giới nói chung, đều có lưu trữ những dữ kiện có tính cách lịch sử đã xảy ra tại một đất nước mình hay ở nước khác mà các giới chính trị, tình báo Mỹ có mặt, đều quan tâm ghi lại, lưu trữ từ một lá thư của một nhân vật tại một xứ sở nào đó, có tầm cỡ lãnh đạo tôn giáo, hay xã hội gửi cho các giới chính trị ở xứ khác… cho đến những dữ kiện lớn mang tính văn hóa, xã hội, chính trị… đều được các giới văn hóa, chính trị, quân sự sở tại hay hải ngoại ghi chép và lưu trữ. Chẳng hạn như lá thư của Giám Mục Ngô Đình Thục bằng tiếng Pháp gửi cho Đô Đốc Jean Decou, Toàn Quyền Đông Dương vào ngày 21 tháng 8 năm 1944 (nội dung kể về công trạng của cha là Ngô Đình Khả theo chân hành quân của Pháp dưới thời Nguyễn Thân, chống lại Phan Đình Phùng tại Nghệ An và Hà Tỉnh). Lá thư của ông Thục được các sĩ quan Pháp thời đó lưu giữ trong văn khố Pháp gần cả trăm năm. Các giới văn học, sử học Việt Nam ta từ xưa trước 75 trên quê hương và hải ngoại, mỗi khi viết về bất cứ đề tài gì, đều tìm đọc các tài liệu tại các thư viện nhà nước và hải ngoại (Anh, Pháp, Mỹ, Đức…) để nhìn thấy những sự kiện then chốt ở quá khứ có thật.

   Vậy mà các ông Lữ Giang, (Tú Gàng) Liên Thành, Đặng Văn Nhâm, sao không đọc tài liệu của giới CIA, Tòa Đại Sứ Mỹ đã nói về hai cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 - 1966 là chân thật, lại viết ra theo cảm tính, sai sự thật lịch sử như vậy? Gọi sự không đọc nên viết sai, không thấy nên nói bậy, nói dở của các ông là “ĐUI MÙ Ý THỨC.” Có tai mà không nghe những lời bình luận của các giới truyền thông Anh, Mỹ nói về hai cuộc tranh đấu Phật Giáo hồi xưa 1963 - 1966, là chân thật không do CSVN xúi giục. Có mắt mà không thấy chính quyền quân phiệt do Cần Lao chỉ đạo, để xây dựng nước Chúa, sẽ không thắng được Cộng quân trong quá khứ. Có mắt mà không thấy toàn quân và dân chúng nước Việt Nam Cộng Hòa không muốn, không thấy Cần Lao ôm hết Tư Pháp, Lập Pháp, và Hành Pháp trong Đệ II VNCH của TT Nguyễn Văn Thiệu, là nguyên nhân làm cho Hoa Kỳ chán ghét rút quân cắt viện trợ, đưa Việt Nam Cộng Hòa của ông Thiệu đến chỗ tan rã. Vậy mà các ông không thấy, do vì không có trí tuệ, quá u mê đần độn, nên không thấy Hoa Kỳ chán ghét vất bỏ, lại cho rằng Phật Giáo theo cộng sản, nên chi Đệ II VNCH bị tan rã toàn bộ.

   Đến khi ra hải ngoại, là những nước văn minh văn khố, nước nào cũng có lưu trữ vô số sự kiện khủng hoảng từ Tây sang Đông, trong đó VN có hai cuộc đấu tranh Phật Giáo Miền Nam năm 1963-1966, được các giới chính trị trong chính phủ Mỹ Washington D.C và Tòa Đại Sứ Mỹ ghi lại những sự kiện lịch sử đó và lưu giữ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Tài liệu ấy có tên “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam.” Trong đó các giới chính trị Mỹ đã xác định hai cuộc đấu tranh của Phật Giáo Nam VN, là mong muốn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, phải thật sự là chính thể tự do, dân chủ nhân quyền đối với toàn dân trong đó có Phật Giáo thì, hy vọng mới chiến thắng cộng sản để được tồn tại .Tư tưởng đó được nở rộ trong tâm tư chư Tăng, Ni, và toàn dân Nam VN sau khi lực lượng quân sự Mỹ có mặt khắp nơi toàn cõi Nam VN, như là những trận mưa rào làm cho vạn vật được tươi mát sống dậy sau những ngày bị nắng hạn oi bức triền miên.

    Do vì đã tiến gần đến và thân thiện sâu đậm với các giới chức Mỹ. Vì thế sau 30-04-1975, chư Tăng trong hội đồng lưỡng viện –GHPGVNTN – VHĐ đều bị nhà cầm quyền CSVN giam cầm tù, đày chết chóc. Điều đó đã được toàn dân VN trên cả nước và hằng triệu Phật tử,Tăng, Ni, ai cũng biết đến. Các giới chính trị Mỹ ở Washington DC đều biết rõ hơn hết.Tại sao các ông Cần Lao Thiên Chúa không biết ? Nhất là ông Liên Thành tự nói rằng sĩ quan tình báo, sao không biết ? Do không biết nên nói bậy, viết bậy, bị ông Bảo Quốc Kiếm vạch cái mặt dốt ra cho thiên hạ thấy.

    Do vì lòng hận thù Phật Giáo vô cớ, qúa độ, mà những người Việt theo Thiên Chúa Giáo hải ngoại, thuộc nhóm cực đoan, trong đó có ba ông Lữ Giang, Liên Thành, và Đặng V Nhâm không thấy, không đọc đến tài liệu “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam.” Hay đã thấy, đã đọc rồi, nhưng nghề nghiệp con buôn chính trị, tôn giáo, nên chi ba nhân vật L Giang, L Thành, Đ V Nhâm đã bẻ cong ngòi bút, viết theo toa đặt hàng của các nhóm Thiên Chúa cực đoan luôn tìm cách đánh phá Phật Giáo (HT Thích Trí Quang) để trả thù dùm cho ông Diệm, đúng như lời ông Diệm đã dặn dò các Tướng Cần Lao Thiên Chúa trả thù dùm cho ông, ngay sau khi bị Đại Tá Nguyễn Chánh Thi làm cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960. Vấn đề những nhóm Công Giáo VN cực đoan tìm cách trả thù Phật Giáo (HT Thích Trí Quang) được thấy rõ ở ba ông Cần Lao nói trên vào thời điểm hằng ngàn cựu tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO giữa khoảng 1995 và năm 2001, cũng là lúc phong trào giáo dân Thiên Chúa Giáo vùng lên đánh phá Phật Giáo VN từ trong nước ra tới hải ngoại, lấy cộng sản VN làm tiền đề chống phá từng cá nhân Phật tử và chư Tăng. Chư Tăng bị nhóm Thiên Chúa Giáo cực đoan đánh phá nhiều chiêu độc ác nhất đối với hai vị danh Tăng, đó là HT Thích Nhất Hạnh, HT Thích Trí Quang, bởi vì hai vị danh Tăng ấy được tất cả chính khách chính trị quốc tế hết lòng thương kính, tôn trọng như bậc Thánh.

                                    Hai Hành Động Sai Lầm Lớn

                        Của Tập Đoàn Thiên Chúa Giáo Việt Nam

     

     Một-- Hành Động Bắt Ép Dân Việt Cải Đạo.

    Người trong đảng Cần lao, là người Thiên Chúa gốc (đạo nằm). Tuy nhiên, cũng có một số sĩ quan, viên chức chính quyền gốc Tam giáo xin rửa tội, theo Đạo Chúa, (đạo đứng) được vào Đảng Cần Lao Nhân Vị, được cấp thẻ đảng, là thông hành xuyên suốt và quyền lực muốn chi được nấy,  phương tiện lên chức, lên quyền rất mau không cần khoa bảng văn hóa, công lao chiến trận gì cả. Điều này cho ta thấy các Tướng Tá Cần Lao chỉ huy các cơ sở quân sự hậu phương như Bộ Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu, Trung tâm huấn luyện Tân Binh, trường Võ Bị. Còn tỉnh trưởng, quận, huyện trưởng cũng do các ông Cần Lao dân sự. Tất cả các Tướng Tá gốc Phật Giáo không chịu rửa tội theo đạo Chúa bị đưa ra chiến trường chỉ huy quân sự.Trung tâm huấn luyện học thuyết Nhân vị tại Vĩnh Long, được xem là trụ sở của Đảng Cần Lao Nhân Vị. Nơi ấy là chỗ huấn luyện cho các cấp Tướng, Tá, dân sự, chính trị chính quyền cao cấp Cần Lao, để biết cách thức phụng sự hai GH Ki Tô La Mã, VN và lúc nào cũng sẵn sàng tri hành tinh thần vinh danh Chúa bằng cách dụ dỗ người dân Tam giáo trong quân đội và ngoài dân ai muốn được có quyền lợi vật chất, hãy “cải đạo” theo đạo Chúa, vào đảng Cần Lao… khi ở vai trò chỉ huy quân sự, tỉnh trưởng, quận trưởng, xã trưởng đều thi hành tôn chỉ cải đạo do Cần Lao và GH TC VN đưa ra bắt phải thi hành. Chứ chẳng có bài học nào về văn hóa, do vậy không hành động được tình báo vào đối phương, đúng như đời có câu:  “Có văn có chất mới thật con người”. Do vì không có chất văn hóa, cho nên không có trí thông minh, nhanh tay, lẹ mắt tình báo vào đối phương. Như Lôi Hổ VNCH nhảy toán ra Bắc, chẳng những không hoạt động, tất cả đều bị CS bắt hết không sót một người. Phải nói “QUÁ  Ẹ”. Vậy mà chê CSVN là Lớp Ba trường làng. Đời có câu “Cha nó bị Lú, còn có Chú nó khôn”. Mặc dù khôn lõi, vẫn là khôn để được có nhiều mối lợi, còn hơn bị , chả được ích lợi gì ! Rõ ràng chốp bu cả hai đời Đệ I & II CNCH toàn là Cần Lao Thiên Chúa quá ham mê dụ dỗ người vào đạo Chúa để vinh danh Chúa, làm cho tâm ý bị Lú (đui mù ý thức),  nên chi không thấy cái hại mai sau. Đích thực, các Lm, Trí thức Ki Tô, Cần Lao đã đưa CSVN vào Dinh Độc Lập, để rồi bị họ tiêu diệt Đệ II VNCH vào mùa xuân 1975.

   Vấn đề “cải đạo” dưới thời Đệ I VNCH của Tổng Thống Ki Tô Ngô Đình Diệm, là một chính sách có chủ trương, hệ thống trên, dưới rất khắc khe, không tha thứ, sẵn sàng bang bố quyền lợi đối với toàn dân Tam giáo, ai cúi đầu xin rửa tội, cải đạo. Ngược lại sẵn sàng hành quyết. Chính sách tàn ác, vô nhân đạo này, đã làm cho hai vị trí thức người Mỹ: Đó là Father-Confessor, Đức Cha Giải Tội của ông Diệm khi tạm trú ở Mỹ và Tiến Sĩ Wesley Fishel, GS Đại học Michigan State University- Hoa Kỳ. Hai vị trí thức trên vốn có cảm tình và kết thân với ông Diệm khi ông Diệm sống tại Mỹ vào những năm 1950- 1954.

Riêng GS Wesley Fishel, thì mời ông Diệm giữ chức tham vấn Đông Nam Á cho viện Đại học. Nhờ đó mà ông Diệm đã tìm được nhiều hổ trợ chính trị ở các giới Thiên Chúa giáo và chính quyền Hoa Kỳ, vận động cho ông về làm Thủ Tướng chính phủ QGVN Bảo Đại vào tháng 7-1954. Để đền ơn, ông Diệm mời GS Fishel làm cố vấn và GS Fishel đã trở thành người thân tín nhất của ông Diệm ngoài gia tộc. Sau 5 năm (1954-1958) cố vấn, GS Fishel về Hoa Kỳ. Đến 1959 GS Fishel trở lại Nam VN thăm ông Diệm. Trong thời gian lưu lại VN, GS Fishel đi thăm nhiều nơi, gặp nhiều viên chức quân sự, chính trị VNCH. Qua sự gặp gỡ và hỏi thăm các quan chức, GS Fishel nói : “ Trong các quân, cán chính VNCH mà GS Fishel đã quen biết, cố vấn huấn luyện nhiều năm trước, chỉ còn 3% ủng hộ ông Diệm”. GS Fishel cũng đưa ra một loạt dữ kiện: Nhiều ngàn sĩ quan QLVNCH đã cải đạo, vào Thiên Chúa giáo để tiến thân. Trong đó, chính Linh Mục Giải Tội cho ông Diệm cũng kể lại với nỗi buồn lớn ! GS Fishel nói, có 3 Bộ Trưởng cải đạo sang Thiên Chúa Giáo, trong đó có ông Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần.

GS Fishel nói rằng; ông rất buồn vì tình hình đó, tới nỗi ông gần như ước muốn phải chi ông đã không tới thăm Nam VN. GS Fishel nói rằng chuyến đi của ông tới vùng nông thôn đã cho ông thấy vài yếu tố hy vọng căn bản về tình hình (điển hình như huấn luyện xuất sắc và tinh thần cao độ của các Biệt Động Quân ở Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Nha Trang, và lý tưởng nhiệt tình thấy rõ của nhiều chiến binh mà ông đã gặp trong chuyến đi). (Phỏng theo tài liệu “Linh Mục Của TT Diệm Kể Với GS Fishel: Nhiều Ngàn Sĩ Quan VNCH Cải Đạo Để Tiến Thân- Hồ Sơ Mật 1963- Nguyên Giác dịch- Trang 126-129.)

  Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Trung Tâm Huấn Luyện này được thành lập từ năm 1956 tại Đồng Đế Nha Trang với tên BIỆT ĐỘNG ĐỘI . Sau đó dời ra Ninh Hòa (không rỏ năm nào) có tên  TTHL BĐQ. Trung Tâm Biệt Động Đội cũ lúc đó tại Đồng Đế Nha Trang, do Đại Tá Trần Vĩnh Đắc (người Nam, thân tướng không cao lắm, có chiều ngang, rất khỏe, da hơi ngâm, đường đường một tướng trai tráng, võ sĩ Nam Kỳ) làm chỉ huy trưởng Quân Trường. Quân Trường cũ BĐĐ tại Đồng Đế, được thay vào đó là Trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, do hai Tướng Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi (anh,em) thay nhau làm chỉ huy trưởng từ đó cho đến 30-4-1975.

   Điều đáng nói ở đây là Đại Tá Trần Vĩnh Đắc. Ông Đắc gốc Phật Giáo, cho nên ông ấy đã đến tham dự buổi khai mạc trại hè Gia Đình Phật Tử tỉnh Khánh Hòa trong vùng đất Đồng Đế vào mùa hè năm 1957, do Thượng Tọa Thích Thiện Minh chủ tọa. Nhân cơ hội này Đại Tá Đắc đem lòng kính trọng TT Thiện Minh. Sau đó Đại Tá Đắc đem một số binh sĩ biết nghề thợ mộc, thợ hồ đến chùa Long Sơn (chùa hội PG tỉnh Khánh Hòa) để sửa chữa cửa chánh điện và hành lang chùa cho rộng ra. Thời gian làm việc từ thứ hai đến thứ sáu, nghỉ thứ bảy, chủ nhật, gần hai tháng mới xong việc. Trong lúc các binh sĩ làm việc, Đại Tá Đắc nói chuyện với Thượng Tọa Thích Thiện Minh thật thân mật. Đến cuối năm 1957, Đại Tá Đắc bị trung ương thuyên chuyển về Bình Dương, giữ chức vụ Quản Đốc Trại Giam tù chính trị (quân, cán chính MTGPMN và Hà Nội) tại Phú Lợi (thường gọi Trại Giam Phú Lợi).

   Sở dĩ Đại Tá Đắc bị trung ương (văn phòng Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống) giáng cấp hạ tầng công tác (coi trại giam) như vậy, là do nhiều lần tiếp nhận khuyến cáo, mà không bằng lòng cải đạo gốc qua đạo Thiên Chúa. Đã không chịu cải đạo, lại còn đem lính đến sửa chùa Hội Phật Giáo Nha Trang. Vào khoảng mùa Thu 1958, Đại Tá Đắc có gởi một thư cho TT Thiện Minh, do một sĩ quan cấp Đại Úy đem đến. Sau đó TT Thiện Minh có nói nội dung trong thư ấy của ông Đắc cho TT Thích Huyền Quang lúc bấy giờ ở ngôi vị Đốc Giáo Tăng Học Viện Nha Trang được nghe, người viết cũng được nghe luôn. TT Thiện Minh lập lại lời Đại Tá Đắc : “ Trong khi thư con đến tay Thượng Tọa, cũng là lúc con đang trên đường ra La Vang, để nhận chịu phép rửa tội, cải đạo theo Ki Tô Giáo của Tổng Thống Diệm ! Kính bạch Thầy. Suốt mấy ngày nay, đêm đến con không ngủ được, cứ trăn trở, sáng ra không ngừng tư duy qua từng giây phút bởi cú điện thoại từ phủ Tổng Thống gọi đến, đầy tiếng nói quyết định… Cuối cùng con kính lạy Đức Phật trong lòng mình, nhắm mắt chịu phép rửa tội theo Chúa và nhận lãnh chức Tướng để được sống còn ! ”

   Nhận định về lời nói và thái độ của hai vị trí thức Mỹ: GS Wesley Fishel và Father-Confessor đối với ông Ngô Đình Diệm lúc còn ở Mỹ, cho đến Thủ Tướng và Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa tại Nam Việt Nam. Tôi muốn nói đến tâm địa của hai vị ấy rất tốt đối với ông Diệm trên cơ sở giúp sức cho ông Diệm được thành công ở một số việc như đã nói ở trang trước. Chứ không có lời nào khuyến khích TT Diệm đàn áp Phật Giáo để độc tôn Thiên Chúa Giáo, cũng không bày vẻ ông Diệm về cách thức bắt ép các cấp Sĩ quan, viên chức chính quyền VNCH cải đạo để được tăng lương, lên chức, lên tướng…  Mặc dù hai vị trí thức ấy, họ theo đạo Thiên Chúa Vatican nhưng, tâm họ luôn bình đẳng tôn giáo qua nhận thức đạo ai nấy giữ, tin theo, thờ phượng, không cậy quyền chức, khủng bố bắt ép người khác bỏ đạo gốc theo đạo mình, ai chống lại không theo, ra tay hành quyết. Vì thế cho nên, khi nghe, biết đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm Đệ I VNCH là tín hữu Ki Tô, đã dùng quyền lực bắt ép người dân Nam VN ngoài xã hội, trong quân đội và chính quyền VNCH phải cải đạo (bỏ đạo gốc) nhận chịu rửa tội, theo đạo Chúa của mình thì sống, yên ổn làm ăn, lên chức tước, quyền hành, bằng không thì bị đì, bị tù, bị chết. Thì hai vị ấy cảm thấy buồn trong lòng, nhưng thổ lộ ra lời! Điển hình rõ nét qua ba đoạn văn sau đây: “1từ kho hồ sơ đã giải mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, kể về cuộc nói chuyện trong tháng 1-1962 với Tiến Sĩ Wesley Fishel, trong nhóm chuyên gia của Đại Học Michigan State University, nói về tình hình chế độ Diệm ngày càng xa lìa dân với mức độ nguy hiểm…” “2…trong cuộc nói chuyện đó của chúng tôi về tình hình suy sụp thê thảm về vị trí chính trị của ông Diệm kể từ lần viếng thăm trước, lúc đó là năm 1959. Fishel nói rằng ông rất buồn vì tình hình đó, tới nỗi gần như ước muốn phải chi ông đã không tới thăm Việt Nam”  “3…Đức Cha Giải Tội (Father-Confessor) của ông Diệm; vị tu sĩ này đã ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu, và đã nói với TS Fishel thông tin đó với một nỗi buồn lớn”.(Hồ Sơ Mật 1963, trang 126-128- phần dịch của Nguyên Giác )

   Sở dĩ hai vị trí thức Ki Tô Giáo Vatican nói trên, ai cũng có hai tấm lòng vàng đối với ông Diệm như vậy, do họ là người ÂU, MỸ luôn có đạo lý nhân bản trong lòng. Nếu như hai vị ấy theo đạo Thiên Chúa bên Đông Âu (Chính Thống Giáo) tấm lòng vàng của họ càng cao hơn bội phần. Trong khi đó người Ki Tô Giáo Vatican Việt Nam trong quân đội, chính quyền VNCH và tại các xóm đạo, nhà Thờ, Chủng viện, Tu viện, Tòa Giám Mục, Tổng Giám Mục  khắp Miền Nam VN. Đa số đồng lõa theo, tiếp tay và cổ vũ hành động ác của anh, em ông Diệm đối với toàn dân Tam giáo Miền Nam VN ở hậu trường một cách thầm lặng. Tuy nhiên thiểu số có nỗi buồn và lời than giữa sa mạc ! Nếu không tiếp tay gián tiếp cho anh em ông Diệm, thì các Giám Mục, Linh Mục trong  Giáo Hội Thiên Chúa VN lúc bấy giờ ở ngôi vị Chủ chăn  bầy Chiên, phải ra văn thư khiển trách, và đồng loạt lên tiếng một cách thẳn thắn, can ngăn anh em ông Diệm đừng tiếp tục hành động ác đối với Phật giáo. Cớ sao tất cả chức sắc Ki Tô giáo VN ngồi im ?

   Đến chế độ Đệ II VNCH cũng vẫn là Tổng Thống Thiên Chúa giáo Nguyễn Văn Thiệu. Sau cái đầu tàu này, là hằng trăm toa tàu Ki Tô (nhân sự Vip) trong các Bộ, Nha, Sở, Ty, Tỉnh, Quận, Quân khu, Sư đoàn, Trung đoàn, v.v…Tuy nhiên cũng có một số rất ít nhân sự Phật Giáo nhưng, chỉ ở lãnh vực quân sự, không có trong chính phủ, chính quyền. Nếu không nói rằng; do tập đoàn Thiên Chúa Giáo trong quân đội và chính quyền VNCH đã ôm hết chức quyền, thao túng tạo mãi đủ cách. Lại thêm rước Cán binh tình báo CSVN vào Dinh Độc Lập và các nghành chính phủ, quân đội trong cái gọi là  để vinh danh Chúa. Chính đó là trái bom nổ chậm vào 30-4-1975, làm tan rã chế độ Đệ II VNCH.

Tóm lại chế độ Đệ I VNCH đã nằm xuống đến nay đã 51 (1963-2014). Tiếp đến Đệ II VNCH cũng bị tan hàng theo vào mùa xuân 1975. Tất cả đều giai do tập đoàn Thiên Chúa Giáo VN phá vỡ bởi thanh gươm của Cần Lao và mã tấu của CSVN trong Dinh Độc, cũng chỉ vì mê vọng xây dựng nước Chúa tại Nam Việt Nam như xây lâu đài trên cát.

   Những hành vi khả ố ấy của một số tín hữu Ki Tô Giáo La Mã VN cực đoan đã gây ra trong quá khứ được thấy rõ qua những tài liệu mật của các giới Hoa Kỳ đã viết ra trong lúc có mặt dưới 2 đời Tổng Thống Đệ I và II VNCH, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Những tài liệu ấy nay đã giải mật, được thấy rõ ràng, làm sao chối cãi được ! Ấy thế vậy mà một số ông cựu Cần Lao ngày xưa là :  Bộ trưởng, Quốc Gia Hành Chánh, Tỉnh trưởng, Quận trưởng,Trưởng

  Hai-  Chuyên Lo Xây Dựng Nước Chúa.             

   Tập đoàn Thiên Chúa Giáo  VN đã sai lầm về chuyện họ xây dựng nước Chúa ở Miền Nam VN, không lo đoàn kết dân tộc, lại cấu kết tham nhũng, ôm hết quyền chức, không cho các Tướng Tá Phật giáo…, làm cho chính phủ Hoa Kỳ chán ghét, bỏ rơi, cắt viện trợ, cuối cùng rút quân về nước, để cho chính phủ Thiên Chúa VNCH của ông Thiệu tự tính với nhau, thế là đã bị thua CSVN vào mùa xuân 1975. Tất cả việc làm bất trung bất nghĩa, ác đức của chính phủ Thiên Chúa VNCH của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đối với dân tộc Nam VN, đã bị toàn dân các giới biết hết. Do vậy, tập đoàn Thiên Chúa Giáo không biết nói gì hơn, nên đổ thừa VNCH bị tan hàng, là do chư Tăng Phật Giáo VN, HT Trí Quang theo cộng sản, để chạy tội cũ đàn áp Phật Giáo, không lo quốc phòng, tình báo quá kém, do ham mê đưa tình báo CSVN vào nhà thờ theo đạo Chúa, chính là trái bom nổ chậm, làm tan rã cả hai chế độ VNCH, mà cứ to mồm nói là do Phật Giáo VN!

   Tập đoàn Thiên Chúa Giáo VN ở hải ngoại nói chung, Hoa Kỳ nói riêng họ chọn cách vu khống Phật Giáo VN, HT Trí  Quang theo cộng sản, là cách chạy tội hay nhất bằng văn tự nói láo qua sách báo, truyền thông mà giới trí thức Công Giáo của họ chia nhau ở nhiều phương tiện, gặp nhau ở mục tiêu chính, là phịa chuyện dâm ô để bôi nhọ, phỉ báng chư Tăng, chụp mũ chư Tăng là cộng sản VN để chạy tội cũ là làm tan rã Đệ IIVNCH.

TÌNH BÁO DƯỚI HAI ĐỜI Đệ

 I, II VIỆT NAM CỘNG HÒA.

 

   Sau khi Ngô Đình Diệm trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại, thành lập Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa , lên ngôi Tổng Thống ngày 26- tháng 10-1955. Nền Đệ I VNCH của ông Diệm tại miền Nam VN. Mặc dù là chính phủ bất hợp lệ, do dùng quyền lực Thiên Chúa cướp ngôi Bảo Đại nhưng, vẫn là một chính thể lớn có tầm cở Quốc tế như Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngoài Bắc của Hồ Chí Minh. Cho nên ông Diệm đã tổ chức nhiều cơ cấu chính trị, Dân biểu (Thượng, Hạ viện) Quân sự, Quân đoàn, Vùng chiến thuật,  Bán quân sự, các Bộ, Nha, Phòng, Cục, Ty, Công an, Cảnh sát sắc phục, Cảnh sát dã chiến, Quân cảnh, An ninh quân đội, đoàn thể thanh niên và tình báo. Cơ quan tình báo này, được có đến 13 tổ chức có tên khác nhau như : Mật vụ, Công an chìm, Cảnh sát đặc biệt, Cảnh sát sắc phục, Quân báo, đơn vị 101, Thiên nga, Phượng hoàng, Trinh sát, Thám báo, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo (bến Bạch Đằng thời ông Thiệu) , v.v…Những đơn vị này, nghe qua thấy rất hùng hậu, mạnh như Thiên lôi, Vũ bão, Sóng thần. Nói đến “Mạng Lưới Thiên La Địa Võng Tình Báo”, thì phải nói hai đời VNCH của ông Diệm, ông Thiệu. Nhưng nhìn lại toàn là bằng Giấy, Giặt miệng, nhà Thờ mọc như nấm mùa mưa, chuông nhà Thờ vang dội tận trời xanh,…Nói rõ hơn, mạng lưới tình báo 2 đời VNCH, không phải để quốc phòng, bình định, an ninh đất nước, mà là sử dụng để bảo vệ ngai vàng cho anh, em ông Diệm, đảng Cần Lao và cho công cuộc đàn áp Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài để bành trướng Đạo Chúa độc tôn. Cũng như để săn lùng, bắt giam, thủ tiêu những người miền Nam yêu nước trong Tam giáo chống Diệm, với ý đồ diệt sạch các đảng phái Cao Đài, Hòa Hảo, Dân xã, Quốc dân đảng,…chỉ còn lại duy nhất đảng Cần Lao Nhân Vị Thiên Chúa. Qua đây, có người hỏi tôi rằng; “nếu như trong mùa xuân 1975, QLVNCH thắng hai lực lượng CS Bắc, Nam, tiến thẳng ra Bắc, độc lập, thống nhất đất nước Bắc Nam một nhà. Thì sau đó, dân tộc VN ra sao, như thế nào ?” Tôi trả lời : “ Tám chục triệu Linh hồn dân tộc Việt bị nô lệ cho Giáo Hội Vatican (La Mã ), hằng trăm triệu nhà Thờ Ki Tô giáo và Tin lành đua nhau mọc lên, cao tận trời xanh, che khuất ánh sáng mặt trời, làm cho dân tộc khắp trên 3 miền đất nước sống trong bóng tối và tài nguyên quốc gia đổ về cho Tòa Thánh La Mã, và vào túi các Giáo Hội Thiên Chúa tại VN.

   Vì chỗ đó (Thiên Chúa hóa VN), mà có một nguồn tin bán chính thức cho rằng ; Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từ chối Đồng Minh với Hoa Kỳ vào ngày 13-6- 1946, trong lúc nói chuyện với vị Sĩ quan Hạm trưởng Hải quân Hoa Kỳ, đại diện cho Tổng Thống Rosevel trên chiến Hạm Mỹ tại vịnh Hạ Long. Điều đó được nhiều cán bộ cao cấp trong chính phủ VNDCCH sau 30- 4-1975, nói rằng: tâm ý cụ HỒ, là sợ dân tộc VN bị thêm một xiềng xích nô lệ của đạo Chúa Tin Lành của Mỹ nữa, thì nền đạo lý văn hóa Thờ phượng Ông Bà Tổ tiên, Trung, Hiếu, Ân, Nghĩa, Báo đáp công ơn sinh thành của bốn bên cha, mẹ…sẽ bị người Việt theo đạo Tin Lành xóa sạch bằng những hành động đem Bài vị Ông, Bà Tổ Tiên trên bàn thờ, ra bỏ ngoài bụi cây, bờ ao,…rồi để Thập tự giá lên đó.

     Tư tưởng của  Hồ Chí Minh sợ dân tộc VN bị thêm xiềng xích nô lệ linh hồn của đạo Chúa Tin Lành, dù cho các ông trong Bộ Chính Trị tự nói, vẫn đúng. Vì “ Dân tộc VN vốn đã bị thực dân Pháp bắt làm nô lệ bản thân và bị đạo Thiên Chúa La Mã bắt làm nô lệ Linh hồn cả trăm năm. Dân tộc VN trong Tam giáo đang trên đà tìm mọi cách, đập phá 2 gông cùm xiềng xích nô lệ ấy thật vất vả, khó nhọc ! Bây giờ không lẽ nào, dân tộc VN lại nhận chịu thêm một xiềng xích nô lệ Linh hồn vào cổ. Dù xiềng xích đạo Chúa Tin Lành ấy của Mỹ bằng Vàng, vẫn là xiềng xích trói buộc linh hồn dân tộc Việt bị si mê, dại khờ,…Vô tình để cho chúng vất bỏ Bài vị Ông Bà, Tổ tiên ta ra bụi bờ, gốc cây, để đổi lấy manh áo cũ, miếng bánh mì, mảnh phô ma (cheese), v.v… Sau đó không còn thờ cha, kính mẹ nữa, chỉ có thờ Chúa, bỏ hết tục lệ báo hiếu cha, mẹ, quên ân nghĩa với Tổ quốc, bất trung với tiền nhân, bất hiếu với cha mẹ hai bên, luôn phản bội dân tộc,…Sẵn sàng quay lưng với đất nước, hạ mình làm nô lệ , tay sai cho chúng chống lại dân tộc, v.v…

   Trở lại hai đời Tình Báo VNCH. Như đã nói trên; hai đời TB VNCH, thật là nhiều đơn vị, hơn gấp 8 lần của Việt Minh - VNDCCH. Nói khác hơn, TB VNCH là mạn lưới Thiên La (lưới trời lồng lộng), nếu tất cả nhân viên trong các đơn vị ấy, thi hành đúng chiến lược, chiến thuật, thì con kiến , con chuột bị mắc lưới ngay, không thoát được. Nhưng ác ở chỗ, là để bảo vệ ngai vàng cá nhân ông Diệm, ông Thiệu, gia đình hai ông ấy và tập thể hai đảng Cần Lao,(Diệm) Dân chủ,(Thiệu) xóm đạo, GH Thiên Chúanhà Thờ Ki Tô,…luôn an bình, bí mật để vơ vét tiền của, các kế hoạch tham nhũng, buôn lậu thuốc Tây, lương thực vào mật khu CS. Tất cả trên 10 đơn vị TB ấy, gióc hết vào các việc lợi ích riêng tư cho 6 tập đoàn Thiên Chúa nói trên của họ, không lo tình báo vào đối phương , lơ là quốc phòng, không kiểm soát an ninh, v.v…Có chăng, việc làm lấy lệ. Như thế, làm sao mà không thua trận với hai lực lượng CS Bắc, Nam !

   Vì thế cho nên, chính phủ Hoa Kỳ và Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn lúc bấy giờ đã thấy và biết rõ TB VNCH không lo việc chung, chỉ lo việc riêng cho tập thể Thiên Chúa Giáo trong hai đời chính thể VNCH, do đó khối CIA Mỹ tại Miền Nam VN, đã thành lập ba đơn vị có tên Lôi Hổ, Biệt Kích, Người Nhái. Nhân sự trong  hai đơn vị này là thanh niên Nam VN tình nguyện dấn thân làm nhiệm vụ đặc công vào ba nơi: 1- Mật khu MTGPMN do toán Lôi Hổ phụ trách.  2- Nhảy toán ra Bắc (Biệt kích ở đất liền. 3- Bến cảng Hải Phòng, Vinh…(Người nhái ). Ba đơn vị TB Đặc công này, được thành lập vào khoảng 1965. Nơi tuyển mộ được đặt văn phòng bên cạnh Xa Lộ Biên Hòa. Những nhân sự trước khi lên đường, được huấn luyện nhảy dù, bơi lặn, chiến thuật đặc công và những cách ẩn núp, đi đứng vào phố thị ngoài Bắc…Nơi huấn luyện là tại Căn cứ quân đội Mỹ Việt ngay trong rừng, có tên Lực Lượng Đặc Biệt, như Căn Cứ Plei Me cách quốc lộ 19, 10 cây số, thuộc tỉnh Gia Lai - Pleiku. Bơi. lặn ở vịnh Cam  Ranh. Nhưng than ôi, nhân sự trong ba đơn vị Lôi Hổ, Biệt Kích và Người Nhái, chưa tới mục tiêu, chưa hành động được gì, tất cả đều bị đối phương ngoài Bắc bắt trọn không sẩy một người. Riêng trong rừng Miền Nam, người lính Lôi Hổ, qua tuần lễ hay hơn bị gặp nhiều khó khăn, cho nên làm tín hiệu với máy bay trên cao xin trở về để dưỡng sức, đa số không bị đối phương bắt, thiểu số bị chết trong rừng khi giao chiến hay đói, lạnh,…sau nhiều ngày không liên lạc được với máy bay. Đến khoảng năm 1971, ba đơn vị Biệt Kích, Lôi Hổ , Người Nhái và kể cả Lực Lượng Đặc Biệt (Biệt Kích Dù) được Mỹ giải tán. Riêng đơn vị LLĐB được sáp nhập vào các Liên đoàn BĐQ (mũ nâu).

    Những sinh viên Miền Nam, lúc bấy giờ trong Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo tại bến Bạch Đằng Sài Gòn, đều là những trí thức ở lứa tuổi Tam Thập Nhi Lập, cho nên đã nhận thức rằng; chính thể VNCH phải là chính thể phi Cần Lao Thiên Chúa, thì mới có thể thắng đối phương CS  Bắc Nam, để sau đó hai bên hòa hợp thành một chính thể Dân Chủ cho VN, không hận thù, lấy tình dân tộc Việt vốn có để chung lo xây dựng đất nước giàu mạnh, không liên đới các thế lực chính trị Nga, Mỹ, Tàu, …Chỉ liên đới trên cơ sở ngoại giao, kinh tế mậu dịch. Vì vậy đa số sinh viên lúc bấy giờ như Lê Hữu Bôi, Nguyễn T N, v.v…đã biểu tình chống Hiến Chương Vũng Tàu của tướng Cần Lao Nguyễn Khánh. Sau đó ủng hộ cuộc Vận  động bầu cử QHLH của VHĐ-GHPGVNTN vào năm 1966. Nói rõ hơn, tư tưởng Sinh viên trong Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo đã thấy được chính thể CSVN không thích hợp đối với dân tộc, cho nên dấn thân tich cực, hăng say tình báo để thắng CSVN, đưa đất nước thống nhất và dân tộc độc lập trong chính thể Việt Nam Cộng Hòa Dân Chủ, hòa hợp hai chính thể CSVN và VNCH lại với nhau, không hận thù đúng theo tinh thần vị tha của Phật giáo VN Lý Trần, trong đó tiếp tục phát triển đất nước về mọi mặt và chống ngoại xâm phương Bắc. Nhưng than ôi, quá trể rồi ! Đuôi Voi là chỗ đó. Nếu không nói rằng; một con ÉN (Sinh viên PĐUTUTB) không làm nên mùa xuân, dù đang có tinh thần và trí tuệ. Bên cạnh đó là hằng chục đơn vị : Cảnh sát đặc biệt, ANQĐ, Quân báo (101)…nhưng lại do các Tướng, Tá Cần Lao Thiên Chúa thao túng tất cả, làm sao thắng được cùng lúc 2 khối CS Bắc, Nam ! .

 

CSVN  CÓ  MẶT  TRONG  CỘNG

     ĐỒNG  NGƯỜI  VIỆT  HẢI  NGOẠI.

 

   Nhiều năm gần đây, (1997- 2014) đồng bào Việt Nam hải ngoại xôn xao, to nhỏ với nhau rằng; CSVN đã và đang có mặt cùng khắp trong các tổ chức, đoàn thể người Việt hải ngoại, không có chỗ nào mà không có CSVN ! Họ mua khu phố, tạo chợ, quán xá buôn bán, v.v…Nhất hạng là trong Phật giáo, đã và đang có nhiều Tăng trẻ từ bên VN qua do chư Tăng cao niên bảo lãnh. Vấn đề đó đâu có gì mà phải nói to, nói nhỏ với nhau bằng thái độ hằn học, cử chỉ thô lỗ, âm thanh chát óc, chát tai, thiếu văn hóa như vậy đối với Phật giáo ! Bởi vì người đảng viên CSVN và đồng bào trong và ngoài nước đồng dạng, cùng huyết thống Hùng Vương với nhau, cho nên phải gặp nhau, không thể tránh khỏi, đó là một quy luật thứ nhất về đồng dạng, cùng huyết thống Hùng Vương. Quy luật thứ hai, là Tình báo để an ninh Tổ quốc. Với người CSVN, luôn luôn đề cao cảnh giác đối phương, cho nên tình báo là mũi nhọn, hàng đầu đối với CSVN, để bảo vệ chính thể và an ninh Tổ quốc. Nhất hạng là sau 21 năm chiến đấu với QLVNCH, đã chiến thắng, giành độc lập, thống nhất đất nước, do đó phải tình báo để bảo vệ. Nói rõ hơn, các cấp CSVN đã và đang dư biết những người của chế độ cũ VNCH ở hải ngoại, đã và đang tìm mọi cách chống phá, để lật đổ chính quyền CSVN, lập lại chính thể VNCH, và những con buôn nón CỐI, món hàng hái ra tiền thật dễ dàng, trong đó có sư Sãi VHĐ-VPII, do đó CSVN mới rải người của họ ra hải ngoại, hòa nhập vào các tập thể người Việt, là một quy luật ắt phải. Cũng như VNCH bị CSVN giải thể trong mùa xuân 1975, là do đặc công vào các cơ chế chính quyền VNCH ngày xưa. Cho nên nay ra hải ngoại, người cũ VNCH tìm cách phục thù, để phục hồi chính thể VNCH Ki Tô. Nhưng, được hay không là đằng khác ! Ngày xưa Tướng Tá oai phong, binh chủng hùng hồn, đại bác xe tăng, máy bay siêu âm, vũ khí tối tân, truyền tin nhanh hơn sấm chớp…mà không thắng được lính CSVN ốm teo, da bọc lấy xương. Được thấy qua bức tranh dưới thời Diệm, đó là hình “Năm người lính CSVN ốm teo như cây Sậy, đang đeo ton ten, lủng lẳng nơi cọng cây Lu đủ, mà cọng Lu đủ không bị gãy”, mà sao VNCH không thắng được CSVN ? Bị CSVN giải thể trong mùa xuân 1975 ! Huống hồ ngày nay đứng bên này trời tây bán cầu, đánh bằng Miệng (khẩu khí ) hướng về VN bên kia trời đông bán cầu, làm sao thắng được !

   Đứng trên mặt CÓ, thì các giới CSVN phải có mặt trong tất cả các giới người Việt hải ngoại, không chỗ nào mà không có, là một quy luật của ba nguyên lý: cùng đồng bào nói tiếng nói VN,  đồng dạng da vàng và Tình báo như đã nói nhưng, không ai có thể nhận diện được người nào trong cộng đồng người Việt hải ngoại, là CS đâu ! Ngoại trừ phái đoàn CSVN được các chính phủ Mỹ, Anh, Úc,…mời sang thăm, được thấy mặt họ tõ ràng.

   Đứng trên mặt KHÔNG, thì không có các giới CSVN nào trong cộng đồng người Việt hải ngoại cả ! Vì không biết được, không thấy được hình hài chắc chắn, gọi là vô căn cứ, mà sao cứ chụp mũ ông tê, ông nọ, nhóm kia, nhóm nọ là CSVN, chợ nọ, phố kia ở quận Cam Cali, là của CSVN một cách mơ hồ, gọi đó là vu khống. Nói một cách khác, trước 75, VNCH được Mỹ trang bị một mạng lưới Thiên la tình báo, gọi là hàng rào điện tử Macnamara, tên của một Thống Tướng Mỹ, mà không thấy cán bộ CSVN đi vào Dinh Độc Lập và nhiều đơn vị quân sự, hành chánh VNCH. Có người nói do Thượng Đế đưa vô, làm sao thấy ! Huống chi ngày nay, CSVN đã lãnh đạo đất nước, được quốc tế công nhận CHXHCNVN là quốc gia độc lập và đã được bang giao ra hải ngoại một cách rộng rãi như vậy, CSVN lại càng rộng đường ra đi, có mặt trong cộng đồng người Việt hải ngoại đúng nghĩa lá rụng về cội, tung cánh chim tìm về tổ ấm. Điều đáng nói ở đây, các đoàn thể chính trị, tôn giáo người Việt hải ngoại, có nhận diện được cán bộ CSVN nào ngay trong đoàn thể, tôn giáo (Phật giáo) của mình hay không ? Nếu không, thì phát hiện cũng được như trường hợp Trần

Trường treo cờ Đỏ Sao Vàng, bị giới người Việt chống CS phát hiện, xúm nhau tố khổ. Nhưng, Trần Trường cũng không phải CS chính tông, chỉ là người lập dị hình tướng thử lòng người ra sao thôi.

 

         

VIỆT  NAM  BỊ TRUNG QUỐC ÁP

         LỰC VNDCCH CHIA ĐÔI ĐẤT NƯỚC.

 

     Toàn thể giới trí thức Việt Nam trên ba miền đất nước xưa, nay ai cũng biết đến cuộc Hội Nghị Genève từ ngày 8- 5- 1954 (sau 1 ngày Pháp đầu hàng VM ở ĐBP ) cho đến 20- 7-1954 là nhằm vào mục tiêu duy nhất : Pháp rút quân về nước, Việt Nam độc lập, thống nhất đất nước . Mục tiêu bên thua trận ra đi, bên thắng vĩnh viễn làm chủ đất nước mình. Tuy nhiên có những việc mà đại diện hai bên Việt Pháp phải bàn đến, đó là ngày, tháng, nơi tạm trú của Pháp để rút  quân, được chính phủ VNDCCH ấn định vị trí và thời gian. Các đại diện 3 nước Anh , Liên Xô và Trung Quốc trong vai trò chỉ có giám sát không thôi. Nhưng đại diện của Trung Quốc, ông Chu Ân Lai trong vai trò giám sát, lại tự thị, ngang nhiên nói lời áp đặt Việt Nam không được thống nhất, phải bị chia đôi hai nước VN trong một buổi họp riêng với Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, không cho đại diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tham dự. Xong rồi họ Chu mới báo tin cho trưởng phái đoàn VN lúc bấy giờ là Thủ tướng Phạm Văn Đồng biết và khuyến cáo ông Đồng phải chấp nhận. Sau khi nghe nước mình bị chia đôi, cụ Đồng bị lên cơn sốc và ngất xỉu, nghẹt thở đến mấy lần, không nói nên lời. Chẳng bao lâu cụ lấy lại bình tĩnh.

    Giới tuyến giữa hai miền Bắc Nam là vĩ tuyến 13 giữa Qui Nhơn - Nha Trang do VNDCCH đề nghị trước tiên. Pháp đòi vĩ tuyến 18. Chu Ân Lai đòi vĩ tuyến 16. Cuối cùng giải pháp dung hòa ở vĩ tuyến 17, tại sông Bến hải. Kể từ đó cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa VN Dân Chủ Cộng Hòa va VNCH suốt 21 năm.

    Lý do nào Trung Quốc ép VN chia đôi đất nước, không cho thống nhất ? Thật là dễ hiểu, VN dưới mắt Trung Quốc là nước chư hầu của chúng từ hằng ngàn năm qua, từ chư hầu đến đô hộ, đồng hóa, không bao giờ từ bỏ ý tưởng xâm lược VN, luôn luôn tìm mọi cách, rình rập, gặp dịp là ra tay xâm chiếm. Do vậy, nếu như để cho Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Ải Nam quan đến mũi Cà mâu vào thời điểm 1954, sau đệ II thế chiến, là thời điểm hoa dân chủ của Hoa Kỳ đang tung bay khắp các nước trên thế giới, thì nhất định cụ Hồ sẽ bang giao với Hoa Kỳ,Việt Nam là trung tâm điểm mậu dịch quốc tế, trở thành quốc gia giàu mạnh trên trường quốc tế một cách rộng lớn về nhiều mặt khoa học, kỹ thuật do cụ Hồ Chí Minh có tài ngoại giao, cũng như tập thể Cán bộ giỏi về văn hóa, chính trị, quân sự, lãnh đạo đất nước, ắt sẽ đưa Việt Nam trở thành cường quốc. Khi đó Việt Nam mặc nhiên là một nước Dân Chủ có nhân quyền như các nước Tây Phương, do Hồ Chí Minh nhận chịu và áp dụng trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Chừng đó chính phủ VNDCCH dư sức trả món nợ vũ khí Điện Biên Phủ cho Trung Quốc.

    Vì Mao Trạch Đông, và Chu Ân Lai từ lâu đã biết tư tưởng Hồ Chí Minh muốn thống nhất đất nước, xây dựng đất nước VN bằng chế độ tư bản của Hoa Kỳ, không muốn xây dựng bằng chế đội Cộng Sản Nga, Tàu. Sở dĩ Hồ Chí Minh nương theo Nga, Tàu trên tiến trình đánh đuổi Pháp, chỉ là tạm thời thôi. Cho nên để cho VN thống nhất, Trung Quốc sẽ bị mất an ninh ở hướng Nam bởi lực lượng phương Tây trong đó có Mỹ, như thế không thể xâm thực, đồng hóa VN được. Phải chia cắt VN làm hai nước Bắc, Nam. Nước VNDCCH ở Bắc sát nách Trung Quốc, mới dễ bề xâm thực VN từng bước về văn hóa, chính trị và đất đai sau đó, bằng cách cài người vào các cơ sở VN với ý đồ đồng hóa dân Việt thành TÀU. Nếu không nói rằng; MaoTrạch Đông, Chu Ân Lai và tập đoàn chính trị Trung Quốc đã biết chắc chắn thế nào chính phủ VNDCCH miền Bắc cũng phải đưa quân vào Nam, để lật đổ các chính phủ VNCH Thiên Chúa do Vatican tạo nên, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mà như thế là phải vây nợ về súng, đạn, xe tăng, đại pháo, dụng cụ chiến tranh, lương thực, quần, áo…của Trung Quốc, bởi vì miền Bắc vốn là một xứ nghèo về mọi thứ vật chất. Trong khi đó miền Nam giàu có mọi thứ vật chất, lại thêm được Hoa Kỳ viện trợ kinh tế dư ăn, dư để. Nhưng không có chính nghĩa quốc gia, tinh thần dân tộc bị Đạo Ki Tô xâm thực, đồng hóa.Tức là các chính quyền Miền Nam từ Bảo Đại cho đến VNCH của hai đời Tổng Thống Diệm và Thiệu, là chính quyền Thiên Chúa Giáo La Mã, không phải chính quyền của dân, cho nên không được tồn tại, bị tan hàng vào ngày 30 tháng Tư, 1975. Có nghĩa là Việt Nam được thống nhất nhưng, lại bị đi vào quỷ đạo xâm thực và đồng hóa của Trung Quốc, mà Trung Quốc đã dựa vào việc Vatican đưa ông Diệm về miền Nam lập nên một chính thể VNCH của Vatican. VÌ thế cho nên ông Chu Ân Lai, lấy tư cách Cộng sản đàn anh, bắt Hồ Chí Minh nhận chịu chia đôi VN sau Hội nghị Genève. Để sau đó tập thể VNDCCH buộc lòng phải vây mượn dụng cụ chiến tranh của chúng, để giải phóng miền Nam. Rõ thực, hiện nay chúng đã và đang thực hiện bằng nhiều cách để bắt VN trả nợ, nhưng chính quyền CHXHCNVN không trả nợ nỗi cho Tàu, đang bị Tàu xiết Đất, xiết Biển, cho dân Tàu vào đồng hóa dân Việt, bằng nhiều cách thật độc ác…Hằng triệu dân Việt trên quê hương và Hải ngoại đang biết được bọn Tàu Ô đang đem tai họa cho dân ta, ai cũng đau lòng, khổ tâm, và không quên hận thù một số các cấp lãnh đạo nhà nước VN hiện nay đã đánh mất đạo đức Cách Mạng của các bậc đàn anh (Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,… ) cho nên đã và đang bị bọn Tàu nhét hằng triệu Đô la vào miệng, rồi ngồi im để cho bọn Tàu Ô tha hồ vào xâm thực, đồng hóa đất nước mình !

     

NGUYÊN NHÂN NÀO KHIẾN HỒ CHÍ MINH  CHỌN

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN ĐỂ ĐUỔI PHÁP ?

 

   Như đã được nói trên, do vì Hoa Kỳ đã nhiều lần từ chối không phúc đáp văn thư, cũng như không nhận lời yêu cầu trực tiếp của cụ Hồ trước các viên chức Hoa Kỳ. Sau khi không được Hoa Kỳ quan tâm giúp đỡ, cụ Hồ chọn chủ nghĩa cộng sản của Lenine. Trước đó cụ Hồ cũng đã đặt hai bạo lực chủ nghĩa thực dân Trung Quốc và thực dân Pháp lên cái Cân Tâm thức của cụ, rồi so sánh, đắn đo để chọn. Cụ Hồ chọn thực dân Pháp. Bởi vì Pháp có nền văn minh khoa học, kỹ thuật hơn Tàu quá xa. Về văn hóa, Pháp cao hơn Tàu cho nên trong giao tiếp, đối đãi với mọi người trong các giới bất cứ ở đâu trên thế giới rất lịch sự. Hơn nữa, Pháp chỉ đô hộ các nước kém văn minh, để rút tỉa vật chất, chứ không đồng hóa dân thuộc địa trở thành dân mình, không tiêu diệt tiếng nói, quốc ngữ, nền văn hóa của các dân tộc khi Pháp đang hiện hữu đô hộ. Với thực dân Tàu, một khi vào xâm lược các nước, quân Tàu rất bạo hành, ăn nói thô lỗ, đối xử với người bản xứ không lịch sự, luôn có hành động xấu xí, nham hiểm, hung hăng, đọa đày. Sẵn sàng đồng hóa, trong đó bắt dân bản xứ học chữ Tàu, nói tiếng Tàu, phục sức y phục Tàu, sống theo nếp sống bẩn thỉu, bủn xỉn, keo kiệt, dơ nhớp như dân họ. Vì vậy mà sau nhiều lần đặt hai bạo lực thực dân Pháp, Tàu lên cái cân tâm thức, so sánh, đắn đo. Cuối cùng cụ Hồ chọn Pháp.

   Để biết rõ lý do Hồ Chí Minh chọn Pháp, qua đoạn văn dưới đây:

 “ Tình trạng Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 quả thực rất phức tạp. Nhiều câu hỏi, nhiều giả thuyết khác có thể được nêu ra, ngoài và chung quanh câu hỏi căn bản nêu trên, theo đó lịch sử có thể đã đổi khác. Có thể Hoa Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội từ năm 1945 khi Hồ Chí Minh tha thiết mong muốn được Hoa Kỳ giúp đỡ. Trước thái độ lạnh nhạt của Liên Xô (Stalin vẫn nghi ngờ Hồ Chí Minh không đích thực là cộng sản quốc tế). và viễn tượng bị Trung Quốc đô hộ, một chính trị gia khôn ngoan và thực tế như ông Hồ Chí Minh đã cho biết ông sẵn sàng thỏa hiệp với Pháp về một nước Việt Nam tự do trong khối Liên Hiệp Pháp với một lộ trình tiến tới độc lập từ 5 năm đến mười năm, Như Hồ Chí Minh đã nói thẳng : “ Thà ngửi cứt thằng Tây một thời gian còn hơn ăn cứt thằngTàu suốt cả đời”. (VIỆT NAM 1945-1995- trang 110  GS Lê Xuân Khoa).

 

NỘI CHIẾN GIỮA HAI MIỀN NAM BẮC VN 1955-1975

 

   Những nguyên nhân đưa hai miền Nam Bắc VN nội chiến nhau từ 1955- 1975. Hay nói rõ hơn hai chính phủ VNDCCH ngoài Bắc và VNCH trong Nam đánh nhau. Nguyên nhân chính là do Trung Quốc cậy mình là đàn anh của VNDCCH , không cho VNDCCH thống nhất, bắt phải chia đôi Việt Nam, đặt chính phủ VNDCCH trên đất bắc làm chư hầu của Trung Quốc. Còn miền Nam phó mặc cho ai đó trong Nam đứng ra lập chính phủ. Vào thời điểm 1954, Pháp đang thua trận tại ĐBP và Hội nghị Genève đó, thì trong Nam có một vài đoàn thể chính trị xôi thịt chuẩn bị lập chínhphủ không chính nghĩa, được thấy hai tổ chức : một của Bảo Đại, và một của Thiên Chúa Giáo. Nhóm này hoạt động mạnh bạo hơn hết, được thấy rõ qua những hiện tượng : Một cuộc biểu tình cỡ 500 người, đa số tín đồ Thiên Chúa tại bến Thương Bạc Huế vào trung tuần tháng 6-1954, trương biểu ngữ “Yêu cấu chí sĩ Ngô Đình Diệm về nước hấp chánh”. Ngày 30-6-1954 (Hà Nội đang còn trong lòng địch) Ngô Đình Diệm ra thăm Hà Nội. Tại đây được hai ông Lê Quang Luật, Hoàng Bá Vinh, nhân sĩ Thiên Chúa Giáo hướng dẫn trên ngàn tín đồ Thiên Chúa cầm cờ vàng 3 sọc đỏ, biểu ngữ đến trước dinh Thủ Hiến để chào mừng tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm (tôn vinh trước theo lệnh Tòa Thánh Vatican – GH Việt gian Thiên Chúa). Đến ngày 7-7-1954 trước khi Hội nghị Genève kết thúc, cựu Hoàng Bảo Đại chỉ định Ngô Đình Diệm, một tín đồ Cơ Đốc giáo làm Thủ Tướng của chính phủ QGVN Bảo Đại. Nếu không nói nuôi ong tay áo, gậy ông đập lưng ông. Vì sau đó ngày 26-10-1955, Ngô Đình Diệm cho tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại, thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, đặt tên nước Việt Nam Cộng Hòa, lên ngôi Tổng Thống, làm cho bà Nam Phương Hoàng Hậu (tín đồ Thiên Chúa) bị lên cơn sốc, qua đời do hối hận, lầm lỡ bắt ép Bảo Đại chọn Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng. Không ngở chọn lầm một tên phản thần. Đúng như đời có câu: “Dưỡng Hổ di họa. Nuôi Ong tay áo”.

   Một khi miền Nam được có chính phủ, ắt sẽ bị chính phủ miền Bắc đem quân đánh để giải phóng, do vì đã quyết tâm đánh Pháp, sau 100 năm đô hộ, nay mới đuổi được, giành độc lập, phải thống nhất đất nước, là niềm ước mơ lớn của toàn dân và những nhà Cách Mạng VN, các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v…nhưng lại bị chia đôi, ai cũng đem lòng bực tức cả !

    Riêng miền Nam, thật sự đúng là một chính phủ của khối Thiên Chúa Giáo VN, Vatican nắm quyền và được Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự thật dồi dào vật chất. Với số lượng hai trăm (200) tỷ đô la, thì nhất định sẽ thắng cộng sản VN nói riêng, nói chung cs quốc tế từ lâu rồi, bởi sức mạnh vũ khí tối tân của Hoa Kỳ cùng với sự nhiệt tình, hăng say nhắm vào mục tiêu duy nhất là chống CSVN của các giới chính trị miền Nam nói chung, Ki Tô giáo nói riêng lãnh đạo hai đời VNCH. Đằng này, chính phủ VNCH là chính phủ của Giáo Hội Ki Tô của La Mã, mà tay sai Vatican là GH Ki Tô VN, cho nên không thắng được CSVN miền bắc, vì không có chính nghĩa. Điều đó được thấy rõ giữa lúc hai bên Việt Pháp đang nghị sự với nhau tại Genève Thụy sĩ, thì giới Thiên Chúa Giáo VN đã rầm rộ vận động đưa ông Diệm về miền Nam làm Thủ tướng trong chính phủ QGVN Bảo Đại. Sau đó truất phế Bảo Đại, lập ra chính thể VNCH, lên ngôi Tổng Thống. Nhưng ông Diệm không thật sự chống CSVN miền bắc. Trong khi đó ông Diệm chỉ lo sai khiến mật vụ của ông đi tảo thanh cán bộ Việt Minh không tập kết ra bắc, còn cài lại ở miền Nam và tiêu diệt hết các giáo phái, những nhân sĩ yêu nước có thành tich chống Pháp và CS quây về giúp ông, cũng bị ông thủ tiêu hết, như các ông Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh…Vậy mà trong chuyến thăm Hoa Kỳ tháng Năm- 1957. Tổng Thống Ngô Đình Diệm không nói đến cuộc tàn sát những nhân sĩ ấy với Tổng Thống Eisenhower, mà chỉ nói rằng; CSVN tại Nam VN, đã bị QLVNCH tiêu diệt hết cả rồi. Tổng Thống Eisenhower cam kết với TT Diệm sẽ tiếp tục viện trợ. Đồng thời năm 1957 đó, TT Diệm lê máy Chém khắp miền Nan VN, để hành quyết các đối tượng chính, cũng là đối tượng quan trọng sau cùng, đó là những nhân sĩ Phật Giáo miền Nam (Phật giáo truyền thống và Phật Giáo Hòa Hảo) mà TT Diệm đã đưa vào bằng kế hoạch Dinh Điền ở cao nguyên Trung phần. Có nghĩa là tất cả Phật tử, đạo thờ ông bà miền dưới phải bị ra đi đến Dinh Điền, là công cụ cải đạo. Cho nên người dân Tam giáo đến đó, tất cả bị bắt buộc phải bị rửa tội, theo đạo Chúa, ai chống lại đều bị hành quyêt bằng nhiều cách. Con số Phật tử  và đạo Thờ ông bà tại các tỉnh liên khu 5 và cao nguyên bị chết dưới thời TT Diệm, là 300 ngàn người.

   Nói đến Nội chiến VN cận đại. Trước hết là chính phủ VNCH của 2 đời TT Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, đã gây nội chiến với đồng bào Tam giáo tại miền Nam VN từ 1957- 1975 và Nội chiến với quân đội của chính phủ VNDCCH ở ngoài bắc và quân đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của các ông Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tản, bà Nguyễn Thị Bình (cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh), Nguyễn thị Định, v.v…trong chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam VN.

   Mục tiêu là phải giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc mà chính phủ Việt Minh-VNDCCH đã chủ trương từ Cách Mạng tháng 8, mùa thu 1945, do vậy phải nhắm đến, không cần biết chính phủ VNCH trong miền Nam là của phe nào, một khi đã hùa theo, đồng lỏa với các thế lực chính trị của các cường quốc Anh, Mỹ, Trung Quốc. Pháp trong việc chia cắt VN ra làm hai nước, không ngồi lại với VNDCCH để cùng nhau quyết tâm thống nhất đất nước, mà lại lập ra chính phủ mới có tên “Cộng Hòa Dân Chủ VN”, có hay hơn không ? Do đó tập thể Cách Mạng VN trong chính phủ VNDCCH quyết tâm đem quân giải phóng miền Nam. Khối Ki Tô Giáo VN, chỉ vì tham muốn quá độ có một nước Chúa ở miền Nam, để rồi đưa đến cuộc nội chiến giữa huynh đệ VNCH với VNDCCH, Thiên Chúa giáo VN với đồng bào Tam giáo VN, thật tương tàn, mất mát suốt 20 năm dài, đã làm chết người dân Việt hai miền với con số hằng triệu người, thương tật cả trăm ngàn, là một tội lớn đối với dân tộc và Tổ Quốc, bởi chiến tranh ý thức hệ Chủ nghĩa và Tôn giáo (Ki Tô VN), chứ không phải với dân .

   Với chính phủ VNCH ở miền Nam dưới hai đời TT Diệm, Thiệu. Nhất là cụ Ngô Đình Diệm, một nhân sĩ  Nho giáo và Tây học, có tài đức lãnh đạo quốc gia, cho nên được vua Bảo Đại mời làm Thủ Tướng chính phủ QGVN, rồi thành lập luôn chính thể VNCH thật là đúng lúc, đúng thời, được hơn một nửa dân miền Nam thương kính. Nhất là được chính phủ Hoa Kỳ quan tâm ủng hộ, viện trợ kinh tế, quân sự, cho nên QLVNCH rất mạnh. Nhưng tại sao cụ Diệm không sử dụng sức mạnh QLVNCH vốn đang có, để giải phóng miền Bắc ? Ngay cả vào 16-7-1955, là thời điểm tổng tuyển cử của toàn dân hai miền Nam Bắc để thống nhất đất nước theo pháp lý của Hội nghị Genève. Mà sao cụ Diệm không chịu, đem lời bác bỏ ? Nếu cụ Diệm tham dự, là cụ sẽ thắng phiếu đến 80% vì miền Bắc lúc đó(1955-1957) kinh tế bị lâm vào kiệt quệ trầm trọng. Sở dĩ cụ Diệm không ký vào bản Hội nghị Genève, đem lời bác bỏ, không dám tham gia cuộc bầu cử thống nhất đất nước vào ngày 16-7-1955, là vì đang nằm chờ GH Ki Tô LaMã và VN, đưa lên ngôi vị Tổng Thống VNCH ở miền Nam sau khi truất phế Bảo Đại, để biến miền Nam VN thành một nước Chúa Vatican ở Đông Nam Á, mà  người đứng đầu VNCH là Tổng Thống Thiên Chúa phải thi hành , do vậy cụ Diệm đâu có dám qua mặt các đấng Chúa Con ở trần gian. Đến thời Đệ II VNCH của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng rập theo khuôn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm y hệt không khác (Diệm không Diệm). Điều này được thấy rõ tất cả nhân sĩ Phật Giáo nộp đơn ra tranh cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 11-9-1966, đều bị vô hiệu hóa, bị bắt nhập ngũ, bị vào tù vì đã tranh đấu đòi chính phủ Cần Lao của TT Thiệu phải có QHLH. Chỉ có những tín đồ Thiên Chúa mới có quyền nộp đơn tranh cử. Cho nên đến kỳ bầu cử Tổng Thống và Thượng Viện vào ngày 3-9-1967. Năm mươi(50) liên danh ra tranh cử Thượng Viện. Chỉ có 6 liên danh của Thiên Chúa được đắc cử. Sau đó 3 cơ quan Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp của nền Đệ II VNCH của TT Thiệu, đều do Thiên Chúa Giáo lãnh đạo không khác gì như Nền Đệ I Cộng Hòa. Vì thế nên Đệ II VNCH bị tan hàng vào sáng 30-4-1975 theo nguyên lý không đoàn kết với toàn dân là một quy luật “ Hổ ly sơn hổ bại”. Đồng bào VN tôi ơi ! Có thấy, có biết Đệ II VNCH bị tan hàng, là do tập đoàn Ki Tô giáo VN gây ra hay, không ?

  Thuở ban đầu ngày 16-7-1955, là cơ hội ngàn vàng, mà cụ Ngô Đình Diệm không chịu hòa hợp với cụ Hồ Chí Minh trong việc thống nhất đât nước ! Để cho đến khi vào khoảng 9-9-1963, biết sắp bị Hoa Kỳ thay ngựa giữa dòng, cụ Diệm liền sai ông Nhu đi gặp Vũ Ngọc Nhạ (tình báo CSVN, người thân thiện của Linh mục Lê Hữu Từ), nhờ ông Nhạ liên lạc với cán bộ cao cấp CSVN trong chiến khu ở miền Nam, để bàn chuyện Liên Hiệp Nam Bắc. Nếu không nói rằng; ông Diệm đang đào hố để chuẩn bị chôn anh em ông, chôn Đệ I VNCH của ông và luôn cả Đệ II VNCH sau này nữa của ông Thiệu. Quý vị Ki Tô Giáo VN ta, có thấy anh em ông Diệm làm chuyện dại dột đó không ? Hay cứ vẫn cho là do Phật Giáo ? Tất cả hành động Ác, Thiện (nghiệp) do con người tự tạo ra, không do người khác tạo dùm. Toàn dân VN nên nhìn vào lịch sử VN ở trang dòng họ Ngô Đình Diệm và trang người Việt theo Ki Tô Giáo La Mã, sẽ thấy ngay hằng ngàn cái nhân ác, mà họ đã hành động đối với dân tộc VN trong quá khứ xa và cận đại, cho nên họ phải tuần tự đón nhận nhiều cái quả xấu đến.

    Đúng thật, bà Trần Lệ Xuân (vợ  ông Nhu ) với tính cách dân biểu đi sang Nam Tư dự Hội nghị Liên hiệp Nghị sĩ Quốc tế. Tại đó bà Trần Lệ Xuân đã gặp hai đại biểu Bắc Việt là Mai Văn Bộ và Nguyễn Văn Hiếu để thương nghị về vấn đề liên hiệp Nam Bắc. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa vợ chồng Ngô Đình Nhu với một vài nhân viên U.H.Q.T tại bờ biển Nha Trang, để yêu cầu những người này làm môi giới với Việt Cộng. Lần thứ  hai tại bờ biển Đà Nẵng, có ông TT Diệm, vợ chồng ông Nhu và các con ông bà Nhu. Chuyến đi này được che lấp bằng một cuộc du ngoạn có tắm biển và săn bắn. Chung quanh vùng này có lính canh gác rất cẩn mật.Từ những cuộc gặp nhau ở bờ biển miền Trung, đến các cuộc tiếp xúc các đại biểu ngoại quốc ở dinh Gia Long, đến các cuộc gặp gỡ giữa Nhu với các đại biểu VC của miền Nam như Hà Văn Lâu ở Nha Trang, Cao Văn Thỉnh ở Đức Hòa, Đức Huệ, cũng như Cha Thục được Vũ Ngọc Nha dẫn lên Tây Ninh gặp Mai Văn Bộ và một hai lần ở rừng Định Quán.

   Hai người ngoại quốc tại Sài gòn mà ông Nhu nhờ liên lạc với Hà Nội, đó là hai ông Đại sứ trong UHQT, ông Ram Chundur Goburdun, Ấn độ chủ tịch UHQT, và ông MANELI Đại Sứ Ba Lan trong UHQT kiểm soát đình chiến. Sau khi tiếp xúc với chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Đại sứ Ấn độ về lại Sài gòn, nói rằng; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chi trích Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà còn khen ngợi là một nhà ái quốc theo đường lối riêng của ông Diệm (il est patriote à sa manière ). Khi ông Đại sứ Ấn độ lập lại lời cụ Hồ khen cụ Diệm, cụ Diệm không nói gì, chỉ mỉm cười (il semble sourire ). Thật sự, suốt cuộc nội chiến Bắc Nam từ 1955-1975, hai cụ Diệm và cụ Hồ không bao giờ nói ra lời ác đối với nhau trước công chúng, hay trên báo chí, truyền hình, truyền thanh. Chỉ có các giới làm công việc tuyên truyền về chiến tranh chính trị của hai bên chính phủ Nam Bắc, thì mới phịa ra nhiều chuyện xấu, chửi bới các cấp lãnh đạo trong hai chính phủ VNDCCH và VNCH qua lại với nhau làm cho đồng bào tin là thật, để giành phần thắng về mình. Đa số người dân kém hiểu biết về tâm lý chính trị của các giới truyền thông mới tin là thật, do bị nghe mãi, nghe hoài. Người trí không bao giờ tin vào lời tuyên truyền chính trị ấy, dù bị nghe hằng bao nhiêu lần, chẳng bao giờ tin, chẳng bao giờ bắt chước phịa chuyện xấu, vu khống kẻ khác để được lợi ích về danh vọng chức quyền, vật chất cho mình.

   Với những chuyên viên trong ngành Thông tin tuyên tryền VNCH ngày xưa, đã từng phịa chuyện xấu đánh phá đối phương CSVN trước quốc dân, là vai trò phải nói, phải làm để ăn lương, còn được thắng CS hay không, là chuyện của Tổng Thống và nội các VNCH. Nay ra hải ngoại xếp bút, giải nghệ. Trong khi đó một số ông không ở trong nghành thông tin tuyên truyền ngày xưa đó, thì lại bắt chước mánh khóe, học đòi theo kiểu phịa chuyện xấu, ác …không có nói cho có theo kiểu thời chiến vào trong sách, rồi lên diễn đàn, ra mắt sách, nói nhiều lần, nhiều nơi, nói mãi, nói hoài, nói dai thành nói dại trước cử tọa cho mục đích bán sách tại hải ngoại. Nhất là ở Hoa Kỳ, một nước văn minh, cái gì,việc gì cũng phải đúng, thật được có chứng tích, minh bạch rõ ràng, không thể nói bậy, nói bừa, nói khống, không có nói có. Ấy thế vậy mà ông Liên Thành viết sách “Biến Động Miền Trung” trong đó toàn là lời vớ vẫn rẻ tiền, sai sự thật về phong trào vận động bầu cử QHLH do GHPGVNTN, HT Thích Trí Quang lãnh đạo. Liên Thành bất chấp nhiều lời cảnh cáo của các giới trí thức VN Huế, và khuyên bảo đừng lì lượm, nói bậy bạ mãi như vậy mà mất danh giá con cháu Hoàng Tộc, không xứng đáng cựu sĩ quan Cảnh Sát ngành tình báo, vì chả trúng vào đâu. Nhưng Liên Thành cứ lải nhải hoài rằng; HT Trí Quang, HT Đôn Hậu là CS. Không có ai tin, mà Liên Thành vẫn không dừng lời ác khẩu, vì mục tiêu chỉ bán sách cho những người Việt không am tường cuộc vận động BCQHLH, và các ông, bà Thiên Chúa đang hận thù Phật Giáo VN, mua để đọc.

 

Trở Lại Câu Chuyện Tổng Thống Diệm, Ông

   Cố Vấn Nhu Liên Hiệp Với Chính Phủ Hà Nội.

 

   Hai ông Đại Sứ trong UHQT kiểm soát đình chiến, ông MANELI dân Balan và ông Ram Goburdun người Ấn Độ tại Sài Gòn, thường thay phiên nhau ra Hà Nội cho công việc kiểm soát đình chiến, đồng thời vai trò môi giới cho ông Nhu. Tuy nhiên ông Ram Goburdun lại nhờ ông Lalouette, Đại sứ Pháp tại Hà Nội đi gặp các cấp chóp bu Hà Nội. Ông Ram Goburdun gặp Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Sau khi về Sài Gòn, làm report qua cho ông cố vấn Nhu. Trong tờ report có ghi : “ Phạm Văn Đồng tuyên bố rằng đề nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây đã lâu (thời điểm tổng tuyển cử năm 1956) và lời tuyên bố của chính phủ vẫn còn có giá trị: Chính phủ nhân dân sẵn sàng thương thuyết bất cứ lúc nào, công khai hoặc kín. Theo các chỉ thị của Chủ tịch và của Thủ Tướng Xuân Thủy, sẵn sàng đưa ra một danh sách các hàng hóa có thể trao đổi được. Ông ta tuyên bố rằng chính phủ Hà Nội muốn trước hết xuất cảng các sản phẩm kỹ nghệ, kể cả than đá để đổi lấy gạo và các thực phẩm khác. Ông ta đề nghị hai bên cùng xuất bản chung các sách.

   Ông Lalouette hỏi hai ông  Phạn Văn Đồng và Xuân Thủy có nhắn gì với ông Nhu hay không ?. Câu trả lời : “ Hãy nói mọi điều về sự trao đổi văn hóa và kinh tế, về hòa bình và thống nhất . Ông Đồng khen ông Nhu có khả năng suy nghĩ một cách thuận lý, vì ông ta tốt nghiệp ở trường Chartes. Ông Lalouette hỏi thêm; liệu có triển vọng nào về một hình thức liên bang với Diệm, Nhu hoặc một chính phủ mang tính chất liên hiệp không? Ông Đồng trả lời : “ Điều gì cũng có thể thương thuyết được trên căn bản độc lập và chủ quyền của VN. Thỏa hiệp Genève đã cung cấp căn bản pháp lý và chính trị cho điều ấy : không có căn cứ hoặc bộ đội nước ngoài trên lãnh thổ VN.  Chúng tôi “có thể thỏa hiệp với bất cứ người Việt Nam nào”.( Sáu Tháng Pháp Nạn – Vũ Văn Mẫu – trang 375, 381, 385).

   Trong khí đôi bên Hà Nội và Sài Gòn đang trên đà thỏa hiệp, thì cuộc cách mạng bùng nổ vào này 1-11-1963, Nền Đệ Nhất VNCH của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị Hoa Kỳ triệt bởi thuyết Đô Mi Nô. Thật sự mà nói QLVNCH, đâu phải không có binh hùng, tướng mạnh ! Nhưng tập đoàn Cần Lao nội các VNCH không nhắm vào quốc phòng, đúng với đề tài “Mỹ Thấy Mất Nam Việt Nam Từ Cuối Năm 1961: Lỗi Lớn Là Do Chế Độ Ông Diêm” Hồ Sơ Mật 1963 trang 244), mà chỉ nhằm vào xây dựng nước Chúa, mặc dù đang nội chiến với quân đội VNDCCH và MTGPMN, nhưng không bao giờ được làm chủ chiến trường, lúc nào cũng ở thế bi động, từ chết đến bị thương, vì thế chỉ có thua và thua, bởi tâm trạng của hằng trăm ngàn quân binh chủng và hầu hết các cấp sĩ quan chỉ huy quân đội ngòai mặt trận, đều đem lòng chán nãn các cấp lãnh đạo chính phủ VNCH Thiên Chúa giáo chỉ lo việc Chúa, ôm hết 3 cơ quan Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp nhưng, chỉ bằng hình thức có lệ, có danh,không thấy có thực thể nào về Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp cả ! Toàn là hoạt động cho việc tham nhũng, buôn lậu, không lo quốc phòng, và hành xử không bình đẳng với Phật Giáo.


PHỤ  BẢN

CỘNG SẢN VN TƯƠNG KẾ TỰU KẾ VÀO PGVN.

Cộng Sản VN trước và sau 75, dư biết sức mạnh của cộng đồng Tăng, Ni, Phật tử và uy danh của HT Trí Quang qua hai cuộc tranh đấu năm 1963 chống chính quyền Thiên Chúa Giáo Ngô Đình Diệm và 1966 chống chính quyền Cần Lao quân phiệt Thiệu Kỳ, để đòi bầu cử Quốc Hội Lập Hiến. Do đó các giới lãnh đạo chính quyền CSVN sau 30-04-75 cho đến nay, họ đem lòng tương kế tựu kế vào lực lượng Tăng, Ni PGVN trong và ngoài nước, một cách có chiến lược để được lợi thế, lợi tức qua những việc làm như sau:

  1- Quản thúc HT Trí Quang tại chùa Già Lam để bảo vệ an ninh cho chế độ CSVN được an bình.

  2- Làm cho cộng đồng Phật Giáo trong và ngoài nước phân hóa nghi ngờ nhau.

  3- Làm cho người Việt theo Thiên Chúa Giáo tiếp tục đánh phá Phật Giáo vì cứ cho rằng Phật Giáo theo cộng sản, HT Trí Quang là cộng sản, do các ông Cần Lao Thiên Chúa Liên Thành, Lữ Giang, Đặng Văn Nhâm đã và đang to mồm chống phá Phật Giáo VN tung ra, gọi là “Ngao Cò tranh nhau, Ngư Ông đắc lợi”, tức là không cho tôn giáo người Việt đoàn kết, nếu không nói là khối Công Giáo VN bị sụp hố CSVN, là do chống PGVN.

   Về phần được có lợi ích vật chất, CSVN cứ cấp giấy xuất cảnh cho Tăng, Ni trẻ và nhiều Linh Mục được sang Mỹ một cách thoải mái qua phỏng vấn của phái đoàn di trú của Mỹ. Qua đây cho ta thấy ở hai bên cùng có lợi, Trước hết, CSVN được thu tiền dịch vụ ở người đi. Trong tương lai CSVN sẽ được có thêm Đô la Mỹ do những người ra đi dù Tăng, Ni  sau khi được ổn định công việc sinh hoạt Phật Giáo, liền gởi tiền về cho thân nhân. Thật sự mà nói giới nào được qua định cư ở Mỹ, dù hình thức tôn giáo cũng đều có ý niệm kiếm tiền Đô la gởi về cho thân nhân mình bên VN, để được có đời sống sung túc. Cho nên hằng trăm Tăng, Ni bên VN được vào Hoa Kỳ đâu phải là cán bộ cộng sản, mà là trong vai trò hoằng hóa độ sanh, đều có ý kiếm Đô la cho cha mẹ, anh, chị, em bên quê nhà, là chuyện rõ như ban ngày.

    Người Việt ở hải ngoại, giới Thiên Chúa đem lời vu khống Chư Tăng, Ni trẻ VN sang Mỹ, dù một số đã vào quốc tịch Mỹ, cũng vẫn bị chụp mũ là tình báo Cộng Sản VN. Như vậy, vô tình tố cáo CIA Mỹ rước CSVN vào Mỹ à ? Phải thấy rằng người CSVN tạo thêm lợi tức dollars được chút nào hay chút nấy ở giới Tăng, Ni, đâu có mất mát gì! Bởi vì ai qua Mỹ, Tăng Ni PGVN và các Linh Mục, cũng phải bị họ đặt điều kiện hai bên cùng có lợi.Trong đó người ra đi sang Mỹ có đem cái lợi về tình báo cho CSVN để an ninh Tổ quốc hay không, không ai biết được. Nhưng với các giới Tu sĩ các tôn giáo VN, CSVN đâu cần cậy nhờ tình báo cho họ mà mang tiếng. Người của họ (CSVN) đang có mặt khắp nơi trong cộng đồng VN hải ngoại, nhưng cũng chẳng có người Việt chống CS nào thấy biết ông A, bà B làm tình báo cho CSVN. Thời đại mạng lưới toàn cầu quá siêu đẳng ở điện thoại cầm tay, điện thư, v.v…do người của họ thực hiện, hà tất gì phải nhờ các Tu sĩ lo việc tình báo ? Ấy thế, vậy mà các ông Cần Lao cứ nhắm mắt, to mồm gán ghép Tăng, Ni VN qua Mỹ là tình báo cho CSVN. Như vậy chứng tỏ rằng các ông Cần Lao luôn luôn đem lòng hận thù, đánh phá Phật Giáo VN, để trả thù, vì cho rằng PGVN theo CSVN nên chi Đệ II VNCH bị tan hàng. Các ông Cần lao nên hủy bỏ cái tư tưởng si mê, hạ cấp đó đi, để cho toàn dân được an tâm, mà lo công cuộc giải trừ quốc nạn là dẹp bỏ tập đoàn tư bản đỏ đang làm đen xã hội VN trước khi đuổi bọn bành trướng Bắc Kinh, là quốc nạn lớn mau ra khỏi đất nước ta.

   Đồng bào VN các giới hải ngoại, nên lên tiếng cảnh cáo các ông Cần Lao Thiên Chúa La Mã, đừng tiếp tục đánh phá chư Tăng, Ni, Phật tử VN bằng những lời lẽ chửi bới tục tĩu, chụp mũ theo CSVN . Nếu còn tiếp tục, sẽ không bao giờ đuổi được bọn Tàu Ô ra khỏi VN !

     

      

                                     Ông THIỆU Mở Hội Hàn Huyên Tâm Sự.              

  

Tổng Thống Thiệu Thăm Huynh Đệ Chi Binh. Có lẽ ông THIỆU như đoán biết; ông sắp được Chúa gọi về Thiên Đàng để hưởng dung nhan bên Chúa, do cảm thấy thân tâm bất an, trên đà hao mòn, xuống cấp. Cần phải mở hội hàn huyên huynh đệ chi binh CẦN LAO tại Hoa Kỳ để tâm sự lớn trước khi được Chúa gọi về. Hay là bị vua Diêm Vương gọi xuống địa ngục để hỏi tội.Do đó ông đến quận CAM vào khoảng  2005, nghỉ lại tại nhà của một ông Cần Lao chí thân ngày xưa. Tại đây, ông Thiệu, được vài chục cựu Sĩ quan các cấp, đa số không Cần Lao, đến gặp ông với mục đích phỏng vấn ông; lý do tại sao ông ra đi giữa lúc đất nước gặp nguy nan, toàn dân đang bị khốn khổ trước hỏa lực quân CSVN. Ông là Tổng Thống, ngôi vị lãnh đạo chính thể VNCH, Tổng Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH. Tại sao ông bỏ ra đi trước hằng triệu QLVNCH đang ghì tay súng tiến tới đối phương Bắc Việt ? Trong Binh Pháp, mà người Sĩ Quan VN đã học, đâu có chỗ nào nói đến phải Quy Hàng địch ? Đâu có chỗ nào nói phải bỏ chạy, để người lính ở lại chiến trường một mình ? Binh Pháp còn nói rõ ; vai trò của sĩ quan chỉ huy trung đội, đại đội, trung Đoàn, sư đoàn, tướng quân chỉ huy binh đoàn (Quân Đoàn). Tất cả Sĩ quan các cấp đều có bổn phận và trách nhiệm chỉ huy, cho nên luôn bám sát theo quân ở hậu phương và tiền tuyến.Tiền tuyến, chỉ huy quân tiến tới về phía trước mục tiêu địch, thà chết không hề lui. Nếu có chết, chết trong cái dũng cảm với địch ở cái thế, một mất, một còn. Ông là người lãnh đạo quốc gia, Tổng Tư Lệnh QLVNCH, sao ông lại bỏ ra đi, khi cuộc chiến chưa tàn ? Ông ra đi, không  phải mình ông, ông gôm hết vợ, con, anh em, giòng họ quyến thuộc ông, tất cả trên chiếc máy bay 727, tài sản của quốc gia.

   Ông có biết không, khí tiết của những vị Tướng quân, lúc sống, sống bên quân tại hậu phương và tiền tuyến, tất cả cho lính, gọi là “Sống Vi Quân”. Ra trận, không may bị chết, sẽ thành Thần, gọi là “Tử Vi Thần” vì chết bằng tâm dũng cảm, không sợ, không thấy cái chết. Như những vị Tướng: “Nguyễn Khoa Nam, HƯNG, PHÚ…đã dũng cảm tự chết một cách oai hùng, do không quy hàng địch, được chư Amh Linh Tổ Quốc biết đến, toàn dân biết đến, đem lòng thương tiếc , tôn thờ cúng giỗ. Vai trò của Tướng quân là như vậy. Huống hồ ông là Tổng Thống , người đứng đầu lãnh đạo Quốc Gia, có bổn phận và trách nhiệm lớn đối với toàn dân lúc thịnh, cũng như lúc suy. Còn kiêm luôn cả chức Tổng tư lệnh QLVNCH, sao ông không ở lại, để tự chết chung với những vị Tướng NGUYỄN KHOA NAM, HƯNG, PHÚ, mà trốn Dân, Quân ra đi, không thấy ô nhục, sao còn đến quận CAM, muốn gì đây ?

   Tất cả những câu phỏng vấn ông Thiệu nói trên, do một số cựu Sĩ quan đến trước đưa ra câu hỏi. Sau đó một số đến sau đưa ra câu hỏi. Những vị đến sau nữa không có chỗ ngồi, đứng che kín trước cửa ra, vô. Một số không vào được, đứng ngoài đường hô nhiều câu “Đả đảo tên Nguyễn văn Thiệu, phản bội người lính VNCH, hèn nhác bỏ chạy trước”.Tất cả những câu hỏi, mỗi lần hỏi xong,  đều làm cho ông Thiệu bị mất thần,  đỏ mặt. Nhưng rán nói, lại nói qua chuyện Mỹ cắt viện trợ một cách nhát gừng rằng, rằng “Chính phủ hoa Kỳ ép ký vào Hiệp Định Paris. Tôi không ký, họ cắt bớt viện trợ.  Rồi sau đó họ tiếp tục, khi thì con số hai mươi triệu; khi thì mười lăm; khi thì dưới mười giống như các bà mua cá trả giá ở chợ. (câu nói này ông Thiệu đã nói trên đài truyền thanh Sài Gòn ngày 23-3-1975). Họ phản bội ta, họ đã rút quân Mỹ về nước, bắt ta phải tự lo liệu trong cái gọi là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh v.v…”. Ông Thiệu cứ nói tới, nói lui Mỹ phản bội ta, cắt viện trợ, làm sao đủ súng đạn, lương thực để chiến đấu với CS, Ông không đá động  gì đến những câu hỏi chính của một số người hỏi, tại sao ông bỏ Dân, Quân chạy trước ?

   Những vấn đề, Hiệp Định PARIS về VN, Hoa kỳ cắt bớt viện trợ, viện trợ nhỏ giọt, Hoa kỳ rút quân , v.v.. đối với nền Đệ II VNCH, ông Thiệu làm Tổng Thống lúc đó, toàn dân và quân đều biết hết, hà tất gì ông Thiệu lại đem  chuyện cũ ra nói lúc hàn huyên đó làm chi ? Hàn huyên, chứ đâu  phải họp Quốc Hội ? Toàn dân và quân miền Nam, chỉ thắc mắc tại sao ông Thiệu người lãnh đạo toàn Dân và Quân VNCH, lại bàn giao cho ông Hương già, lụm cụm phó Tổng Thống, rồi trốn đi một cách vô trách nhiệm. Mà không chịu trả lời, lại nói sang chuyện cũ !

   Sau hơn 30 phút nghe ông Thiệu trách móc chính phủ Hoa kỳ đủ thứ chuyện, hơn số người ra về, không lời chào ông. Còn một vài người ở lại. Lúc bấy giờ, mọi người được chủ nhà mời nước ngọt, trà. Ông Thiệu nâng ly trà trong có vẻ chưa tỉnh hồn, qua trạng thái run tay. Mọi người nâng ly lên, để tách trà xuống trong không khí im lặng, nếu không nói là ngột ngạt. Giữa những giây phút ngột ngạt ấy, ông Thiệu mở lời tâm tình với âm điệu than thở cho số phận Việt Nam, đất nước nhược tiểu, cho nên luôn bị ngoại xâm gây chiến tranh nhiều đời, can thiệp chia cắt Bắc Nam…Ông im lặng, bưng tách trà lên, hớp một ngụm, khi để xuống, ông nói khẽ “ bị NÔ LỆ”.

   Ba tiếng “Bị NÔ LỆ”, mà ông Thiệu đã thốt nhẹ đó. Chắc chắn ông Thiệu ám chỉ hai đời Đệ I và Đệ II VNCH ông Diệm và của ông làm Tổng Thống bị làm Nô Lệ cho Hoa Kỳ. Quả thật, ông Thiệu cho rằng hai đời VNCH, làm Nô Lệ cho Mỹ, là sai lầm lớn, không hiểu gì về 4 chủ nghĩa giữa lòng nhân loại.1- chủ nghĩa Thực dân. 2- Chủ nghĩa Thực dân Vatican không phải tôn giáo, thực chất là một quốc gia, có vua trên các vua, do đó có bang giao, có đại sứ 3 -Chủ nghĩa Cộng Sản. 4 - chủ nghĩa Tư bản.

   Chủ nghĩa Thực dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha bên châu Âu, xuất hiện giữa thế kỷ 18 , đem quân xâm lược và đặt nền đô hộ các nước nhỏ ở Nam phi như Chi Lê..Nam Mỹ như Mexico..Á châu như Ấn Độ, Philipin,Việt Nam.Trong đoàn quân Xâm lược này, có cả đoàn giáo sĩ, thực sự là quân xâm lược của Vatican, đi theo để truyền bá đạo Chúa, nô lệ tâm linh con người. Tất cả dân tộc tại các nước nói trên bị 2 thế lực Thực dân xâm lược, vừa đặt nền Đô hộ bản thân vật chất, vừa bắt làm Nô Lệ Tâm linh.

   Trước vô số tội ác của 2 chủ nghĩa Thực dân nói trên đối với các nước nhược tiểu như vậy, làm cho các ông: Các Mác và Lenine lập ra chủ nghĩa Cộng Sản (khoảng thế kỷ 18), để giúp vật chất, súng  đạn, đại pháo, xe tăng, máy bay, quân dụng… cho những nước, đang bị hai thế lực Thực dân xâm lược đó, để tự chiến đấu, giải phóng dân tộc mình mau ra khỏi xiềng xích thực dân. Nhưng giải phóng đâu không thấy, lại thấy dân tộc các nước bị hai thế lực Thực dân xâm lược đó, càng lúc càng trở thành đồng minh của khối Cộng Sản quốc tế, chính là  nền tảng bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản khắp thế giới, sau khi hai chủ nghĩa Thực dân bị thua, ra đi.

   Vì thế cho nên, chủ nghĩa Tư Bản xuất hiện sau đó giữa lòng nhân loại bằng 3 nguyên lý: Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, để đối trị lại chủ nghĩa Cộng Sản không có Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Chủ nghĩa Tư bản do Hoa Kỳ khai nguồn, làm Bầu xô trên cơ sở viện trợ rất lớn về lương thực, tài chánh, nhiều loại vũ khí, súng, đạn, xe tăng, tàu thủy, máy bay đủ loại, dụng cụ quân đội và kể cả nhân lực (lính Mỹ), cho những nước đang bị Cộng Sản lâm le bước vào như Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan hay đang bị CS lấn chiếm vào nội địa, như Việt Nam dưới thời Bảo Đại và miền Nam VN dưới hai đời VNCH của Tổng Thống Diệm, và Thiệu, để chống lại lực lượng CSVN.

   Hai chủ nghĩa Tư bản và Cộng Sản đều xây dựng trên 3 nguyên lý ấy. Một bên , đó là Hoa Kỳ. Một bên không, đó là Cộng Sản nói chung,VN nói riêng, họ đưa ra dân chủ, tự do để lường gạt người dân. Hai chủ nghĩa Tư bản, Cộng sản thật sự không đặt nền đô hộ, không bắt ai làm nô lệ. Sở dĩ người CS chủ trương 3 không đó, để luôn được tồn tại độc tài. Nếu không, ắt sẽ bị tan rả bởi 3 cái Có của Hoa Kỳ. Ấy thế vậy mà, miền Nam VN sống trong chính thể VNCH, do chủ nghĩa Tư bản Hoa Kỳ hiện hữu xây dựng cho người dân được Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Như vậy, tại sao bị CSVN giải thể toàn bộ Đệ II VNCH vào 30 -4-75 ?

    Là người dân cũ của VNCH đang sống hải ngoại, nên truy ra tận cội nguồn, gốc rễ, để biết nguyên nhân làm tan rã chính thể Đệ II VNCH ? Rõ ràng, do vì tập đoàn Thiên Chúa Giáo ngoài xã hội, Cần Lao trong 2 chính Phủ VNCH dưới thời Tổng Thống Diệm và Tổng Thống Thiệu. Tất cả cúi đầu làm Nô Lệ , tay sai cho chủ nghĩa Thực dân Vatican. Điều đó được thấy tập đoàn Cần lao trong 2 chính phủ Diệm, Thiệu, đã ra tay tiêu diệt hằng ngàn trí thức trong tam Giáo Đồng Nguyên hết lòng chống Cộng, xây dựng đất nước.Tiêu diệt sạch những trí thức ngoài Thiên Chúa, cho mục đích để ôm hết quyền hành chính phủ VNCH trong việc cai trị dân bằng Đạo Chúa, không bằng 3 nguyên lý Tự do, Dân chủ, Nhân quyền của Hoa Kỳ, mặc dù lực lượng Hoa Kỳ đang có mặt tại Nam VN dưới 2 chế độ Diệm, Thiệu.

Chứng thực điều đó, trong lúc chuẩn bị bầu cử QHLH,Tướng Tá Cần lao, lùng bắt hết hằng ngàn Sĩ quan các cấp  và những trí thức Phật giáo đã có tham gia phong trào đòi bầu cử QHLH. Một số sĩ quan mà họ cho là có tội nặng nhất bị đày ra nhà tù Côn Đảo, tội nặng vừa bị đầy xuống trung tâm huấn luyện Trần Quốc Toản ở Cao Lãnh miền Tây, dân sự vào nhà tù tại Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, cũng như bắt đi nhập ngũ.

   Sau khi họ(Cần Lao) tự tổ chức xong bầu cử QHLH, tập đoàn Cần lao chia nhau ôm hết 3 cơ quan  Lập pháp,  Hành pháp, Tư pháp. Cần Lao ôm hết 3 cơ quan ấy, nhưng hoàn toàn không thực thi chỉ để làm vì, coi như nền an ninh VNCH bị bỏ ngỏ, họ lo tham nhũng vật chất, tiền bạc, không lo việc quốc phòng. Sở dĩ tập đoàn Tướng,Tá Cần Lao trong 2 chính thể VNCH, cấu kết nhau ôm hết các chức vụ quan trọng về hành chánh và quân đội như vậy.Thật dễ hiểu, đó là vơ vét tiền tài, của cải vật chất…để dâng hiến cho Tòa Thánh Vatican, cho gia đình họ, cho GH Ki Tô VN, mà Quân, Dân không thể biết được. Hành động dâng hiến lén lút đó, chính là Nô Lệ đế quốc VATICAN . Do vì Nô Lệ, mà bị mất chính thể VNCH, đúng như LM Hoàng Quỳnh nói: “thà mất nước, không thà mất Chúa” Nước VN còn nguyên, chỉ bị mất chính thể VNCH (nước Chúa của người Việt Ki Tô Giáo). Ông Thiệu than van ra lời vì nô lệ, nếu không nói rằng, ý niệm ông cho rằng; chính thể Đệ II VNCH mà ông làm Tổng Thống, là làm nô lệ cho Hoa Kỳ, cho nên không tự chủ, không có tinh thần tự quyết, mọi thứ đều lệ thuộc vào Mỹ! Ý tưởng ông Thiệu cho rằng; VNCH làm nô lệ cho Mỹ là sai! Đúng ra ông Thiệu phải nói chính phủ Quốc Gia Việt Nam Bảo Đại ngày xưa, đều bị làm nô lệ cùng lúc cho cả hai chủ nghĩa thực dân : Pháp và Giáo hội Thiên Chúa Vatican, một đế quốc thực dân xâm lươc khét tiếng. Rồi đến hai chính phủ Đệ I, Đệ II VNCH, cũng lại tiếp tục làm nô lệ cho đế quốc Thiên Chúa Vatican. Cội gốc nô lệ ấy đang còn tồn tại sâu đậm trong tâm hồn của toàn thể tín hữu Ki Tô Giáo VN nói chung, Tướng, Tá, viên chức chính phủ trong đảng Cần Lao nói riêng trong  Đệ II VNCH của ông, mới là đúng! Bởi vì do tập đoàn Ki Tô Giáo VN nói chung đó, họ đã làm nô lệ cho Tòa Thánh La Mã qua nhiều thập niên tại Nam VN, là nguyên nhân làm sụp đổ toàn bộ cả hai chính thể Đệ I, Đệ II VNCH. Chứ riêng bản thân Đệ II VNCH không thể làm nô lệ cho nước Mỹ, ông Thiệu đem lời than như vậy, là không đúng.

   Trong quá khứ xa xưa, vào những thế kỷ 16,17,18 có những tập đoàn thực dân Pháp, Anh Quốc, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Đế Quốc Vatican - La Mã..., không phải tôn giáo. Tôn giáo luôn hiện hữu giữa lòng nhân loại, không bao giờ có đất nước riêng. Những tập đoàn thực dân, đế quốc đen đó, đem quân, vũ khí và Kinh Thánh Jesus đi xâm lược các nước nhược tiểu, để đặt nền đô hộ, bắt người dân bản xứ làm nô lệ bản thân, nô lệ tâm linh. Điển hình rõ nét, là Việt Nam bị Pháp đô hộ, nô lệ bản thân, bị nô lệ tâm linh bởi Đạo Thiên Chúa gần cả trăm năm. Họ đã gây cho dân tộc VN nhiều nỗi oan nghiệt, nay vẫn còn chưa chấm dứt.Tức thì, chủ nghĩa Cộng Sản ở Nga ra đời vào khoảng thế kỷ 19. Chủ nghĩa Cộng Sản, chủ trương giải phóng các nước nhược tiểu đang bị chủ nghĩa thực dân xâm lược, bằng cách giúp cho vũ khí và cố vấn qua đề cương, không giúp nhân lực.

   Đồng thời có chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ ra đời, để đối chọi lại chủ nghĩa Cộng Sản ngự trị, bằng sức mạnh của ánh sáng tự do, dân chủ, nhân quyền. Do đó các nước cộng sản Đông Âu (Nga Sô, Tiệp Khắc, Ba Lan…) đã tự động tan rã bởi những luồng ánh sáng tự do dân chủ, nhân quyền của Mỹ.

   Với những nước đang bị cộng sản lâm le giải phóng như miền Nam Việt Nam, gọi là nước Việt Nam Cộng Hòa, đã được Hoa Kỳ viện trợ kinh tế (cơm áo, tiền nong), vũ khí đạn dược và kể cả đổ quân vào để chiến đấu bênh cạnh QLVNCH. Còn những giới chính trị Mỹ tại Tòa Đại Sứ, Lãnh Sự, thì cố vấn cho các viên chức chính phủ trong các cơ chế chính trị, là phải tri hành đúng ba đạo lý tự do, dân chủ, nhân quyền đối với toàn dân một cách nghiêm túc. Vì chủ nghĩa tư bản Mỹ được hùng mạnh và rực sáng ra khắp năm châu, là do ba đạo lý ấy, chứ không phải do súng đạn, vật chất. Nền tảng ba đạo lý ấy, là sức mạnh tiêu diệt chính sách nô lệ bản thân, nô lệ tâm linh.

Do vì ông Diệm và tập đoàn Thiên Chúa Giáo trong và ngoài chính thể Đệ I VNCH không thực thi ba đạo lý tự do, dân chủ, nhân quyền đối với toàn dân. Chẳng những không thực thi 3 đạo lý ấy cho dân VNCH, mà còn Hiệp Thương với Hồ Chí Minh vào tháng 9-1963, nên chi bị chính phủ Mỹ thay ngựa giữa dòng đúng theo thuyết Đô Mi Nô của Mỹ. Các ông Cần Lao và các Tín hữu Thiên Chúa VN cực đoan nên chống con mắt lên mà thấy, thì mới hết đem lời vu khống, chụp mũ chư Tăng, Phật tử theo CSVN.

    Đến thời Đệ II VNCH của Tổng Thống  Thiệu, thì một số Tướng Tá Cần Lao cực đoan trong chính quyền, các trí thức Công Giáo ngoài xóm đạo hợp tác nhau, họ tiếp tục làm nô lệ cho Tòa Thánh La Mã bằng cách đàn áp phong trào dân chủ, nhân quyền của toàn dân cho mục đích ôm hết các cơ chế chính trị, quân sự để tiếp tục bành trướng đạo Chúa như thời Diệm, Không cho người dân được tự do bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, đó là hành động tước đoạt nhân quyền. Trắng trợn hơn là không cho những trí thức Tam Giáo Đồng Nguyên ra ứng cử Quốc Hội Lập Hiến. Họ với họ tạo thành Quốc Hội, rồi ôm hết chức quyền Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, để tiếp tục làm nô lệ cho Tòa Thánh Vatican. Chứ chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ, đâu có bắt toàn dân Nam VN làm nô lệ, mà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu than thở bị nô lệ, nên bị thua cộng sản!

   Những người Việt theo Thiên Chúa Giáo, sao không thấy mình luôn luôn làm nô lệ cho Đế Quốc La Mã, là lo xây dựng nước Chúa VNCH, mà không lo thực thi dân chủ, nhân quyền cho dân, không lo tình báo quốc phòng, chuyên đi tìm kiếm các cán binh cộng sản chiêu hồi giả, để đưa vào đạo Chúa, chính là con dao hai lưỡi, ngồi sau ông Thiệu, lo đưa CSVN vào các cơ chế quân đội, hành chánh VNCH để vinh danh Chúa… Đến lúc Hoa Kỳ giã từ miền Nam VN, thì chính những người cộng sản chiêu hồi theo đạo Chúa, họ từ trong đánh ra, các lực lượng quân sự cộng sản từ ngoài đánh vào.

Những người Việt theo Thiên Chúa Giáo trong và ngoài quân lực VNCH đã chạy ra hải ngoại nhiều hơn ai hết vào mùa xuân 1975. Tại hải ngoại Hoa Kỳ, có lẽ họ cảm thấy nhục với dân tộc, nhục với Phật Giáo, sau khi đã suy nghĩ lại, thấy mình đã phá vỡ phong trào đòi bầu cử Quốc Hội LH ngày xưa của Phật Giáo, là cái nhân đưa đến cái quả VNCH bị tan hàng. Không biết cách nào hơn để rửa cái nhục đó, để toàn dân đừng biết chính thể Đệ II VNCH bị tan hàng là do Thiên Chúa Giáo của mình. Bằng cách là đổ hô cho Phật Giáo VN, Chư Tăng PGVN theo cộng sản bằng bài viết phịa ra chuyện xấu, chụp mũ tất cả Chư Tăng PGVN là cộng sản trên báo chí, truyền thanh, truyền hình, sách, báo... Vì thế, họ chọn ra ba ông Tú Gàn, Nhâm, Liên Thành. Nhất là ông Nhâm là người viết lách, phịa chuyện giỏi, chụp mũ cộng sản hay nhất. Cho nên ông Nhâm đã tạo dựng chuyện dâm ô, chụp mũ tất cả Chư Tăng PGVN xưa nay đều là cộng sản để rửa nhục, chạy tội dùm cho tập đoàn Thiên Chúa Giáo VN hải ngoại.

Mấy Lời Xin Hỏi Những Người

     Ki Tô Giáo Việt Nam tại Hải ngoại.

 

    Qua những tài liệu CSVN vào nhà Thờ, giả vờ xin rửa Tội theo Đạo Chúa, được các Giám mục, Linh mục đón nhận và chứa chấp, đưa vào chính quyền và quân đội VNCH, nói chung và Dinh Độc Lập nói riêng, cho làm chức lớn trong  hai đời chính phủ Đệ I và II VNCH; ông Diệm, ông Thiệu, để Tình báo suốt 21 năm, cho nên Đệ II VNCH Thiên Chúa Giáo củaTổng Thống Nguyễn văn Thiệu, mới bị CSVN giải thể toàn bộ, tan hàng vào sáng ngày 30-4-1975. Như vậy, xin hỏi những người Ki Tô giáo VN lần nữa, có còn đổ thừa cho Phật Giáo VN nữa hay không ? Nhất là ông Liên Thành, tự xưng Sĩ quan Tình báo VNCH, mà không thấy CSVN trong Dinh Độc Lập. Trong khi đó, những viên chức Tòa Đại Sứ và CIA Mỹ tại miền Nam VN đã thấy thật rõ, đã ghi và lưu trữ lại vào hồ sơ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Washington DC. Ông Liên Thành sao không thấy ? Nên chi ra hải ngoại, ông nói sảng, nói dai thành nói dại, dại dột nhất là vu khống chư Tăng Huế theo CS, nói huyên thuyên như người bán thuốc Sơn Đông, không xứng đáng Sĩ quan VNCH, bị lưu xú vào trang sử Việt Nam muôn đời mai sau.

 

    

MẤY LỜI XIN HỎI QUÝ ÔNG BÀ VN

TẠI HẢI NGOẠI ĐI CHÙA LỄ PHẬT.

 

Nhiều năm gần đây 2001- 2014 , những người Việt theo Ki Tô Giáo nói chung, cựu Cần Lao nói riêng, có chức tước cũ thời VNCH, đang ở tại hải ngoại, họ ra sức đánh phá chư Tăng Phật Giáo VN trong nước và hải ngoại bằng cái chiêu chụp mũ CSVN, được thấy trên sách GTC (Đặng V Nhâm) BĐMT (Liên Thành) báo Sài Gòn Nhỏ (Tú Gàn) truyền thanh (Đại hải) và được nghe  lời chụp mũ ấy từ miệng của các ông, các bà Thiên Chúa, thường nói ra với mọi người trong các cộng đồng người Việt khi họp mặt nhau. Với người Phật tử chính tông sau khi nghe, thấy, bỏ ngoài tai, không chứa những thứ rác rến hôi thối đó của các ông Cần Lao vào lòng. Nhưng, với một số người Việt theo đạo thờ Ông Bà, thì lại ưa đem những rác rến, tanh hôi ấy vào lòng sau khi đọc sách, báo, nghe qua đài truyền hình, truyền thanh của các ông cựu Cần lao. Để rồi sau đó, gặp người thân, quen tại các chùa, nơi cộng đồng người Việt trong các dịp lễ , nói lại cho ông Phật tử này, bà Phật tử kia rằng: các HT Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Như Ý, là CS, cho nên VNCH của ta bị tan rã, là do các ông Hòa Thượng Phật Giáo. Gần đây nhất, tháng 5- 2014, một số ông theo đạo thờ Ông Bà, đã Email đến cho một vài nam Phật tử về hình ảnh HT Trí Quang và  mấy ông chính quyền CS đến tham dự lễ đặt đá xây dựng ngôi chùa Đại Giác tại Quảng Bình, rồi chua thêm những lời :“ Cuối đời Thích Trí Quang, vẫn còn làm quà cho Cộng Sản VN”.

   Một ông trong số ông Email hình ảnh và lời ngu si ấy, là con cháu của Sông Hương. Ông Sông Hương này là cựu Sĩ quan VNCH, ông ấy đang ở Houston-Texas có đi chùa, chưa quy y Tam Bảo, (Đạo Thờ Ông Bà). Người viết còn nhớ năm 2008, ông Sông Hương khoe rằng; tên con trai ông, đã được vị HT ở quận Cam hành lễ cầu siêu và gắn vào mạn Thuyền Bát Nhã trong vườn chùa rồi, vì con trai vượt biên bị chết ở biển đông. Thì nay, ông lại Email những lời vô lễ ấy đối với HT Thích Trí Quang. Một ông Sông Hương khác, có đi chùa chư Tăng Khất sĩ cực Nam Cali. Ông ấy gặp những người bạn cùng Sông Hương với nhau, liền xổ ra một tràng: “ Ông Lê Mạnh Thát và ông Thích Nhật Từ là CS rõ ràng, ông Thích Nhật Từ là Chính Ủy, ông Lê Mạnh Thát là phó Chính Ủy, cho nên ông Thát làm trưởng ban tổ chức đại lễ Phật Đản quốc tế vì có bằng Tiến Sĩ Hoa kỳ, ông Nhật Từ phó ban, do đó ông Thát ngồi ở hàng ghế đầu, gần bên ông Nguyễn Minh Triết. Có chức vụ CS, mới được ngồi gần Chủ tịch nhà nước.” Một ông hỏi lại: “ Anh nghe ai nói ?” Ông ấy trả lời : “Mấy ông cựu quân nhân VNCH của ta ở đây nói, do đọc trên các báo Việt ở quận Cam”. Ông bạn liền đáp lời: “ Thông tin nói láo, nhật báo nói gian, Cần Lao phịa chuyện, không có nói có để câu đọc giả mua báo. Với những cựu Cần Lao, họ tự phịa chuyện xấu, để chụp mũ chư Tăng Phật giáo của ta theo CS, để chạy dùm tội cho Nhà Ngô và các GM, LM Thiên Chúa của họ, đã chứa tình báo CSVN trong Dinh Độc Lập, nên chi Đệ II VNCH đã bị CSVN giải thể. Bây giờ ra hải ngoại đổ thừa cho chư Tăng Phật Giáo theo CSVN.

   Người Phật tử chính tông ai cũng phải có Chánh kiến, Chánh tư duy và những người thờ đạo Ông Bà,  phải đọc đến quá trình Tình báo của CSVN, cũng như lịch sử Phật Giáo VN bị tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa giáo VN nói chung trong hai chính thể VNCH, nói riêng anh em ông Ngô Đình Diệm đánh phá, thì mới thấy được PGVN có tinh thần vì dân vì nước, bên Thiên Chúa giáo VN chỉ vì Đạo Chúa của họ, không vì dân tộc, cho nên mới bị CSVN giải thể. Không đọc, không tìm hiểu, mà chỉ có nghe theo bọn Ác ôn Cần Lao nói dối. Vô tình mình trở thành tay sai của họ, đi làm chuyện không công đánh phá cộng đồng PGVN hải ngoại dùm cho họ, coi chừng sẽ bị mất hết phước.

 

    

                                    MẤY LỜI VỚI CÁC CẤP CHXH ĐEN CHỦ         

                                    NGHĨA VN ĐANG LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC.

 

   Định luật nhân quả không sai chạy (chạy trời không khỏi nắng) đối với bất cứ hạng người nào làm Thiện, hay Ác. Quả sẽ đến một cách bình đẳng. Với những người Ác tại VN nói chung, ai đó đã và đang hành động ác, hãy mau mau dừng lại những hành động ác đó đối với người dân. Những người CSVN hiện nay, đang lãnh đạo đất nước trong các ngành Chính trị, Quân đội, Công An, Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, Giao thông, v.v…tại VN... Có biết đến định luật nhân quả hay, không ? Nếu đã hiểu, đã tin thì hãy, mau nau dừng lại những hành động ác đối với dân, cũng như tiếp tục noi theo Đạo đức Cách Mạng của các đàn anh tiền bối trên vận hành lãnh đạo đất nước trong quá khứ, và tiếp tục những việc Thiện nào đang làm cho dân hiện nay.

   Thật sự, không phải tất cả Cán bộ các cấp trên, dưới trong Chính phủ, Chính quyền CHXHCNVN hiện nay, ai cũng có hành động ác đối với dân trong nước ! Chỉ một số cá nhân hậu lai, đàn em của đàn anh Tiền bối CM Việt Minh mới có Túi Tham quá độ mà thôi. Chứ đa số, đều có Đạo đức Cách Mạng trong lòng, lúc nào cũng thấy trong Đề cương Chính trị của Đảng CSVN, không có chỗ nào ghi “ Quân, Cán chính CSVN, cậy quyền cướp nhà, cướp đất của dân, hành hung, đánh đập dân chảy máu, thương tật và chết…không có chỗ nào ghi bán đất, nhường biển cho Trung Quốc. Do vậy năm 1977, chính phủ CSVN đưa hải quân ra biển, đánh quân Trung Quốc, để lấy lại Hoàng Sa nhưng, không thắng được. Luôn luôn phải “ Trung với Đảng, Hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ Thù nào cũng đánh thắng”. Đúng thật, trong hai cuộc kháng chiến đánh Pháp 1945-1954 và chiến tranh Nam, Bắc với VNCH giành độc lập thống nhất đất nước 1954-1975, đều thắng đối phương. Được như vậy là do huyết thống của Tổ tiên xa : Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, hai Bà Trưng, v.v…và hằng trăm bậc đàn anh Tiền bối, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Hà Văn Lâu, Hoàng Minh Giám, v.v.. và các Sĩ quan cao cấp, như các Tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Sơn, Nguyễn Chí Thanh, Trần văn Trà, v.v… Ai cũng có đạo đức Cách Mạng, cho nên trong lúc ở những cương vị Chính trị, Quân sự, Công an…không ai cậy quyền cướp nhà, lấy đất của dân, luôn thương dân, sống đời thanh bạch, chánh trực.

   Tại sao, ngày nay trên quê hương ta, lại xuất hiện một số người mang sắc phục Công An, Dân sự  (CA trá hình), đến đuổi nhà, cướp đất của dân, bị dân chống trả bất bạo động, thì lại ra tay bạo động, đánh đập dân một cách dã man, làm cho người dân bị mất của, lại thêm bị thương trầm trọng, tật quyền suốt đời. Có nơi, Công An đánh chết dân và sách nhiễu các Thiếu nữ bằng cách bắt cởi hết quần áo, lõa thể trần truồng. Nghe đến những hình ảnh xấu, ác, tàn bạo, dã man này, tôi cảm thấy đau buồn cho Chính Thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh)- CHXHCNVN, vốn có Đạo đức trong sáng, danh thơm lang rộng khắp năm châu gần cả thế kỷ qua. Thì nay bị một số đàn  em, con, cháu hậu lai bôi bẩn, làm dơ nhớp bản thể CHXHCNVN. Những người ÁC trong bộ phận Công An này, là ai ? Họ có thuộc dòng giống HÙNG VƯƠNG không ? Hay là thuộc dòng dõi Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai…Bành Trướng Bắc Kinh ?

   Nói một cách khác, là con người trên đời này, một trăm người, trong đó 95 người là đại phàm phu có tính tham, sân, si, ngã mạn, ác kiến… cho nên đã gây cho các tập thể bị phân hóa , đánh phá nhau do ác kiến, vô số người bị khổ đau, mất tiền tài của cải do tâm tham, sân, si…của những kẻ ác gây nên. Ngay trong PGVN hải ngoại đã và đang có những hiện tượng ác nói trên !

   Bằng một tấm lòng, tôi nói cho mà biết. Những kẻ  ác  trên đời nay, bất luận là ai, ngoài xã hội, trong tôn giáo, một khi đã tạo ra những hành động ác đối với mọi từng lớp dân Việt trên quê hương. Trong đó cướp đoạt của cải, đánh đập, giam cầm không đúng, làm thương tật, chết chóc, v.v…không thể tránh khỏi định luật Nhân quả báo ứng, và định lý Vô thường đến một cách đột xuất. Trong đó bị tai ương, ách nạn, tan gia bại sản, mất mạng, mất hết của cải, ốm đau, tàn tật…do vì không còn Phước, bị thay vào đó toàn là Họa. Người xưa đã nói; “Phước bất trùng lai. Họa vô đơn chí”. “Đức năng thắng số”.(số chết, nhưng chưa, do nhiều Phước Đức). Ngược lại “Ác năng diệt mạng” (số chưa chết, lại bị chết vì do nhiều nghiệp ác làm mất hết phước ).

   Bốn Đạo lý nói trên (nhân quả, vô thường, Thiện, Ác) luôn đến với những con người chuyên làm những điều Ác hay là Thiện, không thể tránh khỏi (bất khả tỵ). Vậy, trân trọng kính gởi đến những người  Ác bên VN trong và ngoài nước, để suy gẫm mà ăn năn sám hối thật lòng, hoàn trả của cải lại cho dân, mới hy vọng những thứ tai ách, khổ nạn, bịnh tật, tử vong đột xuất,…sẽ được tiêu trừ. Đừng nghĩ rằng; đem tiền đi xây Chùa, cúng dường chư Tăng hay bố thí kẻ nghèo, là hết “Tội”.Và đừng nghĩ rằng; dựa vào thế lực Trung Quốc, là cây dù lớn có uy lực che chở cho được bình yên mọi mặt ! Hay là đem tiền tài, vật báu, con cháu gởi qua Mỹ sẽ luôn an bình vĩnh cửu ! Khó có thể được ! Vì một khi bị hết phước, thì dù ở đâu trên trái đất này, họa sẽ đến, tiền của tự đội nón ra đi hết, tử thần hiện hữu. Hoặc là đem tiền của cướp được bố thí và cúng dường xây chùa, đúc tượng…, gọi là đi mua phước, trừ họa. Không được gì hết ! Phải tự mình lao động lương thiện, có tiền, rồi đem bố thí, cúng dường Tăng, xây chùa, thì mới được có Phước đức đích thực lâu dài. Đồng thời kính gởi đến các cấp Cán bộ đang làm nhiều việc Thiện cho dân chúng, trong đó đem lời cảnh cáo, khuyên nhủ những cán bộ nào đang làm ác, hãy dừng tay,… Những việc thiện nên tiếp tục làm, để được thêm Phước Đức, là năng lực xua đuổi những khổ nạn, tai ách, được tiêu trừ tật bịnh, tăng thêm tuổi thọ…

   Để rõ thêm bị mất phước, tai họa đến, được thấy qua hai chính thể VNCH ông Diệm và ông Thiệu tại miền Nam VN. Chính thể VNCH, là chính thể lớn lắm, một nửa nước Việt, phì nhiêu ruộng đồng, cây trái 4 mùa, với số dân 35 triệu trước 1975, trong đó ¼ theo Ki Tô Giáo lãnh đạo VNCH chống CSVN, được Mỹ viện trợ vũ khí tối tân, v.v…Quân đội thật hùng mạnh nhưng, tại sao thua hai người lính: Bộ đội miền Bắc và MTGPMN nghèo khổ ? Là tại vì tất cả tập đoàn Cần Lao, khối Thiên Chúa Giáo La Mã quá Ác đối với 34 triệu dân Tam giáo, cho nên bị mất hết phước. Không còn sức mạnh của dân trong bản thể VNCH của họ nữa, họ bị chơi vơi trên không gian Tổ Quốc, lạc lõng giữa lòng dân tộc. Nói rõ hơn, chư vị Anh linh Tổ quốc và tâm hồn của 34 tiệu dân Tam giáo miền Nam lúc bấy giờ đang nằm sâu trong lực lượng MTGPMN và VNDCCH (VM-CSVN) cả rồi ! Nếu không nói rằng tương duyên, trợ lực cho hai lực lượng Cách Mạng nói trên, đang có Đạo đức CM vì dân, cho dân VN hai miền phải thống nhất đất nước, không thể tiếp tục chia cắt, mà tội nghiệp cho bà con, quyến thuộc dân hai miền xa nhau bao nhiêu năm rồi.Tư tưởng đạo đức đó chính là phước lớn. Cho nên nghèo, và khổ, lại được thắng QLVNCH một cách rất huyền diệu, chưa từng thấy trên thế giới này. Qủa thật. giữa mùa Xuân 1975 năm ấy, mọi người gặp nhau, tiếng cười trong tiếng khóc, niềm vui chan hòa với nước mắt chảy dài trên má, bắt tay nhau nghẹn ngào im lặng…đúng với lời ca “Bao nhiêu năm, nay mới gặp nhau, vui sao nước mắt lại trào!”. Thật sự, các cấp lãnh đạo nhà nước VNDCCH lúc bấy giờ, sáng 30-4-1975, họ không ngờ được thắng QLVNCH một cách dễ dàng như vậy, gọi là “bất chiến tự nhiên thành. Ngạn ngữ này, được toàn dân cả nước nói đến suốt bao nhiêu năm qua trên quê hương. Còn những người lính cũ VNCH, đa số vẫn còn nói một cách tức tối “tại sao QLVNCH bị thua CSVN?”.

   Hiện nay tại VN, thiên hạ hết nói đến ngạn ngữ “bất chiến tự nhiên thành” ! Toàn dân trên quê hương đã và đang đổi cách nói, cách nhìn, thấy tập thể CSVN lãnh đạo đất nước đang từ từ bị mất phước, do vì một số cá nhân công an, viên chức nhà nước đã và đang hành xử với dân quá Ác, không kém gì như Cần Lao Thiên Chúa ở 2 chế độ VNCH ngày xưa tại Miền Nam. Mặc dù chỉ một vài cá nhân công an, viên chức trong chính quyền trung ương, địa phương hành xử tàn ác với dân trong việc biểu tình chống bọn bành trướng Bắc Kinh, hay bị cướp đất, đuổi nhà, …đứng lên chống trả, bị công an ra tay đánh đập người dân không tấc sắt trong tay. Nhưng các cấp cao trong chính quyền lơ là, không xử lý cấp dưới. Có chăng, cũng không hành xử đích đáng theo pháp luật.Vô tình tự tạo Cộng nghiệp ác với nhau. Coi chừng cùng nhau đi vào con đường hủy diệt. Đúng như ngạn ngữ VN : “ Một con sâu làm rầu nồi canh. Cha ăn mắm con khát nước” . Rõ ràng, tập đoàn Cần Lao và những người KiTô giáo VN ngày xưa trong 2 chính thể VNCH, xúm nhau làm ác với dân Tam giáo. Làm cho hằng ngàn Quân, Cán chính không hành động ác với dân, phải chịu chung số phận “Thua Trận”, bị CSVN giải thể vào sáng 30-4-1975, thật là tội nhiệp, thấy mà thương tâm cho hằng ngàn người lính VNCH các cấp sống đời chơn chất, bị chịu lây với tập đoàn Cần Lao ác đức trong Đệ II VNCH.

   Qua hiện tượng người dân trong nước đang im lặng, lui dần ra khỏi chính thể CHXHCNVN.Tức là tập thể CSVN dần dần bớt đi sức mạnh của dân, không được toàn dân quan tâm, thương kính như ngày xưa nữa. Chính quyền trên một đất nước đang lãnh đạo dân, một khi bị toàn dân chán ghét, ly khai, đặt ra ngoài hành lang trí óc, bỏ mặc, không còn quan tâm tới nữa. Được xem như bản thân con người bị ung thư đến kỳ bó tay, không cứu chữa được, nằm chờ chết mà thôi. Qua đó cho ta thấy; mọi thứ bịnh nan y trong thân người, mau chết hơn là bịnh ngoài da.

   Cũng như vậy, chính quyền trên một đất nước, như bản thân con người, có nhiều bộ phận trong đó. Bộ phận nào cũng quan trọng, đối với bản thân chính quyền đang lãnh đạo, điều hành đất nước, mọi sinh hoạt của toàn dân. Cho nên các cấp lãnh đạo phải xem xét bộ phận nào trong bản thân chính quyền CHXHCNVN bị bịnh gì, như tham nhũng, bóc lột, cướp của, sách nhiễu, đánh đập, hiếp đáp dân, bán đất cho Trung Quốc, cướp đất, cướp nhà dân,...đều là những loại bịnh ung thư, nan y khó chữa. Tức tốc phải tìm mọi cách chữa trị ngay vừa mới phát. Người trong xã hội bị bịnh ung thư, làm cho mọi người tránh xa. Bản thân chính quyền bị những bịnh trên, nếu không chữa trị, khiến cho toàn dân chán ghét, tránh xa, không ủng hộ nữa, có ngày sẽ bộc phát, tiêu diệt bản thân CHXHCNVN (sư tử trùng thực sư tử nhục), là một quy luật nhân quả. Đừng nghĩ rằng; có thế lực chính trị, quân sự của nước nào đó bên ngoài ủng hộ, như Trung Quốc là sẽ được tồn tại muôn năm ! Các cấp CSVN đang lãnh đạo chính quyền hiện nay trên quê hương, ai đó có tư tưởng dựa vào thế lực của CS Trung Quốc để tồn tại. và cũng đừng cậy vào 3 thế lực nội tại đang có, đó là Công An, Bộ đội và Nhà tù, là nền tảng để tồn tại ! Tất cả, chỉ là  những tiếng “MỚ” của những kẻ say rượu, nằm bên vỉa hè phố Cổ ở Hà Nội, nghiêng đầu rểu nước bọt, sẽ có ngày bị dẩy chết như con cá hết nước.

   Tổ tiên VN ta thường dạy con, cháu rằng; “ việc nhà mình, mình lo, đừng nhờ cậy người ngoài lo dùm, không bao giờ được. Vì đâu có chung chăn, mà biết trong chăn có Rận. Ngay cả người mẹ ghẻ (vợ kế của cha) trong gia đình, mà không thương con chồng, huống hồ người dưng nước lã, làm sao thương được !” Mấy đời bánh Đúc có xương, mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng. Mấy đời bánh Đúc có xương, mấy đời giặc Pháp, Thiên Chúa, Trung Quốc mà thương dân mình !

   Các cấp lãnh đạo nhà nước CHXHCNVN hiện nay, nên nhìn lại nhiều lần hai chính thể VNCH tại miền Nam VN trước đây,(1954- 1975), để suy nghiệm; làm gương. Rồi hỏi tại sao không được lòng dân, bị dân tẩy chay, không ủng hộ. Thì lại ủng hộ chính phủ Cách Mạng Việt Minh (VNDCCH) và  MTGPMN nghèo khổ, khó khăn trăm bề của mình ? Do vì tập đoàn Thiên Chúa Giáo lãnh đạo VNCH, không hướng nội, tức là không vì dân, vì nước, xem thường dân, đàn áp dân… Họ hướng ngoại, ôm chân thế lực Thực dân Pháp, đế quốc Vatican, và cầu xin viện trợ Mỹ, để hưởng vô số lợi lộc riêng tư cho cá nhân, gia đình, giáo xứ, đạo Chúa họ...Chính đó là những cái Nhân xấu, ác… đưa đến cái Quả mất chính thể VNCH của họ.

  Nếu đã nhìn và thấy rõ họ rồi, thì lấy đó làm cái Gương cho tập thể lãnh đạo đất nước của mình hôm nay, có chủ trương hướng nội, vì dân lo cho dân 80% được ấm no, vì Đảng lo cho Đảng 20% được ấm no, không hiếp đáp dân, cướp nhà cửa, đất đai của dân, đánh đập dân,.. hay không ? Có hướng ngoại, ôm chân một bạo lực xâm lược nào đó bên ngoài vào sát hại dân ta, hay không ? Nếu không, quá tốt. Ngược lại, chẳng chóng, thì chầy sẽ bị định lý vô thường đem đến “Quả báo vô vàn khổ đau “phước bất trùng lai”,“họa vô đơn chí”, giống như hai chính thể VNCH của Diệm,Thiệu  ngày xưa vậy.

   Vấn đề chính quyền tại một đất nước nhỏ hay lớn ngày nay, bất cứ nơi đâu trên thế giới, đều phải hướng ngoại, là một điều hiển nhiên, không thể tránh khỏi trên cơ sở ngoại giao, do Hội Đồng LHQ chủ trương, trong đó để biết văn hóa, học hỏi trao đổi nhau về khoa học, kỹ thuật, giúp nhau một việc nào đó trên tinh thần viện trợ không hoàn lại. Hay ký thỏa ước với nhau về công trình kinh tế, và kể cả quân sự có tính cách bảo vệ nhau, nếu bị một nước nào kế bên đem quân xâm chiếm, thì ra quân giúp cho, đánh trả dùm. Nếu không thắng, tiếp tục bị thua. Tức thì được Hội Đồng LHQ sẽ đem quân đến giúp, để lấy lại hòa bình dùm cho, bởi vì đất nước mình là thành viên LHQ. Hướng ngoại ngày nay, là ở nghĩa đó. Chứ không phải hướng ngoại như ngày xưa, là ôm chân thực dân, cúi đầu tuân lệnh, làm nô lệ, tay sai cho thực dân, như Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, đã tự cúi đầu làm tay sai cho cả hai bạo lực thực dân Pháp và đế quốc Ki Tô La Mã-Vatican, ở ngôi vị Quốc trưởng, Tổng thống bù nhìn, bắt dân ta làm nô lệ theo suốt bao nhiêu năm cất đầu không nỗi, từ 1947-1954 Bảo Đại. Sau khi thực dân Pháp về nước, Bảo Đại hết làm Quốc trưởng. Từ 1954-1963 Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống. Từ 1965- 1967 Quân phiệt Nguyễn V Thiệu. Từ 1969-1975 Nguyễn Văn Thiệu ở ngôi vị Tổng Thống Đệ II VNCH. (Cả hai đều là tay sai đế quốc Ki Tô La Mã).

   Mặc dù Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu là Tổng thống của hai đời Đệ I và II VNCH, là thời điểm Hoa Kỳ có mặt tại miền Nam VN từ 1964- 1972, để viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH, nhắm vào hai mục tiêu: Một, ngăn chặn làn sóng đỏ phương Bắc (Trung quốc). Hai, hy vọng VNCH được trở thành nước Đồng minh thuần túy tự do, dân chủ của Hoa Kỳ ở tương lai, sau khi thoát khỏi xiềng xích GH Ki Tô La Mã. Nhưng hai đời VNCH của Diệm và Thiệu, vẫn là tay sai đắc lực của đế quốc Ki Tô La Mã, do tập đoàn Cần Lao ra tay vơ vét tiền viện trợ, để hưởng lợi riêng cho mình, cho 2 GH Thiên Chúa VN và La Mã. Vì thế cho nên, Hoa Kỳ nhiều lần tìm mọi cách vừa thay ngựa giữa dòng, để kiến lập lại một chính thể VNCH không còn Cần Lao Thiên Chúa, vừa tiến hành mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt bằng những chiến lược mới, như chiến dịch oanh kích Rolling Thunder 7-2-1965. Cuối cùng Quân lực Hoa Kỳ bị sa vào hai bãi lầy: Cần Lao Thiên chúa và CSVN trong Dinh Độc Lập. Nếu không có bãi lầy Cần lao trong bản thể VNCH, chưa chắc gì Hoa Kỳ bỏ rơi Đệ II VNCH ! Nói khác hơn, Hoa Kỳ không thua chính trị CSVN ở Hà Nội, mà bị thua CSVN ngay trong Dinh Độc Lập. Hoa Kỳ bị cùng lúc hai gọng kềm CSVN và Cần Lao trong Dinh Độc Lập như vậy, làm sao chịu nỗi, đành phải rút quân về nước vào năm 1972.       

              

 

 Cái chết tự sát của 5 vị Tướng Lãnh và một số sĩ quan,

 hạ sĩ quan các các cấp QLVNCH trước, sau 30-4-1975.   

 

   Các bô lão của Nho giáo xưa có nói: “ Sống vi Tướng, tử vi Thần” Hay là “Tiến vi Tướng, tử vi Thần”. Hai tư tưởng này, cùng hàm ý chỉ cho vai trò của các Tướng cầm quân ra mặt trận, trực diện chiến đấu với quân thù ngoại bang vào xâm lược đất nước, là phải tìm mọi cách để tiến quân đánh đuổi và tiêu diệt, chứ không đầu hàng (trong binh thư không hề nói chuyện quy hàng). Nếu không tiến được, liền đổi chiến thuật tránh né địch, sau đó tiếp tục tiến quân truy kích địch, gọi là lui một bước để rồi tiến lên nhiều bước. Trường hợp tiến thối lưỡng nan (tiến khó và lui cũng khó), thì Tướng có thể tự sát, không để bị địch bắt. Như những trường hợp Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị trầm mình xuống sông Hắc Giang không để bị quân Tàu bắt. Như cụ Phan Thanh Giản cảm thấy không chống được sau khi bị Pháp đánh  chiếm 3 tỉnh Nam Kỳ và tiến quân đánh  Miền Tây, cụ liền tự tuẩn tiết. Như Phạm Hồng Thái đã ném bom giết Toàn Quyền Merlin ở Quảng Châu ngày 18-5-1924 nhưng không thành, ông nhảy xuống sông Châu Giang trầm mình. Như Tướng Hoàng Diệu lấy máu viết tờ di chúc, rồi tự treo cổ chết do thành Hà Nội bị thất thủ bởi Đại Tá giặc Pháp, tên Henri Rivière đem quân đánh thành Hà Nội năm 1882.

   Có lẽ như để noi gương cái chết của 5 vị anh hùng nói trên trong thời quá khứ xa xưa ấy, ngày nay trên quê hương Miền Nam Việt Nam có 5 vị Tướng QLVNCH : Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ và một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan đã tự sát trước ngày, trong ngày, và sau ngày 30 tháng Tư, năm 1975.

   Xét ra và nhìn lại cái chết 5 vị Tướng nói riêng và một số sĩ quan, hạ sĩ quan QLVNCH nói chung, đã tự sát trong tháng 4-1975, giống và không giống như cái chết của 5 vị anh hùng ngày xưa. Giống ở chỗ nào ? Giống ở đây là can đảm không sợ chết, xem bản thân mình nhẹ như lông hồng. Nếu không nói rằng; đã ngộ được đạo lý “ Chết, là cách chuyển đổi qua một bản thân khác của kiếp sau”, cho nên không sợ, không do dự một giây phút nào, sẵn sàng chết, sẵn sàng chấp nhận bất cứ địa vị nào của kiếp sau ở cõi người là gì : sĩ, nông, công, thương, binh, v.v…Hay là địa ngục, ngạ quỷ, Tiên, Thánh, Phật, Trời…Chứ còn tiếp tục sống ở kiếp này trên quê hương Việt Nam, cảm thấy hổ thẹn với bộ đội Bắc Việt, là quân đội toàn là trẻ con, ốm tong, ốm teo đeo cọng lu đủ 5 thằng không làm gãy cành lu đủ, do ăn sắn, khoai, uống nước suối, ở hang, đọng, ngủ bờ, gốc cây, đi dép râu, đội nón cối…Sĩ quan thì dốt nát, không có văn hóa, chỉ có biết bắn súng, hét ra lửa với lính, không được đạo tạo qua trường sĩ quan, v.v…Còn sĩ quan QLVNCH của mình ai cũng có sở trường văn hóa qua đỗ đạt văn bằng tú tài I, II Ban A, B, C, D và có người ở cấp đại học. Ấy thế vẫn được thi vào Trường Võ Bị QGVN - Đà Lạt, bị rớt thì được vào Trường Võ Khoa Thủ Đức. Về quân đội VNCH, là quân đội hùng mạnh đứng nhì Đông Nam Á, do được Hoa Kỳ trang bị vũ khí tối tân, quân cụ tinh vi, máy bay đủ loại; siêu âm F5 chiến đấu, Bà già quan sát, Trực thăng đột kích, xe tăng, tàu thúy, đại pháo tầm xa, đại liên nhả đạn như sấm chớp,v.v…Mà sao, mình cứ tiếp tục bị thất trận trước quân đội Bắc Việt không ra gì đó cả mấy năm nay ! Rồi giữa mùa xuân 1975, QĐ II ở cao nguyên, QĐ I miền Trung bị lọt vào tay quân CS Bắc Việt !  Bây giờ trong tháng 4-1975 này, QLVNCH bị tan rã toàn bộ, thủ đô Sài Gòn bị quân đội Bắc Việt bao vây, Mỹ đã đi rồi, ta sống với ai !  Làm sao sống  nỗi với quân đội Bắc Việt ! Sống làm chi cho thêm nhục ! Thôi thì ta tự chết phứt cho rồi !

    Không giống ở chỗ nào ? Không giống ở chỗ là quân đội Bắc Việt không phải là thằng Tây, Thằng Nhật, thằng Tàu, mà là cùng nhiều thứ cùng với ta : đồng bào, Tổ quốc Hùng Vương, Tổ tiên Lạc Long Quân Âu Cơ, cùng tiếng nói Việt Nam cha ơi, mẹ ơi, ăn cơm cầm đũa, nước mắm, con mắm Mòi, mắm Sặc, mắm Lóc, mắm Chột, v.v…Nói rõ hơn quân đội VNDCCH không phải là quân ngoại xâm, là quân đội Nhân Dân VN được xuất phát từ  những nhóm Nghĩa quân chống Pháp trên 3 miền Nam, Trung, Bắc. Ngay từ năm 1882 dưới triều đại Tự Đức, đã có nghĩa quân Cờ Đen của ta do Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy chận đánh quân Pháp và giết chết Đại Tá Pháp tên Henri Rivière tại cầu giấy Hà Nội. Tiếp theo Nghĩa quân Cờ Đen, có thêm nhiều nghĩa quân do các Tướng Nguyễn Thiện Thuật (1883) Đề Đốc Tạ Hiện ở Hải Dương, Bãi Sậy miền Bắc (1841) Phan Đình Phùng 1885, Đề Đốc Đinh Công Tráng 1886, Hoàng Hoa Thám 1905, Trần Hưng Lập 1940 (Lạng Sơn), Nguyễn Trung Trực  1875 Rạch Giá Nam Kỳ…Đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu 1945, quân đội Nhân Dân Việt Nam được chính huy hóa ở cấp Trung đoàn, Sư đoàn.

   Do được chính huy hóa, quân đội Nhân Dân Việt Nam đã đánh Pháp từ 1946 cho đến 1954, đã đuổi được Pháp ra khỏi Việt Nam. Chính thời điểm 1954 này là thực dân Pháp bị cáo chung. Đúng ra đã bị cáo chung sau đệ nhị thế chiến 1945, chứ không phải đợi đến khi bị Việt Nam đánh đuổi ra khỏi nước ngày 7-5-1954 do bại trận lớn tại Điện Biên Phủ mới tự cáo chung. Nhưng Việt Nam bị chia đôi hai miền Nam, Bắc từ 20-7-1954 cho đến 1975 (20 năm) và cũng từ đó hai miền Nam, Bắc đều có quân đội, chính phủ. Chính phủ VNCH ở Nam, chính phủ VNDCCH ở Bắc, Quân đội và cán bộ các ngành của hai chính phủ toàn người Việt Nam. Nếu không nói rằng Việt Nam hết thực dân xâm lược, nhưng bị lâm vào hai chủ nghĩa Tư Bản Mỹ và Cộng Sản Nga, Tàu, cho nên cuộc chiến Nam, Bắc Việt Nam từ 1954 cho đến 1975, là cuộc chiến mang tính “Ý thức hệ”, anh em một nước đánh nhau, huynh đệ tương tàn. Cho nên không thể gọi quân đội miền Bắc là quân xâm lược khi đưa quân vào Nam. Vì chiến tranh ý thức hệ cho nên huynh đệ hai bên Bắc, Nam đều quyết tâm vừa giữ phần đất của mình, vừa tìm cách đánh nhau để giành phần thắng cho việc thống nhất đất nước, không thể để đất nước bị chia đôi mãi. Còn các Bầu Xô chủ nghĩa là Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc chỉ lo viện trợ quân sự và kinh tế cho đồng minh của mình. Tuy nhiên, có quyền đưa quân của mình vào giúp đồng minh của mình, như Hoa Kỳ đã đưa quân vào Nam VN để cố vấn và tác chiến bên cạnh QLVNCH đang chiến đấu với QLVNDCCH trên phần đất miền Nam, Vì vậy mà các nhân viên VNCH đã gọi miền Bắc là xâm lăng miền Nam, giặc cộng Bắc Việt là sai. Bởi vì chiến tranh ý thức hệ giữa anh, em VN hai miền, thì sao gọi là xâm lược, là giặc được ! Giặc, là quân ngoại nhập không ai mời, tự cậy sức mạnh của mình đem quân vào xâm lược. Như thực dân Pháp, Nhật Bổn, Trung Quốc, VN đâu có mời, họ tự vào xâm lược nước ta. Được mời vào, không gọi là xâm lược, như Mỹ được NGô Đình Diệm mời vào để giúp cho QLVNCH, thì khổng thể gọi là quân Mỹ xâm lược. Trong khi đó miền Bắc gọi VNCH miền Nam là ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ (chủ nhân ông của tư bản) là đúng nghĩa ý thức hệ, đồng minh với nhau.

   Qua ý nghĩa của chiến tranh ý thức hệ, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, thế nào là xâm lược, thế nào là giặc ! Cho ta thấy cái chết của năm vị Tướng và một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan QLVNCH trong tháng Tư, năm 1975, không giống như cái chết của các vị anh hùng: Hai Bà Trưng, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, Phạm Hồng Thái trong quá khứ xa xưa. Tức là không phải chết vì bạo lực xâm lược ngoại bang, mà chết vì thua kém chính trị với người anh em miền Bắc và vì bị người đồng minh Hoa Kỳ ruồng bỏ ta. Chứ QLVNCH, đâu phải không có Tướng giỏi, binh hùng ! Cho nên 5 vị Tướng và một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan QLVNCH đã tự giết chết mình, có 3 vị giết luôn cả vợ, con. Chứng tỏ rằng; vì quá ư bực tức, oán ghét Mỹ quá đểu cáng. Đúng như thiên hạ đó đây đem lời nhận định về chính phủ Mỹ: “ Làm bạn với Mỹ, còn có ngày được sống bình an. Chứ nhận chịu làm đồng minh với Mỹ, sẽ có ngày từ chết đến bị thương, một khi Mỹ nhìn thấy không còn quyền lợi nữa”. Tư tưởng này, cũng được Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nói đến qua đề tài “ Nguyên nhân chính Mỹ bỏ rơi Miền Nam”. Và câu hỏi, cùng trả lời “Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền Nam? Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam đã không còn nữa”. (Khi Đồng Minh Tháo Chạy- tr 455-NGUYỄN TIẾN HƯNG).

   Lời ông Hưng nói: “ Là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam đã không còn nữa”. Như vậy quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam, là quyền lợi gì mà bị mất, nên phải dứt khoát ra khỏi Miền Nam VN? Có phải quyền lợi của Mỹ ở VN, là ngôi chùa, chư Tăng Phật Giáo VN, phải không? Dĩ nhiên toàn dân đều nói không phải. Người Việt khối Tam giáo trong và nước đã thấy Mỹ bỏ Miền Nam VN, là do hai đời Đệ I và II VNCH làm mất quyền lợi của Mỹ: Tinh thần là không có tự do, dân chủ trong dân chúng, làm cho Mỹ bị mất mặt trước các nước trong khối Tự Do. Về vật chất, là không thể kiến tạo được các cơ sở sản xuất của Mỹ tại VN, lại cứ phải tiếp tục đổ ngân quỹ vào Nam VN trên 200 tỷ Dollars. Do đó bỏ Miền Nam VN, bắt tay với Trung Quốc cả tỷ người, còn có lợi hơn. Rõ thực, nhiều cơ sở sản xuất của Mỹ đã di chuyển sang Trung Quốc nhiều thập kỷ và nhiều loại hàng hóa Trung Quốc đã và đang tràn ngập tại Hoa Kỳ. Quý ông, bà Thiên Chúa Giáo La Mã VN trong và ngoài nước, hãy chống mắt lên để thấy hai ông Diệm, Thiệu và Cần Lao đã làm mất chính thể VNCH ! Đúng như lời Linh mục Hoàng Quỳnh nói : “ Thà mất nước, hơn mất Chúa”

    Nhận định thêm. Bạn với Mỹ, Mỹ không có quyền lợi gì cả. Đồng minh với Mỹ, Mỹ mới có quyền lợi. Quyền lợi về chính trị, quân sự mang tính quốc tế trãi rộng ra 4 biển, 5 châu, mà Hoa Kỳ là chủ tịch của thế giới tự do phải tung cánh bay “hoa dân chủ” khắp thế giới để củng cố nền tảng thương nghiệp sinh sản ra vật chất ngay tại các nước thật sự trở về thế giới Tự Do của Hoa Kỳ, trong đó hai bên cùng có lợi.

   Nói đến quyền lợi của loài người trên thế gian này, rất là đa dạng ở hai lãnh vực tinh thần và vật chất. Tinh thần nhiều thứ, vật chất cũng không phải là ít. Hai thứ bổ sung nhau, vật chất sanh tinh thần, ngược lại. Cho nên Hoa Kỳ đổ quân vào Miền Nam VN năm 1965 một cách ồ ạt, cũng chỉ vì đi tìm kiếm quyền lợi vật chất cho nhân dân Mỹ. Nền tảng sinh ra nhiều thứ vật chất cho nhân Mỹ, do tinh thần của Hoa Kỳ. Tinh thần được bao gồm: Tự do, dân chủ, nhân quyền, luật pháp rõ ràng trong viêc hành xử nghiêm minh, công bằng , không thiên vị, không kỳ thị chủng tộc, luôn có lời nói nhã nhặn cùng trạng thái nghiêm túc trong đối đãi với bất cứ mọi người trong các giới trong, ngoài nước Mỹ…Được đi đôi với các ngành khoa học, kỹ thuật vật lý, một đạo binh vĩ đại về hải, lục, không quân tại quốc nội và toàn cầu trên 4 biển, 5 châu lục, chinh phục không gian, phi thuyền đáp xuống mặt trăng, xe cộ, cầu, đường hiện đại, máy bay siêu đẳng hành khách vượt đại dương, không người lái tàn hình, phố xá thênh thang, nhiều kiến trúc nỗi tiếng về dinh thự, tượng đài được thấy ở thủ đôWashington, Washington Monument, v.v…Thứ nào cũng nhất thế giới. Những mọi hiện tượng vật thể đó, mặc dù rất thuần túy vật chất nhưng, lại là tinh thần rất cao độ. Bởi vì hằng tỷ nhân loại trên năm châu, ở đâu cũng nghe, thấy, biết đến qua các cơ quan truyền thông: báo chí, truyền hình, truyền thanh, tranh, ảnh, bài viết của nhiều tác giả trong các sách địa lý, sử ký về nước Mỹ. Cho nên tỷ người như một trên thế giới ai cũng đem lòng hướng về nước Mỹ, và ngưỡng mộ ba tinh thần tự do, dân chủ, nhân quyền, mong sao nước mình được có ba tinh thần ấy để dân giàu, nước mạnh, cũng như mong ước đi du lịch nước Mỹ một lần cho biết !

   Sau khi Hoa Kỳ được một khối quyền lợi lớn một cách tổng thể ở hai mặt tinh thần, vật chất tương duyên nhau vào khoảng đầu thế kỷ 20, Hoa Kỳ tự thấy mình đang có một sức mạnh siêu đẳng nhất giữa lòng nhân loại, không nước nào được có. Từ đó, Hoa Kỳ tự kiến tạo cho mình một chủ nghĩa “TƯ BẢN”. Rồi nghĩ đến nên truyền bá ánh sáng 3 đóa hoa tinh thần tự do, dân chủ, nhân quyền của mình ra khắp 5 châu, để cho các dân tộc tại các nước nhược tiểu đang bị các chủ nghĩa thực dân, cộng sản đặt nền đô hộ, thống trị, bóc lột… mà vùng lên tranh đấu đòi chính quyền đô hộ, hãy trả quyền độc lập lại cho dân tộc mình. Để làm gương trước, Hoa Kỳ đã trao lại chủ quyền cho Philipine năm 1946. Tiếp theo là  Anh Quốc nhìn nhận nền độc lập của Ấn Độ năm 1947.  Hòa Lan trả  lại độc lập cho Indonesia năm 1949. Còn 

          Hai Bãi Lầy Cần Lao,  CSVN Trong Dinh Độc Lập.        

 Ngày xưa trước 1975, các giới người Việt của ta tại Nam VN, ắt hẳn cũng đã được nghe đến tư tưởng sau đây: “Cộng Sản và Thiên Chúa Giáo trên thế giới này, muôn đời không bao giờ đội trời chung với nhau”. Ấy thế vậy mà cả hai đều sống chung trong Dinh Độc Lập, nhưng cùng Quỳ gối, mà dị mộng, cùng CHA mà khác mẹ. Tất cả do các Cha tạo cho hai giới này sống chung mà không hòa bình luôn tìm cách đánh nhau. Thật sự, Cần Lao và CSVN trong Dinh Độc Lập do các LM Ki Tô VN nuôi dưỡng. Hay nói khác hơn, Cần Lao sinh ra CSVN, CSVN sinh ra Cần Lao, gọi là hai người anh em này cùng Cha mà không biết nhau, vì việc ai nấy làm. Chính do hai bãi lầy này, Hoa Kỳ vất bỏ Miền Nam VN. 

 

CÁI CHẾT CỦA NHỮNG VỊ ANH HÙNG VIỆT NAM.

 

Trường hợp cái chết của Hai Bà Trưng, Phan Thanh Giản, Phạm Hồng Thái, Tướng Hoàng Diệu, là do không đầu hàng giặc ngoại xâm, không muốn để giặc ngoại xâm bắt, nó sẽ hành hạ mà ô danh, ô nhục. Giặc ngoại xâm bao giờ cũng quyết tâm bắt sống Tướng quân của đối phương như là một chiến công lớn, là vinh dự gây tiếng vang đối với nhân dân của giặc. Sau đó ra tay hành hạ, nhục mạ Tướng đối phương bị bắt cho bỏ ghét. Qua đây cho ta hiểu thêm ý nghĩa chữ “Giặc”, là nước lớn đem quân vào (ngoại xâm, ngoại nhập) xâm lăng nước nhỏ, đặt nền đô hộ lên đầu mọi tầng lớp dân nước nhỏ bằng nhiều chính sách thật ác độc, trong đó bắt bớ giam cầm, tù đày ,…Cho nên chữ Giặc, có nghĩa là không mời mà cứ cậy nơi sức mạnh của mình tự tiện vào nước nhỏ, như thực dân Pháp dùng bạo lực vào xâm lược VIệt Nam. Chứ Hoa Kỳ đưa quân vào Nam Việt Nam, là do Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu, thì không thể gọi quân đội Mỹ là giặc. Lại càng không thể gọi QLVNDCCH và QLVNCH là giặc, vì cả hai là con dân của nước Việt Nam. Sở dĩ đánh nhau là do mỗi bên theo đồng minh của mình. Như VNCH là đồng minh cuả Mỹ, VNDCCH(CSVN) là đồng minh của Liên xô và Trung Quốc. Do đó lính VNDCCH Miền Bắc có thể đầu hàng lính VNCH Miền Nam, hay lính VNCH đầu hàng lính VNDCCH, không nên tự sát, vì là anh em một nhà, đâu phải là giặc ngoại xâm. Nếu không lầm; chính phủ Cách Mạng VNDCCH và Cộng Hòa Miền Nam VN có ra thông cáo kêu gọi các quân binh chủng VNCH nên buông súng, đừng tấn công họ, sẽ được khoan hồng. Tổng Thống VNCH, Dương Văn Minh cũng đã kêu gọi QLVNCH nên đầu hàng người anh em bên kia, do đã hiểu được cuộc chiến giữa QLVNCH và QLVNDCCH là nội chiến anh em Bắc Nam với nhau, cùng huyết thống HÙNG VƯƠNG, Tổ Tiên ÂU CƠ, LẠC VIỆT, ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN…, không ai là giặc ngoại xâm.

  

        Lý DoTổng Thống Dương Văn Minh

        Kêu Gọi QLVNCH Đầu Hàng CSVN.       

 

    Có một số người Việt tại hải ngoại- Hoa Kỳ đem lời than trách tại sao, Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối đời VNCH kêu gọi quân binh chủng VNCH buông súng đầu hàng Bộ đội CSVN ? Không đầu hàng sao được ! Phải đầu hàng không cách nào hơn ! Bởi vì các giới (nhiều thành phần) Cán binh CS Bắc Việt và Việt Cộng Miền Nam đã có mặt trong ngôi nhà VNCH, không có chỗ nào mà không có họ ! Ngay cả trong Dinh Độc Lập sau lưng ông Diệm (được chứng minh qua đề tài: Mỹ Đã Thấy Mất Nam Việt Nam Từ Cuối Năm 1961), bên cạnh GM Ngô Đình Thục, sau lưng ông Thiệu, bên cạnh CIA, v.v… Nói rõ hơn, hai giới CS Bắc Nam VN đã sống chung với VNCH trong căn nhà Miền Nam là điều tất nhiên đúng nghĩa anh em trong đại gia đình Việt Nam, cho nên hai bên người anh em VNDCCH và VNCH đã nhiều lần vật nhau, đánh lộn nhau ngay trước mặt bà Mẹ VN, trước bàn thờ Tổ Tiên Hùng Vương, một cách hung hãn…đã làm nghiêng ghế, ngã bàn, đổ vỡ bàn thờ ông bà, Tổ Tiên trong căn nhà Từ Đường Tổ Quốc VN suốt 20 năm rồi. Mấy thằng anh VNCH to con, do ăn nhiều thức ăn ngon, có vũ khi tối tân do bạn Mỹ cung cấp cho nhưng, không vật nỗi mấy thằng em VNDCCH ốm yếu, cho nên mấy thằng anh VNCH đã nhiều lần bị thua ngay trong căn nhà Từ Đường Tổ Quốc Miền Nam! Như vậy, không đầu hàng, mà cứ chống lại. Thì ngôi nhà Tổ Quốc Miền Nam sẽ bị tan tành hết, cha mẹ, bà con quyến thuộc hai bên nội ngoại đều chết chùm cả với nhau ! Do vì vốn đã thấy trước vô số hiện tượng : “ Nhà cửa, phố xá, lâu đài, xe cộ sẽ bị đổ nát, và hằng vạn thứ vật chất bị hư hoại, chết chóc thân mạng người dân với con số hằng trăm ngàn đồng bào ruột thịt. Vì thế TT Dương Văn Minh kêu gọi QLVNCH đầu hàng CSVN để tránh đổ nát, chết chóc người dân. Nếu QLVNCH tiếp tục chống CSVN vào giờ thứ 25 đó, dù có tinh thần nhưng hết phương tiện tiếp liệu, cuối cùng phải chết do bởi súng đạn và tử hình theo thông cáo của Chính phủ Lâm Thời CHMNVN đã nói : “Đầu hàng thì sống, chống tử hình”. Riêng cái chết đối với mấy thằng anh VNCH, không những bị chết khi chiến đấu ngoài xa lộ, trên các đường phố, công viên Tao Đàn, sân bay, bến cảng…mà bị chết trong Dinh Độc Lập, các cơ quan hành chánh (Tỉnh đường, Quận, Nha cảnh sát, Đồn CS) và các cơ sở quân đội (Bộ TT M,  BQP, TCCTCT, Quân trường QT, Bộ TL HQ, KQ…tại Sài Gòn và ngay cả tư gia (gia đình quân, cán chính VNCH nào trong các khu phố mà họ chả biết). Tất cả những nơi chốn nói trên, đều có mấy thằng em CSVN trong đó, họ vùng lên chĩa súng bắn đàn anh VNCH một cách dễ dàng. Nói rằng  chỗ nào cũng có CSVN ở vào giờ thứ 25, thật không sai. Đúng như lời TT Thiệu nói: “ Bọn CS đang trà trộn giữa đồng bào ta. Chúng ngồi trong quán cà phê, chúng lò lò ra trái lựu đạn, giết hại dân ta. Chúng ngồi ở quán ăn, chúng lò lò cây súng lục ra bắn giết dân ta,…”. TT Thiệu nói lời đó trên đài truyền thanh (RADIO) Sài Gòn vào sáng ngày 23 tháng Ba, năm 1975.

   Số người Việt hải ngoại –Hoa Kỳ đem lời than trách TT Dương Văn Minh kêu gọi QLVNCH đầu hàng CSVN, không ai vô đó. Họ là những người không am tường chính trị, bị mất chức tước, quyền lợi và các giới Cần Lao, tín hữu Thiên Chúa Giáo VN. Nhất hạng là các ông Cần Lao, tín hữu Thiên Chúa, mà ngày xưa giữa cuộc nội chiến Bắc Nam (1954- 1975) họ là lính, là cán bộ hành chánh VNCH nhưng, họ phe đảng với nhau giành hết các việc quân đội, hành chánh tại hậu cứ, ở văn phòng, cơ sở phòng, ban trung ương, chỗ an ninh 100%. Họ cậy quyền con ông, cháu cha, gốc Thiên Chúa đẩy người lính, viên chức VNCH gốc Tam giáo (Nho, Lão, Phật) ra chiến trường, lên các tỉnh biên giới đối đầu với lực lượng CSVN. Đến mùa xuân 1975, thời điểm quân đội Mỹ đã rời bỏ hẳn Miền Nam, đưa đến cảnh đầy dầu sôi, lửa bỏng, nhân dân tao loạn, bom đạn mù trời, người dân đang sống trong lửa đạn, chín phần chết, một phần sống. Tất cả do hai người lính Bắc Nam đấu nhau, vật lộn nhau lần chót, chung kết trên kháng đài Miền Nam mùa xuaan1975. Một trong hai đấu thủ bị yếu cơ lúc bấy giờ, là QLVNCH nhất định phải thua. Do vậy TT Dương Văn Minh đứng về phía VNCH, xét thấy phe mình sẽ bị lọt đài, nếu cưỡng lại thì bị chết cả đám, chết lây đến dân mà tội nghiệp, nên chi kêu gọi phe mình đầu hàng bên kia là đúng. Cớ sao số người ấy lại muốn QLVNCH tiếp tục chiến đấu với lực lượng CSVN?  Nếu tiếp tục chiến đấu với CSVN lúc đó, họ (Cần Lao, Thiên Chúa) vẫn sống ở các nơi an ninh như trong quá khứ họ đã từng sống như vậy, đâu có ra chiến trường như những người lính gốc Tam Giáo ! Cho nên tại hải ngoại, họ đem lời chê trách TT Dương Văn Minh sao kêu gọi đầu hàng, làm cho họ bị mất chức, mất quyền, hết cơ hội tham nhũng, không còn được ăn trên, ngồi trốc như ngày xưa nữa ! Thậm chí họ còn vu khống Đại Tướng Dương Văn Minh là Cộng Sản ! 

    

      Mười Lăm (15) Hành Động Ác Của Chính

      Quyền CSVN sau 30- 4-1975 đối với dân Việt.             

 

1- Để một mình họ với họ ngoài xã hội. 2- Tập trung hằng trăm ngàn sĩ quan các cấp VNCH trí thức vào trại tù trong rừng . 3- Còn gia đình ngoài xã hội bị bắt ép đi vùng kinh tế mới.  4- Đổi tiền 2 lần. 5- Quản lý kinh tế, bán lương thực cho dân rất hạn chế.  6- Chỉ có đảng viên, bộ đội được ưu tiên mua nhiều ? 7- Đánh tư sản mại bản. 8- Cấm dân ca hát nhạc vàng. 9- Bắt giam dân chúng vượt biên, muốn ra phải nộp tiền. 10-Tiêu diệt PGVNTN. 11-Thành lập GHPGVN. (GH nhà nước). 12- Ngụy tạo lực lượng Phục quốc giả. 13- Tịch thu nhà dân di tản trước 30-4-1975. 14- Bắt dân học tập chính trị. 15- không cho con của các cựu sĩ quan VNCH đang ở tù vào đại học dù học giỏi.

  Đã qua 40 mùa xuân tháng Tư trên quê hương rồi, mà đồng bào ta trong và ngoài nước không hiểu CSVN, cho nên cứ hỏi nhau những câu hỏi trên; tại sao và tại sao ? Thật là dễ hiểu do 2 nguyên nhân quá khứ : Một- Tốn hằng ngàn tấn vật chất, súng đạn, chết hằng trăm ngàn quân trong cuộc kháng chiến đánh Pháp từ 1946 – 20-7-1954, mới đuổi được Pháp sau 100 năm VN bị Pháp đô hộ, nhưng chỉ được độc lập một nửa nước miền bắc nghèo khổ, không được thống nhất, nên chi quá bực tức, hận thù người anh em cùng Mẹ Việt Nam phản mình, theo hai bọn giặc Pháp, Vatican không chịu thống nhất. Tất cả giai do Bảo Đại và cụ Diệm không đồng tình thi hành tổng tuyển cửu thống nhất đất nước vào ngày 16-7- 1955, lại muốn làm quốc trưởng, Tổng Thống VNCH ở miền Nam do các thế lực Âu Mỹ đỡ đầu, viện trợ không vay mượn. Hai- Tốn hằng triệu tấn lương thực, quân trang, quân cụ, súng đạn, xe tăng, đại pháo do vay mượn của Trung Quốc và bị chết hằng triệu lính tại các chiến trường miền Nam suốt 20 năm chiến đấu với QLVNCH thật là gian khổ để giải phóng miền Nam. Còn hậu phương miền Bắc, thì bị bom đạn của Mỹ tàn phá cầu đường, cơ sở… Cuối cùng được chiến thắng bằng một giá quá đắt vào 30-4-1975. Vì thế mà tất cả các cấp lãnh đạo nhà nước VNDCCH, cũng như các giới công an. cán bộ hành chánh, giáo viên, v.v…ai cũng có thái độ hận thù, ghét cay ghét đắng những nhân viên hành chánh VNCH và các cấp sĩ quan QLVNCH lúc đi trình diện vô các trại tù, cũng như lúc ở trong trại tù, luôn luôn bị công an hành xử rất khắt khe bằng những ngôn ngữ ngụy quân, ngụy quyền, tay sai của Mỹ. Bắt làm việc khai báo rất nhiều lần. Lần nào cũng hỏi chôn dấu súng, đạn ở đâu, những người bạn cũ cùng đơn vị đang ở đâu. Trong tờ khai lý lịch có mục can tội….Đại úy Dù, Thiếu Tá cảnh sát, trưởng ty, v.v…Với người gốc Bắc thêm cái tội di cư váo Nam. Nếu theo đạo Thiên Chúa, thì ba tội cùng một lúc (tội Sĩ quan ngụy, di cư, Thiên Chúa giáo ).

   Vì chiến đấu với QLVNCH quá lâu, bản thân bị khốn khổ trăm bề, cho nên trên đà tiến quân đến vĩ tuyến 13 Phú Yên- Nha Trang. Đúng là quân đội Bắc Việt phải ở luôn ngay vĩ tuyến 13 để chờ. Sự chờ đợi này, như các giới chính trị VNCH được nghe đồn đãi rằng; vĩ tuyến 13 đó là phần đất của MTGPMN. Còn từ phía nam vĩ tuyến 13 trở vô là phần đất của VNCH. Sự phân chia VN thành 3 vùng cho 3 chính phủ : Bắc Việt, MTGP và VNCH như vậy, được nghe là có chính phủ 3 thành phần. Thực sự chánh phủ 3 thành phần không có thật, chỉ là sự lừa gạt do Hà Nội đưa ra, để dưỡng quân và xem tình hình đối phương VNCH ra sao. Quả thật tình báo nội thành của MTGPMN báo cáo là các giới Hành chánh và lính VNCH đã tan hàng hết cả rồi. Thế là quân đội Bắc Việt tiến luôn vào Sài Gòn. Đoàn quân này đến nơi nào có cơ quan huyện, xã, tỉnh thành cũ của VNCH, họ đổ người xuống tiếp thu và ở đó, Đa số hằng ngàn người đi trong đoàn quân từ Bắc vô Nam để tiếp thu các cơ sở cũ VNCH, đều là về hưu, giải ngũ, hoặc thương binh cỡ nhẹ…cho nên họ đóng vai bác sĩ giám đốc bệnh viện, hiệu trưởng, trưởng ty….Ba năm sau đó có người mới đến thay.

  Do vì lấy được miền Nam bằng một giá quá đắt với nhiều năm tháng vô vàn cực khổ, cho nên họ (CSVN) đưa ra 15 kế hoạch như đã nói trên để giữ miền Nam cho chắc chắn, đừng để bị mất như năm 1954 mà khốn khổ nữa. Nên chi gióc hết năng lực trong việc bình định, an ninh xứ sở thật chặt chẽ không còn bị người của chế độ cũ đứng lên chống phá, cho đến khi nào thật sự an bình thì mới thôi.

          

       ĐỔI MỚI TƯ DUY.

 

Thời gian bắt đầu giữ an ninh từ lúc bắn 21 phát Đại bác trước Dinh Độc Lập vào sáng 15-5-1975, để chào mừng chiến thắng, cho đến cuối đông 1985 (gần11 năm ), mới lơi dần, do Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố bằng cụm từ “ đổi mới tư duy”. Có nghĩa là mở cửa để cho dân được tự do làm ăn có tư sản và bang giao mậu dịch, kinh tế ra các nước XHCN Đông Âu giữa lúc toàn thể Đảng viên CS các cấp, ai cũng đã được giàu có trong tay một, hai tư sản Két xù qua 11 năm, dùng quyền lực tóm thâu, cướp đoạt tài sản dân miền Nam qua hình thức quốc doanh toàn bộ. Sau đó các tài sản quốc doanh từ từ được chia ngầm với nhau. Cuối cùng tuyên bố quốc doanh này, quốc doanh kia bị phá sản, một khi tất cả đảng viên ai cũng có tài sản riêng. Không dám nói “hết Cộng Sản rồi”,” chỉ đưa ra tư tưởng mọi người dân phải tiến lên “tư bản”, trong đó có mình. Cho nên cụm từ “đổi mới tư duy”, nghe qua thật mỹ miều, nhưng chỉ là một cách hợp thức hóa cho các đảng viên CS tiến lên con đường kinh doanh lớn. Chứ dân đang mang khố rách làm gì có chuyện tiến lên tư sản, tư bản ! Tuy nhiên cũng có, chứ không phải là không có. Chẳng hạn một cựu Trung Sĩ VNCH ở Đà Nẵng không bị tù cải tạo. Gặp lúc thiên hạ đua nhau cất nhà gạch, phải có cửa sắt để bảo vệ tài sản. Anh ấy làm cửa sắt đủ kiểu rất đẹp, được nhiều khách hàng đến mua. Chẳng bao lâu anh được có trong tay hằng tỷ bạc VN (hằng trăm ngàn Đô La Mỹ ) xây lên nhà lầu 3 tầng.

   Tư tưởng đổi mới tư duy của ông Nguyễn Văn Linh, được Đại Tá Cao Nham Bộ Quốc Phòng, đặc trách tài liệu quân sự nước ngòai bình luận trước hằng trăm tù nhân chính trị tại trại Nam Hà, nhân dịp về lấy các tài liệu quân sự bằng  Anh, Pháp, Đức, Nhật và Trung Hoa, đã được một số cựu Đại Tá QLVNCH tại nhà giam số 1 phụ trách dịch ra Việt ngữ. Cứ ba hay bốn tháng ĐT Cao Nham đến Nam Hà lấy bài, nhưng sau hai tháng ông Linh tuyên bố đổi mới tư duy, ĐT Cao Nham về Nam Hà. Tại sân trại Nam Hà vào buổi chiều xuân 1986 hôm ấy, sau Tết. ĐT Cao Nham nói rằng; trước đây, không dám nói gì cả. Nay mới dám nói, vì Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố đổi mới tư duy, có nghĩa là nói về chuyện dân ta sẽ được có tư sản do kinh doanh, buôn bán, làm ăn tự do, chứ không phải tư duy về chính trị. Các cơ sở kinh tế quốc doanh nhà nước ta, cũng đã vơ vét (to sweep of) hết giẻ rách, chỗi cùn đem bán cho các nước XHCN anh, em. Trong những món hàng xuất khẩu sang Hung Ga Ri, bị trả lại đó là Tôm khô, vì xét thấy có vi trùng (bacterium) trong đó. Chiều hôm ấy, sau khi ĐT Cao Nham dứt lời, tù nhân chính trị, cũng được xem hình ảnh múa rối dưới nước trên TV thật là vui mắt qua băng và đầu máy Video. Lần đầu tiên tù nhân chính trị được xem, và thấy hệ thống Video.

  

     PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

      CSVN BỊ CÁO CHUNG SAU 30-4-1975.             

 

Đề tài trên, nhìn qua khó tin nhưng có thật. Có thật ở đây trên ba lãnh vực : đạo đức cách mạng, những bậc đàn anh Việt Minh, tính chất cộng sản. Ba lãnh vực đó, đã bị vắng bóng sau 30-4-1975. Nói một cách khác; những nhân vật Việt Minh sáng giá trong lực lượng Cách Mạng Mùa Thu 1945, như Hồ Chí Minh (đã qua đời ), Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, Xuân Thủy, Hoàng Minh Giám, Mai Văn Bộ, Hà Văn Lâu, Nguyễn Cơ Thạch,  Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Thượng Tướng Trần Văn Trà. Đã bị những đàn em trong tập đoàn CỘNG HÒA XÃ HỘI ĐEN CHỦ NGHĨA VN (CHXHĐ CNVN) như Lê Duẫn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh… cấu kết nhau đem cất dấu, giam lỏng mỗi vị một nơi thật kín đáo; như Tướng Trần Văn Trà không thấy xuất hiện, không ai được biết ở đâu sau khi hết chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp ép bắt giữ chức vụ Kế hoạch hóa gia đình, cụ Phạm Văn Đồng sống trong ngôi nhà cô quạnh, ít người đến thăm, vân vân. Nói rõ hơn nữa, những cán bộ chính trị, và Tướng, Tá quân đội CSVN Hà Nội lớp nhỏ sau 1968 trở đi, không được hấp thụ đạo đức của các bậc đàn anh : Hồ Chí Minh, Phạm V Đồng, Võ Nguyên Giáp… ( linh hồn chính phủ Việt Minh Cách Mạng Mùa Thu 1945 ) cho nên họ đã và đang cấu kết nhau hành động vô số điều ác đối với dân. Điển hình như các ông Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trong, Nguyễn Tấn Dũng,v.v… Riêng hai ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Minh Triết, dù là hậu lai, nhưng vẫn được có chút đạo đức, liền bị tập đoàn CHXHĐ ám hại chết sớm như ông Kiệt. Huống hồ tập thể Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lại càng bị đám Nguyễn Văn Linh, Đổ Mười…cho về vườn sớm. Gọi là người Cộng Sản Bắc Việt chèn ép, giành hết chức quyền cai trị dân, Thật rõ ràng được thấy trong Bộ Chính Trị;  đa số là người Bắc chiếm 40% , Nam 4 %. Trung 2%. Sở dĩ những cấp lãnh đạo nhà nước VN hiện nay đua nhau tạo vô số điều ác đối với dân như vậy, là vì không có được hấp thụ hai thứ : phẩm chất đạo đức và cách mạng Mùa Thu, cho nên các nhân vật hậu lai ác nói trên, đã manh nha nhiều mưu mẹo, mưu chước trong tâm, là sẽ cho các đàn anh về hưu, đặt ngồi các ngôi vị không có quân, không tiếp xúc quần chúng…để tính chuyện cướp ngôi mà hưởng thụ vật chất dục lạc sau khi đánh thắng QLVNCH, giải phóng miền Nam VN.

    Ý niệm xấu ác ấy của tập đoàn CHXHĐ đã có ngay từ lúc đang nội chiến Bắc Nam và nuôi dưỡng trên bước đường vào Nam 1974-1975, sẽ tiến hành hiện thực mục tiêu cướp đoạt chính quyền và quân đội sau khi miền Nam được giải phóng, để dễ bề tóm thâu tiền tài, vật chất của dân miền Nam. Đúng thật, sau 30-4-75 mới một tuần, tập đoàn “Cộng Hòa Xã Hội Đen Chủ Nghĩa VN” đó, đã hành động hai việc cùng lúc: xử dụng hằng ngàn quân xa của Tàu, GMC VNCH chở vô số vật dụng tại các cơ sở cũ của Mỹ, cơ quan VNCH về Bắc liên tục ngày đêm trên quốc lộ Một A, suốt nhiều tháng, và đã hạ cờ Mật Trận Giải Phóng, đưa Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, bà Nguyễn Thị Bình ở ngôi vị ngồi chơi xơi nước, sau đó không lâu cùng lúc giải tán Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Nam Bộ ở Sài Gòn, giải nhiệm và cho về hưu non tất cả cán bộ hành chánh, quân sự gốc miền Trung, Nam bộ dù Tập kết hay sau 1954.Tiếp theo đem giam cầm, cất dấu Tướng Giáp. Tướng Trà, cụ Đồng, v.v… một cách kín đáo như vậy, là để rộng đường thao túng tham nhũng với nhau. Người biết trước mình sẽ bị những tên CHXHĐCN cho ra rìa, nên chi phải chạy qua Pháp, đó là Đại Tá Bùi Tín. Sở dĩ tập đoàn CHXHĐ có những hành động ác đối các bậc đàn anh như vậy, do vì quá sợ, sẽ bị những đàn anh có đạo đức cách mạng, sống đời thanh bạch đó đem lời ngăn cản, khiển trách, thanh trừng. Vì thế, nhóm CHXH ĐEN, một mặt giam giữ, một mặt hô lên nên tiếp tục phát huy Tư tưởng Hồ Chí Minh, rồi kêu gọi toàn thể đảng viên hãy duy trì và noi gương theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trên vận hành lãnh đạo đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh, đã được toàn thể Quân, Cán chính và Dân Việt trên 3 miền đều biết đến, đó là tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, giành độc lập, sống đời kham khổ, công minh, liêm chính, quan tâm đến đời sống của dân , và quân đội, lấy dân làm quyến thuộc, lấy núi rừng làm nhà, không có tư sản, ăn uống thanh đạm,…Như vậy, trong khi tập đoàn CHXHĐ kêu gọi toàn thể Đảng viên noi gương tư tưởng Hồ Chí Minh. Thì lại đua nhau tham nhũng đủ cách, như Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng v.v… đang có trong tay hằng tỷ Đô La Mỹ.

  Tập đoàn Cộng Hòa Xã Hội “ĐEN” Chủ Nghĩa VN đang bước vào ba cõi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Mặc dù bản thân họ là người, nhưng tâm hồn không phải người. Bởi vì họ không thấy hành động ác của họ đối với dân, làm dân đau khổ, vì tâm Địa ngục làm sao thấy được ! Họ không biết hằng tỷ Đô la trong tay họ là xương, máu, nước mắt của dân, vì tâm Ngạ quỷ quá tham, làm sao biết được ! Họ không nghe tiếng khóc của dân khi bị Công An đánh đập trên đường phố, trong xà lim, bởi vì tâm là Súc sinh quá si mê, làm sao nghe được !

   Ba tánh ác Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh hễ có trong tâm con người bất cứ giới nào, ắt  phải thể hiện ra lời nói và hành động ác đối với mọi người. Theo quy luật nhân quả không thể tránh khỏi, nếu không tu nhân tích đức của đạo làm người (Nhân đạo) hay pháp Từ Bi của Đạo Phật. Tâm càng ác lớn, lời nói và hành động ác lớn cũng theo đó mà có đối với mọi người, mọi loài. Qua đây cho ta thấy tâm nào thì đạo đó. Tâm ác đạo ác, tâm thiện đạo thiện, vì tâm là chủ tể, nó điều khiển con người nói và hành động Ác hay Thiện. Như ông vua Thiện thì biết thương dân, lo cho dân luôn được ấm no, hạnh phúc. Vua ác thì dùng quyền cai trị dân tha hồ ra tay hà hiếp, cướp bóc tài sản, đánh đập dân, hành hạ dân nhiều việc ác đức, bất nhân…

  Với người dân, khó thấy, biết hành động trộm cắp, cướp bóc tài sản của người nào đó trong huyện đang hành động. Chứ Vua, Chúa, Quan chức trong chính quyền cai trị dân, một khi có mọi hành động gian trá, dối gạt, láo lường, lưu manh, độc ác đối với dân, trong việc tham nhũng tiền tài, cướp đoạt tài sản của dân, rất dễ thấy. Bởi vì họ ỷ lại chức quyền trong tay, sẵn sàng bắt bớ, giam cầm người dân để cướp đoạt tài sản một cách trắng trợn ra mặt, không sợ dân. Nhất là hành động đánh đập dân, nói lời vu khống, kết tội dân khi người dân khiếu kiện, càng dễ thấy rõ.

   Qua những đạo lý về tội ác và cách hành xử ác của chính quyền VN tư bản đỏ đối với dân, như đã nói trên, tập đoàn chính quyền Cộng Hòa xã Hội “ĐEN” Chủ Nghĩa VN hiện nay, làm sao chối cãi được vô số tội ác trước 80 triệu dân VN vốn đã và đang bị họ dội lên thân hình vô số khổ đau, chết chóc, mất mát, thương tật, đày đọa trong gông cùm, xiềng xích ! ?

   Do vì tâm quá Tham, tâm trở thành SI MÊ , ngu muội, hung hãn không còn tính người, nếu không nói là “Súc sinh Ác thú”. Loài Súc sinh không có Giác hồn, Linh hồn. Chúng chỉ có Sinh hồn, gọi sinh hồn là bản năng sống, đói vồ mồi ăn, khát uống, không có lý trí phân biệt, nhận biết phải, trái.

   Đã là loài người, thì phải biết người kia, kẻ nọ bị đau đớn khi mình đánh đập vào thân thể họ. Phải thấy rằng ông kia, bà nọ đang đau khổ vì bị mình cướp đoạt đất đai, tài sản của họ, làm cho họ trở nên tay trắng, sống lang thang, bịnh tật, chết không một manh chiếu bó thân ! Phải nghe ông kia, chị nọ nói lên lời khiếu kiện chính quyền về việc bị Công An đuổi nhà, chiếm đất một cách vô cớ, ngang tàng ! Vì không phải là người, cho nên không nghe, thấy, biết con người đang đau khổ vì mình.

   Xin khẳng định; tập đoàn lãnh đạo chính quyền Việt Nam hiện nay, không còn mang nhãn hiệu Cộng Sản VN nữa, cũng như đã bị mất tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN, bị thay vào đó “Cộng Hòa Xã Hội Đen Chủ Nghĩa VN”. Vì thế mà một triệu Đảng viên Xã Hội Đen không thấy bọn Bành Trướng Bắc Kinh đã và đang xâm thực nước ta bằng nhiều hình thức rất độc ác…

   Trong khi đó hiện nay, 80  triệu dân Việt già, trẻ, gái, trai trên 3 miền quê hương và hải ngoại đã thấy và đang thấy nhiều hiện tượng như sau :Trung quốc đem quân đánh hải quân VNCH chiếm Hoàng Sa 1974, đánh bộ đội Hải quân CSVN vào năm 1978 chiếm lại Hoàng Sa, lấn chiếm hải phận VN, đánh phá thuyền tàu sát hại ngư dân VN, in tiền giả VN, tha hồ mua móng trâu, bông trái vải, mua đất trồng khoai bán khoai lại cho dân ta với giá đắt, lén cấm móc mới trên biên giới qua khỏi thác Bảng Dốc, thuê đất 50 năm trồng cây, ngang nhiên chiếm đất ngoại ô thị xã VN xây phố Tàu, khai thác Bauxite  cao nguyên (thật sự là tiền đồn có súng, lính để đánh úp VN sau này), ngang nhiên bắt dân ta mặc quần áo Tàu, xây cất trường và dạy tiếng Tàu cho dân Việt, khuyến khích các cửa hiệu buôn bằng chữ Tàu, hằng ngàn dân Tàu vào VN một cách tự do không hộ chiếu, bọn Tàu hung hăng đánh đập dân ta tại các tỉnh VN, tự động xây một đoạn Vạn Lý Trường Thành tại Đà Lạt không thông qua chính quyền địa phương, tự thị vào ngồi trong Bộ Chính Trị chính quyền VN, vào đơn vị Công An từ tỉnh xuống đến quận huyện xã, Công An chìm của Trung quốc phục sức dân sự đang có mặt tại thị xã phố phường VN có vũ khí, tại các thành phố lớn VN đang có hầm vũ khí Trung Quốc trá hình nhà dân Tàu, vân vân.

   Nói rõ hơn mạng lưới Công An Trung Quốc đang có mặt từ chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Đen CNVN trung ương, xuống đến các hạ từng cơ sở Hành chánh, Công An, Quân đội VN. Chúng luôn luôn theo dõi, theo sát tập đoàn tay sai Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, v.v…nhất cử nhất động đều dưới mắt bọn Công An Tàu. Làm cho tập đoàn tay sai CHXHĐ lo sợ bị chúng ám hại, cho nên ngồi im, lặng câm cái mồm, ôm chặt lấy khối tỷ Đô la, tìm phương tẩu thoát khi có biến động chính trị, để mặc cho bọn Tàu Ô tha hồ tự do muốn làm chi thì làm. Đó là hiện tượng mất nước VN vào tay bọn Bành Trướng Trung Quốc, chỉ còn thời gian nữa thôi.

 

        

      

 

 

            SẼ CÓ NỘI CHIẾN TRÊN QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM Ở TƯƠNG LAI.          

 

 I-Trước khi có nội chiến bằng hành động và kể cả vũ khí trong tương lai, đã và đang có nội chiến bằng ngôn ngữ (chiến tranh lạnh) hiện nay trên báo chí, diễn đàn, truyền hình, truyền thanh rất gay gắt dễ sợ. Khối chủ trương nội chiến bằng ngôn ngữ, đó là hai giới Thiên Chúa giáo và Tin lành Việt Nam trong và ngoài nước. Bên cạnh nội chiến ngôn ngữ có vùng lên phục hưng tinh thần Ngô Đình Diệm càng lúc càng cao độ khắp các nhà Thờ tại VN và hải ngoại. Hai khối người Việt  đã và đang bị hai khối Thiên Chúa trên đánh phá bằng ngôn ngữ một cách thách thức trong giai đoạn hiện nay không còn e ngại; đó là (1) chính quyền và Công an tư bản Đỏ. (2)Tăng, Ni, Phật tử trong các GHPG VN bên quê nhà và hải ngoại. Đích thực được thấy rõ các ông Thiên Chúa Đặng Văn Nhâm, Tú Gàn, Liên Thành đã viết bài mang nội dung xấu vu khống các HT Thich Trí Quang, Đôn Hậu là CSVN trên các báo Thiên Chúa hải ngoại và sách tư nhân của họ GTC(ĐVN) BĐMT(LT).   

    II- Nội chiến chính thức trong nước ở tương lai chắc chắn phải bị xảy ra, chỉ còn thời gian nữa thôi, vì đang có nhiều hiện tượng chuẩn bị trước trên 2 thập niên rồi được thấy qua các tổ chức SV Thiên Chúa  giáo VN hải ngoại với số lượng cả trăm ngàn, và lực lượng lên đường, từ thiện xã hội trá hình của họ. Khi nào khai hỏa thì chưa biết, Nội chiến lâu hay mau, phe nào thắng, bại cũng chưa biết. Nhưng thiên hạ đã thấy trước trong nước có 3 khối dân tộc : 1-Cựu quân nhân, cán chính MTGPMN. 2- Số dân oan khiếu kiện bị mất nhà, đất. 3-Đồng bào Phật tử PGHH, sẽ nội chiến với tập đoàn Tư bản Đỏ ( chính quyền đương thời).

   III-Tiếp theo hai khối Công Giáo, Tin Lành trong nước sẽ tấn công tập đoàn tư bản Đỏ (Đảng bộ, Công an, Cán bộ chính quyền) và đánh phá luôn các cơ sở kinh tế (nhà hàng, khách sạn ) của các cấp chính quyền rất dữ dội bằng vũ khí khắp nơi trong nước từ làng, xã, quận huyện, thành phố lớn suốt cả ngày lẫn đêm. Cuối cùng không thắng được chính quyền tư bản Đỏ, vì họ có trong tay nhiều sư đoàn, Công an, xe tăng, đại pháo, máy bay trực thăng…, giống như đánh giặc Trung Quốc năm 1979 trên 6 tỉnh cao nguyên Việt Bắc.

  Có vài ông cựu Cần Lao nói rằng đánh chính quyền tư bản Đỏ, không cần vũ khí, mà bằng lực lượng hằng trăm ngàn, hằng triệu dân xuống đường cùng lúc là thành công. Có người hỏi số lượng hằng trăm ngàn đó, ở đâu ra ? Các ông trả lời từ các xóm đạo, nhà thờ đồng loạt túa ra đường. Tưởng rằng hằng trăm ngàn dân Tam giáo, thì thắng, chứ dân Thiên Chúa thì thua, cả triệu cũng thua. Để cho dân Tam giáo đấu tranh sẽ thắng, dân Thiên Chúa nên ngồi im để ăn theo. Chứ dân Thiên Chúa giành phần tranh đấu để thắng, nhất định sẽ bị thất bại từ chết, tới bị thương.

   Vấn đề tập đoàn tư bản Đỏ đang cầm quyền nhà nước VN hiện nay, họ đã và đang làm khổ dân đủ điều về chuyện đuổi nhà, cướp đất dân, tham nhũng hằng triệu Đô La, toàn dân Việt trong và ngoài nước đều biết, trong đó có tín đồ Ki Tô VN dư biết. Nếu vì dân vì nước có dân chủ…Thì cứ đứng lên, kêu gọi đồng bào cùng đứng lên tranh đấu với mình, là đúng nghĩa vụ công dân VN. Hà tất phải đưa ra chuyện phục hưng tinh thần Ngô Đình Diệm, đua nhau phất cờ vàng ba sọc đỏ và hát bài suy tôn Ngô Tổng Thống, nói lại tiểu sử, ca ngợi Ngô Đình Diệm,…mới là đúng nghĩa tranh đấu chống chính quyền tư bản Đỏ VN ? Những hình ảnh phục hưng, hát bài suy tôn, phất cờ vàng…đã làm cho hằng triệu dân Việt hải ngoại sôi máu khi nghe, thấy ! Bởi vì ông “Đầu Nậu” khai mở nền VNCH, là cụ Diệm đã bị gia đình và GHCG VN của cụ làm hư, cho nên bị chính phủ Hoa Kỳ tiêu diệt. Thì bây giờ phục hưng lại toàn bộ, đâu còn hiệu lực gì nữa mà phất cờ, suy tôn, ca ngợi…! Quá khứ là nấm mồ vô tận, nếu danh được thơm, nhưng cũng chỉ có hoài niệm trong lòng. Huống nữa hư danh bị Hoa Kỳ vất bỏ, bị toàn dân mặc tẩn muôn đời, mà xúm nhau khơi lại bằng ngôn ngữ và hành động, vô ích, khiến cho thiên hạ bĩu môi cười khì !

  Nói cho dân tôi biết; một chính quyền Việt Nam tương lai hậu tư bản Đỏ, (hay hậu CS) sau khi họ tự tan rã bởi sự mầu nhiệm nào đó, là một chính quyền hoàn toàn của dân, do dân, không có một bóng người tôn giáo nào trong đó. Tất cả hoàn toàn mới : tên nước, quốc ca, quốc kỳ

  VI-Để trả thù cho ông Ngô Đình Diệm, khối Công Giáo VN (lính Thiên Chúa có vũ trang) khắp nơi trên ba miền tiến quân vào các chùa, đánh nhau với đồng bào Phật tử, trong đó đa số là Thanh niên Phật tử đều có súng, do chuẩn bị trước. Lúc đó có thêm lực lượng Phật Giáo Hòa Hảo và đồng bào Nho giáo (đạo thờ Ông Bà)  đứng vào hàng ngũ PGVN đánh lại quân đội Thiên Chúa. Sau những ngày đánh nhau, nhà Thờ, Chùa chiền trên ba miền đều bị hư nát, chỗ nặng, chỗ nhẹ. Được bình định, tái thiết lại, phải mất cả chục năm mới được như xưa. Cuối cùng lực lượng Thiên Chúa bị thua đậm vì một chọi ba.

   Số lượng bị tử vong các phe nội chiến chung lại cả triệu người. Số bị thương cả trăm ngàn người. Thiệt hại về cơ sở vật chất, được ước đoán cả tỷ Đô La. Theo sự suy đoán của một số đông trí thức VN có kinh nghiệm chính trị, đều nói tập đoàn tư bản Đỏ thắng, các phe khác thua. Phe thua đậm là Ki Tô giáo VN. Các giới chính trị cũng khẳng định rằng; nhờ nội chiến lớn các phe phái mới thức tỉnh thấy lại mình có tội lớn với dân tộc. Tội lớn của tập đoàn tư bản Đỏ là tham tiền ở nhiều mối, đã làm cho mất đất, biển…giặc Tàu vào nhà sát hại dân ta. Tội lớn của tập đoàn Ki Tô giáo VN là ham muốn xây dựng nước Chúa đã làm mất VNCH, nay trở lại vết xe cũ bằng cách gây nội chiến với các phe, hy vọng sẽ được, không ngờ bị thua đậm. Nhờ nội chiến lớn mới thấy được phe nào là của dân tộc, phe nào của giặc bị dân ta đặt ra ngoài lề xã hội VN. Nhờ nội chiến lớn Minh Vương ra đời, nấm quyền trị nước công minh, đuổi giặc Tàu ra khỏi nước, xây dựng lại nước nhà giàu mạnh, dân tộc thái bình, dân cư lạc nghiệp.

    Thuyết MINH VƯƠNG ra đời. Theo tục truyền của dân gian;Thiên Ma Vương đang hiện hữu trên một quốc độ, cầm quyền trị dân, đã gây nhiều nhiểu nhương khổ lụy cho thế nhân. Làm cho dân gian không chịu nổi, đồng loạt đứng lên chống lại thật mạnh bạo, nhưng không đến đâu, Ma Vương không lùi bước đầu hàng. Tức thì có một thanh niên trai trẻ khôi ngô, tuấn tú xuất hiện giữa ba quân thiên hạ, cầm quân chống Thiên Ma Vương từng bước đúng chiến thuật binh pháp, làm cho Thiên Ma Vương đầu hàng, nhường ngôi cho Tướng quân. Tướng quân đó chính là Minh Vương, con của Thiên Ma Vương, là một quy luật xưa nay thật mầu nhiệm, không thể nghĩ bàn được ! Vấn đề Minh Vương ra đời tại VN, đã được nghe nhiều giới người Việt nói rằng; những con cái của Tư Bản ĐỏVN (Thiên Ma Vương) đang học ở ngoại quốc Hoa Kỳ, Canada, Úc, Đức…là nhân tài của VN. Mai này những nhân tài đó, sẽ lên nấm chính quyền, thay đổi cục diện VN, đưa đất nước và dân tộc lên vận hành Đa nguyên, Dân Chủ, Tự Do và cường thịnh…đúng theo thuyết Minh Vương ra đời. Chứ con cái của ta (VNCH) không thể có được. Con, cháu của Ki Tô giáo VN, lại càng không thể được.

   Minh Vương, vốn là Thiên tử, con của một trong 32 đấng Phạm Thiên (32 cõi Trời) được Thiên Quốc Phụ Vương chỉ thị xuống cõi Trần VN, chọn lựa gia đình Thiên Ma Vương nào đó vừa có đạo đức, vừa có vật chất khả dĩ mà nhập thai, để sau đó khi khôn lớn, được ăn học thành tài, đỗ đạt khoa bảng. Đến khi đất nước bị ngoại xâm gây nhiểu loạn, phe phái nhân dân đánh nhau, tức thì Minh Vương xuất hiện, điều binh, khiển Tướng đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, dẹp loạn quốc nội, bình định Tổ Quốc, tái lập trật tự xã hội, đưa đất nước tiến lên nền dân chủ, đa nguyên, tự do, v.v...

   

   BẢN CHẤT NGƯỜI VIỆT NAM.               

 

Là người VN, dù cho được học Mỹ, học Tây, ở Tây, ở Mỹ…Theo  Đạo Tây, Đạo Phật, Đạo Nho…Nhưng bản chất VN không bị mất, cho nên vẫn còn hiểu được tục ngữ, cao dao đất mẹ, như những câu : Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi. Ở đâu cũng có anh hùng, ở đâu cũng có thằng khùng, thằng điên. Nhân vô thập toàn (không phải ai cũng là Thánh, Tiên, Phật) , Đừng vơ đũa cả nắm

Do vì còn bản chất Tổ tiên VN, chúng ta, ai cũng thấy rõ rằng, hai chính thể VNCH, và VNDCCH (CHXHCNVN) thường gọi là chính quyền CSVN. Tất cả những người lãnh đạo (chính trị, quân đội) trong hai chính phủ VN xưa và nay đó, không phải ai cũng tham nhũng, cướp đoạt của dân…đâu ! Hai đời VNCH xưa thấy nhiều vị trong chính quyền và quân đội có đạo đức, công minh liêm chính.

   Bên VNDCCH (CHXHCNVN), không phải là ít vị có đạo đức, sống đời chơn chất, công minh liêm chính. Chính quyền VN hiện nay, lấm người đi sâu vào con đường tham nhũng, sống vô đạo đức, hung hãn với dân…Rất ít người đạo đức, công minh liêm chính.

Làn sóng tham nhũng hối lộ của dân, mà các cán bộ hành chánh, công an của chính quyền tư bản Đỏ, đang hành động dâng trào như bão tố, làm nghiêng ngửa, xiêu vẹo đất nước, làm hôi thúi môi trường sống. Nhất định phải bị toàn dân tiêu diệt.

   Nhìn lại các ông lớn, nhỏ trong chính quyền và quân đội VNCH xưa có tham nhũng, nhưng chỉ bằng một phần trăm, so với sự tham nhũng của các cấp hành chánh, công an trong chính quyền tư bản Đỏ hiện nay. Công minh mà nói,  nguyên nhân nào khiến cho những người trong các chính quyền VN xưa nay đều có tham nhũng ít, nhiều ? Những nguyên nhân : Do có quyền hành, không có đạo đức, lòng tham quá độ đưa đến si mê tâm thức, không biết đủ, cả triệu vẫn thấy ít. Nguyên nhân chót, đó là thời thế Đô La, gọi là thời thế tạo anh hùng gian tham, hối lộ, chứ không phải anh hùng như “Đại Ca Thai” xưa, anh dũng tiến vào đánh bọn Du Đảng, trộm cướp cho một trận để cứu thoát những kẻ yếu, cô đơn. Cũng không phải anh hùng như các chiến sĩ Thiên Thần mũ đỏ (Dù) QLVNCH, là không bao giờ lùi bước trước hỏa lực quân đội VNDCCH trên các mặt trận Nam VN. Cũng không phải anh hùng như các chiến sĩ Việt Minh chui thân vào lỗ châu mai đồn giặc Pháp, đang có cây đại liên 30 khạc đạn ra tua tủa, họng súng liền tắt nghẽn khi thân anh đã tan nát, rơi vãi trên đất mẹ VN, là lúc các chiến sĩ phía sau tiến lên tiêu diệt giặc Pháp. Hình ảnh anh dũng của hai đứa con mẹ VN nói trên, mới đích thực là thời thế tạo anh hùng.

   Thời thế tạo anh hùng tham nhũng là thời đại Đô La sáng mắt. Hai thời đại VNCH xưa và tư bản Đỏ ngày nay đều có Đô La. Cho nên, thời chính quyền nào có Đô La Mỹ vào, là có người của chính quyền (giới chính trị và chỉ huy quân đội) tham nhũng, bên ít, bên nhiều, không thể tránh khỏi đối với những người kém đạo đức. Ngược lại thì không, như Tướng Nguyễn Khoa Nam không tham nhũng, sống đời đạo đức, thanh bạch…Đại Tướng Võ Nguyên Giáp không tham nhũng, sống đời đạo đức, thanh bạch. Đúng là ở đâu cũng có anh hùng, có người đạo đức. Không riêng gì một Tướng N K N, có một vài Tướng Tá  VNCH cũng có đời sống liêm khiết. Không riêng gì một Tướng V N G, có một số nhân vật chính trị, một vài Tướng Tá VNDCCH cũng có đời sống liêm khiết.

   Một chính phủ bên này đang trên đà chiến đấu với chính phủ bên kia, mà ít người trong chính quyền, quân đội có đạo đức, toàn là tham nhũng, vô đạo đức, làm sao có thể thắng được đối phương bên kia ! Rõ ràng chính phủ Đệ I VNCH  ngày xưa chỉ có Tổng Thống Ngô Đình Diệm, phó TT Nguyễn Ngọc Thơ, Vũ Văn Mẫu…Các Tướng Lê V Tỵ, Dương Văn Minh… là những vị có đạo đức. Do vì ít người có đạo đức, nhiều người tham nhũng trong chính quyền và quân đội, là nền tảng samh ra vô số việc ác suốt 9 năm cụ Diệm làm Tổng Thống, cho nên bị Hoa Kỳ thay ngựa giữa dòng. Đến thời Đệ II VNCH Tổng Thống Thiệu, nạn tham nhũng trong chính quyền và quân đội về vật chất và chức quyền không phải là ít ! Điển hình rõ nét; các ông Cần Lao Thiên Chúa đã ôm hết ba ngành Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp v.v…sau cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến do Cần Lao chủ động, làm cho Hoa Kỳ ghét bỏ, rút quân, là động cơ thua CSVN. Thì lại đem lòng hận thù Phật Giáo ra lời và hành động chửi bới, chụp mũ PG theo CSVN.

   Để cho thấy cụ Diệm có đạo đức qua câu chuyện : Một hôm, Linh mục Vàng vào văn phòng cố vấn ở Huế để gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ Sài Gòn ra thăm, đang ngồi uống trà một mình. Linh mục Vàng sau khi trình bày về chùa Thiên Mụ (Linh Mụ) là của GHTCGVN, vì Thiên là Trời, Mụ là bà Maria cần phải thu hồi lại cho GHTCGVN. Sau khi nghe LM Vàng nói, cụ nỗi giận, lùa hết chén trà, bình trà xuống đất nói : “ Gia đình tôi đã báo hại tôi rồi, bây giờ đến lượt các Cha !” (Như Áng Mây Bay –Tâm Đức- Trang 232). Qua lời than của TT N Đ Diệm vừa rồi cho ta thấy vô số kẻ ác bao chung quanh cụ Diệm, là nền tảng dẫn đến Đệ I và II VNCH bị sụp đổ là do quá nhiều kẻ vô đạo đức, tham nhũng trong  2 đời VNCH. Việt Nam Cộng Hòa mạnh về Quân Lực, suy yếu ở chính quyền bởi quá nhiều Tướng Tá Cần Lao tham nhũng. Điều này đã được nghe phó TT Trần V Hương nói : “ Diệt hết tham nhũng, lấy ai để làm việc” (1965 ). 

 

      TOÀN DÂN MIỀN NAM ĐÃ THẤY RÕ NHẤT.          

 

Thấy rõ tất cả Quân, Cán chính Đệ II VNCH, ai cũng hăng say quyết tâm phải chống hai khối CS Bắc, Nam tới cùng, tiêu diệt hẳn trên phần đất miền Nam, thì mới có thể tái lập một chính thể VNCH có dân chủ, tự do, nhân quyền. Đúng thật tư tưởng quyết chống CS, được thể hiện ra hành động ở từng cá nhân người lính trong các binh chủng chủ lực, bán chủ lực và cán bộ chính trị hậu phương từ bến Hải Quảng Trị đến Cà Mâu, lên đến các tỉnh cao nguyên Trung phần, đâu đâu cũng dấn thân hành động xung kích diệt CS Bắc Việt và MTGPMN suốt gần 10 năm kể từ sau khi cuộc vận động bầu cử QHLH của PGVNTN bị Tướng Kỳ đem quân đàn áp vào ngày 19-6-1966. Mặc dù nội các và TT Thiệu không mở lớp học tập cho quân, cán chính VNCH để biết giá trị Dân Chủ, Nhân Quyền của Hoa Kỳ, nhưng mỗi cá nhân Quân, Cán chính đã tự thông đạt giá trị 2 đạo lý sống đời hạnh phúc ấy qua cuộc vận động bầu cử QHLH của Phật Giáo VNTN, đó là một sự thật yêu nước bằng hành động. Tấm lòng yêu nước này của toàn Quân, Dân bị đẩm máu nhất chưa từng có trong lịch sử nội chiến giữa dân tộc Việt Nam trong quá khứ xa xưa. Những hiện tượng ác và đẩm máu của 2 người lính Bắc, Nam cùng dòng máu Hùng Vương được thấy qua các trận đánh nhỏ, lớn trên 4 vùng chiến thuật như các trận Mậu Thân 68, Dak Tô, Ben Hét, Lệ Thanh, Bình Long, Mùa hè đỏ lửa (Quảng Trị) Đại Lộ kinh hoàng, Cổ thành QT, Bồng Sơn, Kon Tum, Chu pao, Ba Tơ, Sa Huỳnh, khe sanh, Hạ Lào, Đồng Tháp, v.v…giữa thời điểm Đệ II VNCH của TT Thiệu, cũng chỉ vì mong sao miền Nam hết Cần Lao, không còn CSVN, để dân Việt 2 miền sống có dân chủ, nhân quyền từ Nam, ra Bắc.

   Tại những địa danh trên đều có chiến trận xảy ra. Có nơi xảy ra 2, 3,4 lần đánh nhau, Những nơi có chiến trận giữa hai người con mẹ VN đánh nhau như vậy, người và vật ở đó đều bị bom, đạn tàn phá, hủy diệt ít, nhiều theo phần trăm nhân mạng, tài sản. Hai nơi bị thiệt hại riêng về người có đến 40%, đó là trận Tết Mậu Thân -1968 và mùa hè đỏ lửa 1972 được xem là nặng nhất. Trận Tết Mậu Thân 68, diễn ra trên toàn miền Nam VN. Về nhân mạng nói chung dân và người lính hai miền Nam, Bắc bị chết với số lượng trên 45 ngàn. Riêng dân Huế bị CS Mai Chí Thọ chôn sống là 5 ngàn. Lính Bắc Việt và MTGP bị chết vào khoảng 40 ngàn. QLVNCH bị chết chưa tới trăm do ở thế chủ động. Dân các tỉnh bị chết cở vài chục. Về tài sản như nhà cửa, xe cộ… bị thiệt hại là 10% tại các thành phố, như bến xe Mỹ Tho, quán xá đều bị sập, xe hành khách hiệu Á Đông bị cháy cả thảy gần 10 chiếc. Đường Trần Hưng Đạo ở Huế một vài ngôi nhà bị sập, trong đó có cơ sở Thông tin và một số nhà hai bên bờ sông Hương ở bến đò Gia Long, Minh Mạng bị hư hoại khá trầm trọng, những nơi khác trên toàn cõi Nam VN cũng bị thiệt hại tương tợ hay ít hơn. 

   Nơi thứ hai là Kon Tum, Quảng Trị, và Bồng Sơn (Tam Quang) gọi chung cuộc chiến mùa hè đỏ lửa 1972. Tại Kon Tum, những hiện tượng ác xảy ra : đoàn xe tăng T54 trên 10 chiếc của Bắc Việt từ Ben Hét tiến về thị xã Kon Tum bị lực lượng Dù VNCH dùng M72 bắn cháy gần hết. Số còn lại cở 3 chiếc chạy một cách thác loạn vào bệnh viện. Hai chiếc bị bắn cháy ngoài phạm vi bệnh viện, một chiếc ủi thẳng vào phòng cấp cứu, nhưng bị bắn cháy ngay trước cửa. Tất cả tài xế trong xe Thiết giáp đều chết cháy gục xuống ghế, chân bị xiềng vào cây sắt dưới ghế. Có lẽ không có bản đồ thị xã, cho nên xe tăng và Bộ đội chạy lạc vào bệnh viện, không vào được các cơ sở quân đội và hành chánh tỉnh. Hình ảnh lạc đường này, được thấy những chú Bộ đội Bắc Việt leo lên bồn nước bệnh viện, khi bị chết, xác rơi xuống chỗ trũng đầy cỏ rác. Người qua đường thấy vậy, lấy tấm tôn đậy lên, rồi niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Nhìn thấy những xác chết non choẹt đó, tuổi trên độ trăng tròn, tâm hồn còn trắng trong, chưa nếm mùi lạc thú đời là gì, thì đã bị nếm mùi gió sương, thuốc súng. Thật đáng thương cho những đứa con mẹ VN miền Bắc, gọi là sinh Bắc, tử Nam. Chết một cách êm ái, không luyến tiếc, giận hờn ai cả ! Khi bị các chú lính VNCH bắt, chưa đánh các em Bộ đội đã khóc lên như những lần bị mẹ đánh vì tội mê chơi đánh đáo, bắn bi. Cho nên linh hồn của các trẻ em Bộ đội bên kia cõi chết, chúng đang chơi đánh đáo, bắn bi, kéo co,…cả trăm năm vẫn còn chơi bên đó, nếu không được thân nhân mời chư Tăng hành lễ cầu siêu !

   Đồng bào Kon Tum di tản xuống thị xã Pleiku bằng trực thăng SINUK, vào tạm cư tại các trường Trung, Tiểu học công lập và tư thục. Có những gia đình tại Pleiku di tản về Buôn Mê Thuộc và Nhatrang. Hai quốc lộ Qui Nhơn Pleiku- Pleiku- KonTum bị du kích MTGP đóng chốt. Hai chốt, một tại đèo Mang giang, một tại núi Chu Pao giữa Pleiku và KonTum. Chốt Mang giang được khai thông do quân đội Đại Hàn. Chốt Chu Pao rất khó nhổ, bởi vì sát bên đường, cao trên 20 mét san sát nhau, có nhiều hầm, hố. Đơn vị BĐQ hai lần vào, bị bỏ xác, dội ra. Chỉ có đơn vị nhổ được, là do Đại Tá Lê Trung Tường chỉ huy một tiểu đội ĐPQ phục sức màu đen, súng AK 47, không hút thuốc, bò vào ban tối, rải quân khắp các ngọn núi cao, thấp. Sáng ra, các chú lính MTGP xuất hiện rửa mặt, điểm tâm. Tức thì nổ súng, liền thấy ngay các chú chạy vào hầm, hố. Thế là từ đó, các chú dưới hầm đều bị hít hơi cay, hơi ngạt…

    Qua mấy ngày không thấy các chú MTGP động đậy gì, ĐT Tường cho lính mò xuống xem sao, thì đã thấy các chú nằm xụi lơ, hết thở, đã theo ông, theo bà cả rồi. Tin Chốt MTGP đồi Chu Pao được nhổ do ĐT Tường, đã bay về tận phủ đầu rồng, ông Thiệu nghe được, liền ký sắc lệnh cho ĐT Tường đem đại đội ĐPQ pleiku xuống hành quân ở Tam Quang Bồng Sơn, để nhổ nhiều chốt có hầm dưới các gốc dừa, Chỉ trong một tuần, tất cả chốt MTGP ở Tam Quang đều bị ĐT Tường nhổ sạch. TT Thiệu liền thăng chức cho ĐTT lên cấp Chuẩn Tướng và được đi học tập mút mùa sau 30-4-1975, được đi ra Bắc trước cấp Tá, đi bằng C130 do phi công VNCH lái, có Bộ đội ngồi chung đễ đưa vào trại tù ở Bắc. Trong khi đó các cấp Tá, Úy đi bằng tàu thủy, rồi qua xe lửa thời Bảo Đại làm Quốc Trưởng QGVN, cho nên cả thân tù bị lắc theo toa xe, làm cho ai cũng bị ê ám cơ thể. Nhà cửa phố xá Bồng Sơn lúc bấy giờ, bị tả tơi, đổ nát giống như bên Philipine sau cơn bão Typhoon vào đầu tuần tháng 11-2013.

   Mặt trận Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa 1972. Trong lịch sử nội chiến giữa dân tộc Việt Nam với nhau trong quá khứ xa xưa và cận đại, chưa thấy trận nào mà người dân, người lính hai miền Nam, Bắc xáp nhau đấm đá, vật nhau đâm chém giết nhau bằng súng đạn, lưỡi lê một cách dã man, tàn bạo, như trận tại Quốc lộ Một. từ Đồng Hà vô đến Quảng Trị. Dọc hai bên Quốc lộ, đồng bào già, trẻ, gái, trai, hài nhi trên tay mẹ, trâu, bò và người lính hai miền nằm chết la liệt trên đường, dưới ruộng, bờ đê, bờ sông Thạch Hãn, xe cộ đủ loại bốc cháy mịt mù khói đen. Cảnh tượng quá đau thương này, không bút nào để tả cho hết được, chỉ nói một lời “ĐẠI LỘ KINH HOÀNG”, là đủ nói lên vô số hiện tượng Chết rất ư là thê thảm, chồng chất lên nhau, rải rác khắp nơi còn thây, không còn thây, chết 2 lần, thịt. da nát tan, máu huyết của hằng ngàn đứa con Mẹ Việt Nam (không có lính Mỹ) hòa lẫn trên thân hình Mẹ Việt của mình ! Trận đánh này kéo dài gần cả tuần lễ, chưa thu dọn chiến trường, thì chiến trường khác xảy ra cũng tại Quảng Trị.

   Nơi đánh nhau lần hai đó tại Cổ Thành QT, để giành lại lá Cờ của mình. Cổ Thành bị lính miền Bắc(VNDCCH) chiếm, treo cờ đỏ, sao vàng lên cột. Lính miền Nam (VNCH) tấn công để chiếm lại, kéo cờ đỏ xuống, treo cờ vàng ba sọc đỏ lên. Sau mấy ngày chiến đấu, lính Thủy Quân Lục Chiến của VNCH, đã làm chủ Cổ Thành. Số lượng những người con trai của Mẹ VN (lính hai miền) tự giết nhau, chết trong và ngoài Cổ Thành, mỗi bên trên Tiểu đoàn.

   Những hình ảnh thật đau thương không cầm được nước mắt khi nhìn thấy tận mắt, đó là bé gái cở một tuổi, nằm chết úp mặt lên ngực bà mẹ, mà miệng em đang còn ngậm chặt nơi núm vú người mẹ đang nằm chết ngữa, chênh vênh dưới ở lưng chừng lề đường.

   Một cảnh tượng đau thương khác. Do người linh BĐQ VNCH kể lại. Anh ấy kể rằng : “ Tiếng súng hai bên đang vơi một chút, bỗng nghe có tiếng khóc của trẻ thơ ré lên từng chập, một cách hãi hùng trong ngôi nhà bị sập mái gần đó. Tiếng khóc không cầm chân được, anh liền bò vào ngôi nhà, nhìn thấy một bé trai, ngồi bên cạnh xác bà mẹ trong góc của căn nhà đã sập bởi đạn pháo giữa lúc những người lính của hai bên VN đang đánh nhau tại Sa Huỳnh vào Tết Mậu Thân 1968. Thấy anh, thằng bé khóc lớn, khom xuống, đưa tay ôm xác mẹ. Anh lính BĐQ ngồi xuống, rứt em bé ra khỏi xác mẹ nó, rồi nói nhỏ “đừng khóc, đừng khóc, cậu đây, cậu ẩm ra mẹ, mẹ ngoài kia kìa”. Sau khi đứa bé được đôi tay ôm chặt trước lòng ngực, anh lính lếch từng bước thật vất vả trước lằn đạn của đối phương, phải mất hơn nửa tiếng, mới đến nơi an toàn.

   Sau khi chiến địa Sa Huỳnh hết tiếng súng. Một anh lính BĐQ khác bắt gặp một con gà mái xác xơ lông cánh, đứng co mình dưới gốc cây nhãn gãy cành, trụi lá như con gà. Anh lính BĐQ đưa tay bắt nó một cách dễ dàng, đi đâu anh cũng ôm nó trong tay, đến đâu anh nâng niu, cho nó ăn, uống đàng hoàng. Nhân cơ hội trong lúc nghỉ dưỡng quân, anh lính BĐQ đem con gà cho bà chị họ tại Mộ Đức, rồi căn dặn bà chị đừng giết con gà ăn thịt, phải nuôi nó cho đến khi nào nó già, nó chết, chôn nó.  

 

      XÂU CHUỖI LỔ TAI.

   Hai đơn vị Dù và TQLC, khét tiếng gan dạ luôn tiến về phía trước, không hề lui trước hỏa lực đối phương dù mạnh đến đâu, khiến cho đối phương chùng bước, lui dần tìm cách khác đối kháng hay có khi phải rút quân, cho nên đã thắng đối phương CS nhiều trận, chưa lần nào bị thua. Để chứng tỏ đích thật mình là “Thiên Thần Mũ Đỏ”, “Rồng Xanh Lội Nước Có Mặt Đất Liền”, một vài anh trong hai đơn vị ấy, có tính ngông cuồng là cắt một tai của chú Bộ đội hay MTGP đã chết tại mặt trận, rồi phơi khô, xỏ xâu thành chuỗi. Xâu chuỗi có bao nhiêu tai khô (20, hay 35…), là bấy nhiêu lính CS, tức là hằng trăm xác sau chiến trận, chỉ cắt tai của một xác thôi. Trận khác, cũng chỉ cắt một tai của một xác.

   Một hôm nọ, nữ sinh Đồng Khánh được Tòa tỉnh Huế, chọn choàng vòng hoa vào cổ cho hằng trăm anh lính và sĩ quan TQLC trên đường Lê Lợi trước trường Đồng Khánh, Quốc Học, nhân được chiếm lại Cổ thành Quảng Trị. Chiến công này phải cần tổ chức tươi liền, đừng chờ về Sài Gòn, theo lời đề nghị của Phòng Chiến Tranh Chính Trị Quân Đoàn I Đà Nẵng, đã được Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh và tỉnh trưởng Thừa Thiên đồng ý và đến dự. Sau khi một vài thủ tục về nghi lễ, và gắn huy chương xong, hằng trăm anh lính, sĩ quan TQLC xếp hàng đối diện trước kháng đài trong tư thế sẵn sàng cúi đầu, để cho một cô nữ sinh Đồng Khánh từ kháng đài đi tới, đưa vòng hoa vào cổ. Hằng trăm người lính các cấp đồng loạt cúi xuống và hằng trăm cô nữ sinh cầm vòng hoa, đồng loạt đi tới đưa vòng hoa vào cổ. Riêng có một anh lính ở giữa hàng chưa được cô nữ sinh choàng vòng hoa, mãi đến mấy phút sau, cô ấy mới hành động, bởi vì cô có tư tưởng thắc mắc, hỏi anh lính, được anh lính trả lời. Cô nữ sinh ấy hỏi rằng:

 - Em chưa choàng vòng hoa cho anh, “mà răng anh đạ cọ” vòng hoa nơi “cộ rựa ?”

 - Vòng hoa mà anh đang đeo nơi cổ anh, là xâu chuỗi lỗ tai, không phải vòng hoa. Lời anh lính.

 - Xâu “chuội” tai, nghĩa là chi, “hạ” anh ? Lời cô nữ sinh hỏi.

 -Tai ở đây là tai của những người lính Bắc Việt đã chết, anh cắt, phơi khô, xâu lại thành chuỗi để kỷ niệm của trận đánh ác liệt nhất.

  

       BẮN BỎ.

Quân Bắc Việt chiếm Huế gần cả tháng trong Tết Mậu Thân, bị lực lượng Dù VNCH đánh tới tấp thật ác liệt, khiến cho từng đơn vị của họ phải tìm đường tháo chạy. Có đơn vị biết đường rút, có đơn vị (ở núi Tứ tượng -Tuần) không biết đường, bị lính Dù đến tấn công, họ liền bỏ súng đưa tay lên đầu hàng, với số lượng 8 chú Bộ đội non choẹt cỡ tuổi 16, 17. Cố vấn Mỹ nghe có lính Bắc việt đầu hàng, liền đến nhã ý xin đơn vị trưởng Dù, là nên giao 8 lính BV cho phòng CTCT Tiểu khu Thừa Thiên để làm tù binh, trao trả qua lại khi hai bên có hòa đàm. Sau khi cố vấn Mỹ đi rồi, đơn vị trưởng toán Dù, ra lệnh đem hết 8 nhóc (yếu ớt) lính Bắc Việt, xếp hàng ngang, bắn bỏ hết, vì không có thời giờ để giữ, để giao cho Tiểu khu.

      Bắn bỏ vì không chịu khai .

 Những trận đánh giữa hai bên VNCH và CSVN (bắc nam) vào mùa hè đỏ lửa 1972, không khác gì Tết Mậu Thân. Nhất là những nơi ngoại ô xa thành phố và các vùng gần núi như Võ Đak Bình Thuận,v.v…có nhiều lính CSVN hơn các nơi khác. Một đơn vị nhỏ của Biệt Động Quân được cử đến huyện Võ Dak vào mùa hè đỏ lửa 1972. Tại đây, BĐQ giao chiến nhiều lần với đối phương. Do vì nhiều lần giao chiến như vậy, bên nào cũng mệt mỏi, đói khát…cho nên một đơn vị của đối phương CSVN hết khả năng tác chiến, liền bị BĐQ đánh và bắt sống 4 lính (2 nón Cối 2 nón Tai bèo). Tại bộ chỉ huy tạm, người đơn vị trưởng cấp bậc T Tá. Ông ấy bắt 4 lính CSVN ngồi đối diện, rồi bảo người thứ nhất đứng lên, hỏi: “Mầy thuộc đại đội nào, trung đoàn nào, đại đội trưởng tên gì, trung đoàn trưởng tên gì ? Trước khi đến Võ Dak, ở đâu ?” Chú lính CSVN thứ nhất im lặng, không trả lời. Tức thì, ông T Tá đứng lên, rút súng Koll 45, chửi thề, bắn vào đầu chú lính CSVN ngả xuống. Cứ trạng thái đứng lên, im lặng, không trả lời của chú CS thứ 2, thứ 3 và thứ 4. Ông T Tá cũng lời hỏi như cũ, động tác như trước đứng lên, rút súng Koll 45, chửi thề , bắn nốt vào đầu 3 chú lính CSVN ngả gục.

  

         

       Vô Số Hiện Tượng Ác Dưới Thời Đệ II VNCH.          

 

     Phải nói rằng Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống 7 năm 3 tháng (3-9-1969-tháng 3-1975) rất nhiều việc ác xảy đến, đổ lên đầu dân tộc VN trên 3 miền. Nhất là hai giới quân sự và chính trị hai bên ở Nam VN luôn rình mò đánh nhau, giết nhau làm cho dân bị lây. Miền Bắc bị máy bay Mỹ oanh kích đường xá, kho lẫm, nhà ga (không oanh kích vào thành phố có dân cư, thấy sao nói vậy).Trong khi đó lính miền Bắc và lính MTGP tại Nam VN, lại pháo kích vào các thành phố, miền Nam, làm cho dân bị chết oan không phải là ít. Điều ác quá nhiều dưới thời T T Thiệu, không bút nào mà có thể viết ra cho hết ! Bấy nhiêu trên cũng đủ nói lên Đệ II VNCH, là “chính thể chiến tranh nội chiến khốc liệt”, chưa từng có trong lịch sử của những cuộc nội chiến VN ở quá khứ xa xưa. Ấy thế vậy mà, có mấy ông Tướng và cán bộ chính trị gốc Cần Lao của Tổng Thống Thiệu đề nghị Mỹ dội bom Nguyên tử xuống miền Bắc Việt Nam. Rồi cũng đề nghị Mỹ đánh bom xuống các đê điều miền Bắc. Hoa Kỳ không thể hành động quá ác đức như vậy.Vấn đề một sư đoàn Bắc Việt, bị chết nằm la liệt như cá khô tại rừng cao su Long khánh, bởi hai trái CBU (không phải bom hạt nhân) vào cuối tháng 3-1975, là quá ác rồi.

       

      SỰ THẬT PHẢI NÓI RA .             

  

     Như mọi người VN ở hai hạng tuổi cao niên 80, 77 và 65 hiện nay, đều dư biết hằng trăm ngàn người lính, từ bán quân sự, đến chính quy và cán bộ chính trị trong chính thể Đệ I VNCH lơ là việc chống CSVN, nhưng đến Đệ II VNCH, thì ai cũng hăng say tích cực chống CSVN, là do đã hiểu được giá trị cao hai đạo lý Dân chủ, Nhân quyền của Hoa Kỳ, là nền tảng xây dựng cho nhân loại một đời sống vật chất ấm no, hạnh phúc đích thực và đời sống tinh thần luôn được an nhiên tự tại trên vận hành tôn giáo, tư duy văn hóa, v.v…Cho nên, mặc dù cuộc vận động bầu cử Quốc Hội Lập Hiến của GHPGVNTN 1966 dưới thời chính phủ quân phiệt của Thiệu, Kỳ, bịTướng Nguyễn Cao Kỳ, HT Thích Tâm Châu và Tướng Tá Cần Lao phá vỡ nhưng, vẫn nuôi dưỡng trong lòng, chờ T T Thiệu mãn nhiệm kỳ, sẽ có nhân tài (Tướng hay dân sự trí thức) ra tranh cử ắt sẽ thắng, do toàn quân ủng hộ, vì đã thấy được cuộc bầu cử QHLH cũ do Cần Lao đàn áp, và Tướng Kỳ đã thành lập đài phát thanh (RADIO) giả CS trong Căn cứ Mỹ ở Đà Nẵng để đánh phá phong trào bầu cử QHLH của PGVN.

   Sau đó ông Kỳ bị Cần Lao hất cẳng không cho đứng chung liên danh TT  nhiệm kỳ 2 với ông Thiệu ngày 3-10-1971. Thế là Tướng Kỳ đã thổ lộ việc làm xấu ác đó ra cho toàn Quân, Cán chính  được biết, người dân được biết luôn.Thì nhất định cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tới, ta sẽ thắng, do toàn dân và quân đồng loạt đứng lên chọn người tài đức. Trong lúc chờ đợi TT Thiệu xuống, người khác lên Tổng Thống, toàn quân, không ai bảo ai, tự mỗi cá nhân người lính tích cực, hăng say chống và đánh CSVN trên các mặt trận do có lòng yêu nước. Về phía CSVN Bắc, Nam, họ cũng tích cực chống và đánh lại QLVNCH, để giành phần thắng do có lòng yêu nước. Nếu không yêu nước, thì tại sao họ đem quân đánh quân Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1977, để chiếm lại và đánh Trung Quốc vào năm 1979 trên 6 tỉnh cao nguyên Việt Bắc ?

    Do có lòng yêu nước, nên chi nuôi mộng một nước VNCH Dân chủ, Nhân quyền tương lai, mà toàn quân VNCH ai cũng có ý chí và hành động chống CSVN. Những tư tưởng phục hưng VNCH lý tưởng đó, đã và đang ấp ủ trong tâm hồn các binh chủng nói chung,  Tướng Tá (theo Tam giáo) QLVNCH nói riêng, trong đó có các Tướng Tá của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng 1-11-1963 là nòng cốt chỉ đạo. Tư tưởng phục hưng một chính thể Đệ III VNCH lý tưởng Dân chủ, Nhân quyền sau khi TT Thiệu mãn nhiệm kỳ đang nở rộ trong lòng của toàn quân. Than ôi ! Quá ư trễ rồi ! Do vậy phải đưa việc cũ trên ra cho đồng bào VN trong và ngoài nước hiện nay 2014,…để biết Đệ II VNCH bị tan hàng, là do những Tướng, Tá Cần Lao Thiên Chúa phá vỡ cuộc vận động bầu cử QHLH của GHPGVNTN năm 1966.Chắc chắn các ổng sẽ lên tiếng cãi chày cãi cối không nhận lỗi, đổ hô cho Phật Giáo VN. Lịch sử và những nhân chứng còn đây trên quê hương và hải ngoại, không chối cãi được đâu.

 

     

 

             TỘI ĐỒ CỦA TẬP  ĐOÀN CỘNG HÒA XÃ HỘI

           ĐEN CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỐI VỚI DÂN TỘC

  

   Sau 30-4-1975, tập đoàn CHXHĐCNVN đã tạo ra vô số điều ác lên đầu toàn dân miền Nam như: Đổi tiền. Họ nói rằng; tờ bạc 500 VNCH, chỉ đổi được 1đồng của chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Mỗi gia đình chỉ được có bạc mới là 200 thôi. Trong 200 đó có tờ 1 đồng, 2 đồng, 10 xu, 5 xu. Trong khi đó tất cả những cán bộ cao, trung cấp trong các nghành: Bộ đội, Công An của họ không có tiền VNCH. Ấy thế vậy mà, mỗi người họ được có từ một ngàn đồng, năm trăm đồng tiền mới và tiếp tục lãnh lương hằng tháng sau đó. Họ là chính quyền, có quyền in tiền ra, phát cho người của họ được giàu có. Đó là một tội ác số 1. Dân ta tiêu hết 200, lấy đâu ra tiền mà sống ! Thế là vơ vét hết mọi thứ trong nhà : quần lót cũ giặt sạch, cái Xú chiên, bàn ủi, ghế đẩu, bộ quần áo Ka ki màu vàng của chồng (cha), ba lô, cây dù, bút nguyên tử, v.v…đem ra bán tại chợ trời. Khách hàng, đó là những chú Bộ đội, Công an, nam nữ cán bộ trong các nghành chính trị, quân sự, các bà giáo viên, các ông hiệu trưởng mới ở miền ngoài vào…,đa số người Bắc 80%, miền Nam 20% . Họ đến chợ trời. Tại đây, họ mua tất cả đồ cũ không chừa một thứ gì. Họ mua để dùng thì ít, đem về Bắc, về ngoài thì nhiều để làm quà cho gia đình, bà con.

   Sẵn có tiền chùa, thứ gì họ cũng mua. Nhất là các chú Bộ đội mua nhiều hơn hết, nhét đầy vào ba lô, đến nỗi bị rơi xuống đường mà không hay biết. Khi được người đi sau hô lớn : “ Chú Bộ đội ơi, cái gì rơi xuống đường kìa ?”. Chú Bộ đội liền quay lui, nói : “ Nặng quá, cháu không thể cúi xuống được, nhờ bác nhặt hộ hai cái phễu đong dầu (cặp xú chiên đàn bà) dùm cho cháu”.

   Tập đoàn CHXHĐ nắm hết tất cả nguồn lực lương thực, đó là tội ác số 2. Lúc đó không chợ, không quán xá, chỉ có “Căn tin” tức là trạm bán thực phẩm. Căn tin chỉ riêng ở miền Nam. Từ các thành phố, quận, huyện, xã đều có Căn tin nhưng, rất giới hạn. Một thành phố như Nha Trang,… chỉ có một chỗ. Người của họ làm chủ Căn tin. Căn tin bán những nhu yếu phẩm như : gạo, nếp, nước mấm, xì dầu, các loại thịt, cá,…Trong số các thực phẩm này, có thực phẩm cao cấp, đó là thịt bò, heo, gà, gạo. Dân ngoài không có quyền mua, vì đâu có tiền mà mua ! Chỉ có người trong chính quyền từ thượng tầng, đến hạ tầng mới được mua, đó là tội ác số 3. Những thực phẩm cao cấp xuất phát từ trong dân, nhưng phải vào Hợp Tác Xã. Cho nên làm thịt heo, bò, sản xuất ra gạo, phải báo cáo cho chủ tịch HTX biết. Sau đó phải đem bán cho Căn tin gần nhất theo giá Bộ kinh tế đã ấn định giá cả một cách rẻ mạt, nhưng mãi đến cả tháng sau mới trả tiền cho dân bán hàng, đó là tội ác số 4. Đổi tiền lần thứ hai vào khoảng 1978, là tội ác số 5, là một cách ăn cướp gián tiếp tài sản của dân lần nữa. 

    Bắt giam người vào nhà tù và tịch thu các cơ sở thương mại, gọi là đánh tư sản mại bản, đó là tội ác số 6.Tịch thu nhà dân di tản trước 30-4-1975 để cho cán bộ ở. Qua một, hai năm bán lại cho cán bộ khác, đi mua đất cất nhà mới hay mua nhà lớn hơn, đó là tội ác số 7.Thấy người dân ai đó có 2 hay 3 nhà, liền bắt ép hiến nhà để cho người của họ (cán bộ, giáo chức, sĩ quan) ở. Qua vài năm bán đấu giá cho người khác, đó là tội ác số 8. Những ngành như : du lịch, nhà hàng, khách sạn, xuất cảng, nhập cảng, chợ, tàu buôn,… đều là của họ, được có tên Quốc doanh.Tức là mượn ngân quỹ nhà nước để tạo mãi. Đến khi được nhiều tiền, rồi chia nhau hết, sau đó tuyên bố bị lỗ lã, đóng cửa, đó là tội ác số 9. Muốn có đất để bán cho người nước ngoài và cất thêm khách sạn lớn 4 sao, 5 sao, nhà hàng to, họ mượn sắc phục Công an đi chiếm đất tư nhân, đuổi nhà dân một cách tàn bạo như đánh đập đến thương tích, đó là tội ác số 10. Dân khiếu kiện lên tòa án tối cao, quan tòa không xử (vì quan tòa là người của họ), dân bị đói khát, ngả gục bên đường qua đêm, qua ngày, bị công an đến hành hung, đó là tội ác số 11. Hết bán đất của dân cho Nhật, Tây, quay sang cho bọn Tàu Ô thuê đất trong rừng, núi với thời gian 50 năm, gọi là thuê để trồng cây. Biết đâu bọn Tàu chứa bom Nguyên tử trong đó hay vũ khí chất độc, đó là tội ác số 12. Chẳng những cho Tàu thuê đất, mà còn cho Tàu khai thát hầm mỏ, như Bauxite ở cao nguyên Buôn Mê Thuộc, đó là tội ác số 13. Làm lơ để cho bọn Tàu chiếm đất, xây dựng làng xã, khu phố ở ngoại ô thành phố VN, được thấy ở Bình dương, đó là tội ác số 14. Công an VN làm lơ để cho bọn Tàu hành hung, đánh đập dân ta cho đến chết ngay tại chỗ, được thấy ở Hải phòng, đó là tội ác số 15. Cán bộ trong Bộ Kinh tế VN, làm ngơ để cho bọn Tàu mang thực phẩm có chất độc, trái cây có hóa chất vào bán cho dân ta, đó là tội ác số 16. Công an cửa khẩu biên giới Việt Trung làm ngơ, để cho hằng ngàn Tàu ô vào VN một cách tự do, không hộ chiếu, đó là tội ác số 17.Trước các hình ảnh bọn Tàu đánh phá ngư dân VN ngoài biển đông, làm bị thương tật, chết xuống biển, hư nát ghe, tàu…mà những các cấp lãnh đạo nhà nước VN im lặng, không dám lên tiếng bên vực, không dám chỉ rõ tàu Trung Quốc, cứ nói là “tàu lạ”, đó là tội ác số 18. Người dân Việt yêu nước đứng lên chống bọn Tàu xâm lược nước ta một cách ngang tàng trên quê hương, thì lại bị công an hành hung, bắt vào tù, đó là tội ác số 19. Trường hợp này giống như Tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) chống Pháp, chống CSVN lại bị ông Ngô Đình Diệm bắt vào máy chém. Qua đây cho ta thấy rằng; không có dân tộc nào trên thế giới yêu nước, đứng lên chống ngoại xâm, lại bị chính quyền của mình bắt giam, đánh đập, nhốt vào nhà tù như hai chính quyền VN ta ngày xưa Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, ngày nay Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng,…Ngày xưa Bảo Đại, Ngô Đình Diệm bắt người dân yêu nươc chống Pháp nhốt vào các nhà tù. Thậm chí kêu án tử hình. Ngày nay người dân yêu nước đứng lên chống Tàu, bị Sang, Trọng, Dũng bắt vào tù, do vì “ Ăn cứt thằng Tây, Vatican, thằng Tàu ngàn năm”.

    Tập đoàn CHXH ĐEN CNVN, bắt nguồn từ thời Lê Duẫn. Ông ấy lợi dụng trong lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đau yếu, tự chế tác ra nhiều chính sách ác độc, rồi nói do CT Hồ Chí Minh đưa ra. Sau đó các ông Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh, Lê Đức Anh,… ai cũng rập khuôn theo chính sách ác của Lê Duẫn đối với dân được thấy qua từ số 1 đến só 8  như trên.  Rồi đến các ông: NguyễnTấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, v.v…là tập đoàn tham nhũng, hối lộ khét tiếng nhất, mỗi ông có cả triệu, cả tỷ Đô la Mỹ (tư bản đỏ), được thấy từ số 9 đến số 20, do cậy chức quyền bán và cho Tàu thuê đất, khai thác Bô xít…lấy tiền bỏ túi riêng. Bên cạnh đó để cho con, cháu họ tự tung, tự tác tạo nhiều cơ sở thương mại lớn nhất, như các công ty xe hàng, xe khách, du lịch,Taxi, nhà hàng, khách sạn, v.v…trong đất liền (cao nguyên, bình nguyên) và Côn Đảo, Phú Quốc… Tất cả tài sản lớn đó, là của giòng họ, bà con tập đoàn CHXH ĐEN CNVN. Dân trong nước không ai có những cơ sở két xù đó. Toàn dân trong nước đã và đang thấy rõ “HAI MƯƠI TỘI ĐỒ” ấy của tập đoàn CHXH ĐEN CNVN hiện nay. Tội đồ của họ cả ngàn việc ác nhỏ, lớn. Chỉ nói ra 20 tội ác lớn để cho dân ta biết. Tập đoàn CHXH ĐEN CNVN, khôn hồn. hãy quay về khối dân tộc, cùng 80 triệu dân đánh đuổi bọn xâm lược Trung Quốc mau ra khỏi nước.  Nói như lời người xưa : “ Đánh kẻ chạy đi. Không đánh người chạy lại”. Bằng không, chẳng chóng thì chầy, sớm hay muộn thế nào cũng sẽ bị bánh xe lớn dân tộc nghiền nát như tro bụi

 

NGƯỜI DÂN BỎ NƯỚC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG TỰ DO.

  

Số lượng người dân miền Nam nói chung vào khoảng 35 triệu, nói riêng thuộc chính thể VNCH là 30 triệu trước 30-4-1975. Sau 30-4-1975, số 30 triệu dân này, một nửa thì dở chết, dở sống, như điên. Số còn lại, thì bị vô vàn khổ đau từ nhiều hướng ập đến, chồng chất lên bản thân, tâm hồn, làm cho bản thân vật vờ, khờ khạo. Cả hai hạng người trong 30 triệu đó, không ai thấy được tia sáng nào ở cuối đường hầm, suốt 3 năm liền (75, 76, 77), vẫn tối tăm ! Riêng 5 triệu người thắng cuộc, họ hạnh phúc, sung sướng vật chất, an vui tâm hồn. Đời người đâu có thể chịu nhục như thế này mãi ! Sông có khúc, người có lúc. Phải tìm mọi cách đổi đời.Thế là hằng triệu người thua cuộc không ai bảo ai, ai cũng khởi lên ý niệm bỏ nước ra đi, tìm đường vượt biên đến thế giới tự do. Vẫn biết ra đi, 9 phần chết, 1 phần sống, bị công an đánh đập, bắt vào nhà giam, nhưng vẫn cứ đi. Qua tư tưởng bỏ xứ ra đi, mọi ngườ xem trong nhà còn gì bán được, đều đem ra bán để có tiền lên thuyền, lỡ bị bắt mà nộp tiền mãi lộ cho công an, không thì chịu ngồi tù. Có những bà mẹ vì sự nghiệp sống còn của con cái ở tương lai, hơn là ông chồng đang còn trong trại tù, khi nhìn lại trong nhà không còn gì để bán, ngoài bản thể trên 40 tuổi như “chình mắm nêm miền Nam của bà giáo Thảo”. Nhưng với kẻ thắng cuộc là hoa xuân giữa mùa của họ. Sau ý nghĩ còn xuân ấy cho người thắng cuộc, mẹ đánh liều ra đi lúc rạng đông, về nhà khi hoàng hôn thay áo tím. Hơn một lần hiến thân cho kẻ thắng cuộc, mới có đủ số tiền gởi con lên thuyền ra khơi. Có những gia đình đủ tiền cho cả gia đình cùng lên thuyền. Có những gia đình không đủ, gởi con đi, mẹ ở lại để chờ cha ở tù về. Sắp sửa ra đi, người con ôm mẹ vừa khóc, vừa nói : “ Một là con nuôi cá. Hai má nuôi con. Ba con nuôi cả nhà”. Ba tư tưởng trên của người con trước khi ra đi nói với người mẹ, đều đúng cả ba. Đúng thật, hằng trăm ngàn người con của

MẸ VN đã nuôi cá bằng máu thịt mình, còn hài cốt đang nằm sâu dưới đáy đại dương cả ngàn năm. Hằng chục người bị chết trong rừng Cam Bốt do lạc đường bị đói, bị cọp ăn, bị Pôn Pốt chặt đầu(cáp duồng). Hằng trăm người trên thuyền, trong đó phụ nữ bị hải tặc cướp của, hãm hiếp, thiếu nữ bị bắt đi vào hải đảo, các ông bị đánh trọng thương, có ông bị ném xuống biển sau khi chết. Hằng ngàn người bị công an CHXH ĐEN ĐEN bắt đánh đập, nhốt vào nhà tù. Nếu đem tiền chuộc thì được thả về liền, bằng không, tiếp tục ở tù cả năm.

   Tuy nhiên cũng đã có hằng triệu người con MẸ VN đã được đến bờ tự do, đang sống thật sung sướng, giàu sang phú quý, con cháu học hành đỗ đạt khoa bảng tại các nước tự do, dân chủ hải ngoại. Nhưng, không bao giờ quên những kỷ niệm của một thời quá khứ vui, buồn, khổ đau giữa cuộc chiến VN. Nhất là những kỷ niệm rất buồn, quá thương đau ở tự thân, cha, mẹ, anh, chị, em, bà con quyến thuộc, tộc họ hai bên giữa cuộc chiến và sau 30-4-1975. Những kỷ niệm ấy chợt đến, chợt đi ra khỏi lòng khi bản thân ngồi yên hay đang làm việc trong các sở, lái xe, học hành, v.v…Tới giờ này 2014, mà vô số kỷ niệm buồn đau, khổ nạn ấy, thỉnh thoảng cứ hiện ra trong tâm hồn dân ta còn trong nước và hải ngoại. 

        Vất Bỏ Quá Khứ. Với người hiểu được đạo lý vô thường, vô ngã, sanh, trụ, dị, diệt, tiền tài như phấn thổ, nay còn, mai mất, chết không mang theo, tư duy mình thua, kẻ thắng sanh phiền não, trở về thực tại an tâm sống cuộc đời bình dị nơi xứ tạm dung hải ngoại, không thèm nhớ đến quá khứ làm chi nữa, vì nó đã qua giống như cuộc tình đã ra khỏi bàn tay, bay xa tự bao giờ, muốn nó trở lại cũng không được, cũng giống như đã lỡ tay làm đổ ly nước xuống đất, làm sao hốt lại được !

       -

      Còn Hối Tiếc Và Hận Thù Quá Khứ.

 Với người không hiểu được những đạo lý trên, mặc dù bản thân đang được sống tại các nước Thiên Đàng hải ngoại, luôn được hạnh phúc, sung sướng ở nhà cao, cửa rộng, nóng lạnh điều hòa, lên xe, xuống ngựa, đi mây về gió, hưởng nhiều món ngon, vật lạ, lạc thú trên đời, vật chất đầy kho (gara), tủ lạnh, Chúa, Phật đầy nhà, v.v… Nhưng, tâm họ luôn nghĩ ngợi về quan quyền, chức tước của một thời oanh liệt ngày xưa, mình thua, kẻ thắng…Nếu không nói rằng; tâm tư duy thầm lặng về quá khứ đó, là những chất liệu tự kiến tạo những địa ngục khổ cho mình và cho người ngay thực tại.

   Đúng thật không sai. Những hiện tượng địa ngục ấy được thấy qua một số người Việt Nam ta  ở các tuổi 55, 65, 70, 80 tại các thành phố lớn ở Mỹ, Úc, Canada,…Nhiều nhất ở Mỹ. Họ viết nhiều bài chửi bới tập đoàn CHXH ĐEN CNVN đương thời bằng văn ngôn rất ác, thối nhất, tục tĩu nhất, hung hãn, âm điệu cuồng lên ngọng nghịu, cà lăm, như muốn đập vào mặt, đánh vào thân, xé thịt, ăn gan, uống máu tập đoàn CHXH ĐEN CNVN, cho bỏ ghét, hả dạ ! Khi có diễn đàn, họ lôi cổ ra hết, từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,… xuống đến Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, v.v…Rồi dán lên mặt những CSVN tiền bối và hiện tại đó bằng những lời ác nhất, hôi thúi nhất nói trên. Tại các đài truyền hình, phát thanh hay biểu tình trước Tòa Đại Sứ, Tổng Lãnh Sự CSVN, Tòa Bạch Ốc Hoa Kỳ…khi có phái đoàn CHXHĐ đến thăm. Cũng không ngoài những âm điệu dơ nhớp, thúi ình…được phát ra từ những miệng con người và có thêm những hành động đưa cánh tay lên, đả đảo nhiều lần. Chửi bới nhiều lời ác, hôi thúi, tục tĩu…đối với những cán bộ Việt Minh CS đàn em, cháu của các lãnh tụ Cách Mạng Việt Minh tiền bối thì được, bởi vì bị thiếu đạo đức Cách Mạng do tâm quá tham lam, si mê…Chứ chửi quý cụ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v… không đúng lắm ! Bởi vì họ yêu nước chống Pháp, giành độc lập, sao lại chửi họ ? Những người Việt hôm nay chửi họ như vậy, vô tình tự tố cáo mình là Việt gian theo giặc Pháp ngày xưa, có phải không ? Bởi vì do mình hay do dòng họ mình gần, xa ngày xưa như Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, v.v…theo các bạo lực thực dân Pháp, Vatican, nên chi mới có Việt Minh, rồi CSVN đứng lên chống Pháp, chống luôn Việt Gian. 

   Với những người không theo Pháp, không Việt Gian chửi tập đoàn CHXHĐ CNVN hiện nay, là đúng không sai tý nào, vì họ (cộng sản đàn em, cháu của tiền bối) đang lòn cúi, làm tay sai (Việt Gian Đỏ) cho Trung Cộng, phản bội lại những tiền bối yêu nước, Tổ tiên chống ngoại xâm trước 1975. Bên cạnh lời chửi, hành động biểu tình đả đảo…Người chống CS còn sáng tác nhiều bài hát đủ loại âm, điệu và Vè, để kích động tinh thần người Việt tỵ nạn CSVN hải ngoại, hãy cùng đứng lên đoàn kết chống tập đoàn CHXH ĐEN CNVN cho mau đổ, để về VN mà tái lập lại chính thể VNCH có lá cờ Vàng 3 sọc đỏ, quốc ca “này công dân ơi… (này thanh niên ơi… Lưu Hữu Phước thời Việt Minh) đứng lên đáp lời sông núi,…là phương tiện tạm thời, sau này đổi lại mấy hồi, chứ không thể duy trì những hình ảnh chính trị cũ đó được, bởi vì hành động chính trị quá khứ không tốt, kể cả dẹp luôn những hình ảnh chính trị CHXH ĐCHVN hôm nay.  

   Những lời chửi, hành động biểu tình, đả đảo, bài ca vừa nguyền rủa, kêu gọi mọi người đứng lên,…mà những người miền Nam thua cuộc, đang ở hải ngoại hết lòng chống tư bản đỏ, CHXHĐ  là đúng, không chê vào đâu nhưng, tại sao họ (những người chống CS), lại đem những lời ác, hôi thúi, tục tĩu, và hành động thô bỉ, lỗ mãng…đó đối với Chư Tôn Đức Giáo Phẩm Phật Giáo Việt Nam chúng tôi ở hải ngoại, Hoa Kỳ ?. Điều này được thấy trên các sách, báo của những người chống Cộng như các ông Lữ Giang (Tú Gàn) Liên Thành, (cựu Thiếu Tá, trưởng ty Cảnh Sát, kiêm tình báo VNCH). Chẳng những trên báo chí, mà có cả biểu tình trước cổng các Chùa, qua những ngôn ngữ tục tĩu, la hét đả đảo và hành động lỗ mãng thiếu văn hóa ?

   Đồng bào VN các giới hải ngoại nghĩ gì về những người Việt chống CS, lại chống luôn chư Tăng PGVN Hải ngoại ? Trong số đó, ông Liên Thành là người nói năng lỗ mãng nhất. Hành động lỗ mãng và ngôn ngữ thiếu văn hóa của ông Liên Thành đối với chư Tăng PGVN như vậy, có phải ông ấy muốn CSVN tiếp tục thắng, ngồi yên, phải không ? Nếu không nói rằng; ông Liên Thành đã đi ngược lại tinh thần đoàn kết, mà các tập thể chính trị người Việt hải ngoại, đã và đang kêu gọi mọi giới người Việt hãy đoàn kết trong công cuộc giải trừ quốc nạn CHXH ĐEN cho mau đổ, là thế cờ tống cổ bọn bành trướng Bắc kinh ra khỏi VN.

    KẾT LUẬN VÀ TRẢ LỜI. Đất nước và dân tộc VIỆT NAM được độc lập thống nhất một cách thực thể như dưới thời đại Lý, Trần, là khi nào trên quê hương, không còn những con người Việt Gian ĐỎ phương Bắc, Việt gian.
CHƯ TĂNG PGVN LÀ CỘNG SẢN?

Cụm từ “CHƯ TĂNG PGVN LÀ CỘNG SẢN” chính là câu thần chú, cái bùa hộ mạng của các ông Cần Lao Thiên Chúa Giáo VN cực đoan, luôn hiện hữu trong tâm họ và thường hiện ra thành lời ở miệng một cách thường nhật, để chạy hai tội lớn. Một, tội theo thực dân Pháp, chống lại dân tộc, chống lại lực lượng Cách Mạng Mùa Thu của toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập vào năm 1945-1954. Hai, tội không lo quốc phòng, chỉ lo xây dựng nước Chúa VNCH, ôm hết chức quyền với nhau, rồi ra tay chống lại cuộc Cách Mạng của Phật Giáo VN mong muốn nhân dân miền Nam, phải được có một chính thể VNCH do dân cử, giữa thời điểm mà Chư Tăng PGVN và toàn dân đã nhận ra chính thể CSVN sẽ không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Tâm tư Chư Tăng PGVN và toàn dân Nam VN mong muốn đó, đã được ông Mark Moyar, tình báo Mỹ thấy được, rồi nói lên: “…có một điều hình như ít ai đem ra tranh luận là việc triệt tiêu Trí Quang và phong trào Phật Giáo năm 1966 đã giảm thiểu hơn nửa những viễn ảnh vốn đã mong manh về một chế độ không cộng sản được lòng dân xuất hiện ở miền Nam.” (trang 23 – tài liệu 31 trang).

Tư tưởng Chư Tăng PGVN nói chung, HT Trí Quang nói riêng, đã thấy được chế độ CSVN không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Nên chi phải có cuộc Cách Mạng toàn dân trong việc thành lập chế độ VNCH thật sự dân chủ, do dân cử, được thấy qua cuộc BINH BIẾN 1966, không thể gọi Biến Động Miền Trung. Vậy mà các ông Cần Lao Thiên Chúa Giáo VN không thấy, hay được thấy, nhưng vì sợ bị mất nhiều lợi lộc, quyền chức, cho nên quyết tâm đánh phá phong trào của Phật Giáo để chế độ VNCH Thiên Chúa được tồn tại. Để chạy tội, các ông Cần Lao Thiên Chúa cứ to mồm, lớn tiếng chụp mũ PGVN theo cộng sản…

NGUYÊN NHÂN NÀO QLVNCH BỊ THUA CỘNG SẢN VN ?

    Chính thể Đệ I VNCH Thiên Chúa Giáo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tại sao bị lật đổ, do ai? Do dân Việt trong Tam Giáo (Nho, Lão, Phật). Lý do? Anh em ông Diệm và tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa Giáo VN không vì quyền lợi cho dân, chỉ vì quyền lợi vật chất cho họ, vì sự phát triển đạo Thiên Chúa của họ. Cho nên họ bị quân nhân Tam Giáo trong QLCNCH làm đảo chánh lật đổ vào ngày 1/11/1963, là một quy luật không thể tránh khỏi (bất khả tỵ).

- Chính thể Đệ II VNCH Thiên Chúa Giáo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tại sao bị tan hàng vào 30/04/1975, do ai? Do dân Việt trong Tam Giáo VN. Lý do? Tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa Giáo miền Nam không vì quyền lợi cho dân, chỉ vì quyền lợi vật chất, chức quyền cá nhân, gia đình, và phát triển đạo Chúa của họ, cho nên bị bánh xe Tam Giáo Đồng Nguyên nghiền nát. Ông Nhâm và Liên Thành có thấy điều đó hay không? Hay cứ đổ hô do Phật Giáo theo Cộng Sản. Qua 3 bạo lực thực dân Thiên Chúa La Mã VN trên nước Việt trong quá khứ bị thua trận, bị lật đổ, bị tan hàng, là do dân. Các ông Thiên Chúa Giáo VN cực đoan và ông Đặng Văn Nhâm, Liên Thành nên thấy lại khối dân tộc VN trong Tam Giáo (Nho, Lão, Phật). Sau khi các ông thấy lại, các ông phải nói như thế này: Chính thể Đệ I VNCH của Tổng Thống Diệm bị lật đổ, là do dân Tam Giáo đúng hơn. Chứ đừng nói rằng do Chư Tăng Phật tử VN. Cũng như Đệ II VNCH của Tổng Thống Thiệu bị tan hàng vào 30/04/1975, là do dân Tam Giáo đúng hơn. Chứ đừng nói do cộng sản VN. Lại càng không phải do Mỹ, không phải Chư Tăng, Ni, Phật tử miền Nam. Quân đội của Đệ I-Đệ II VNCH là ai? Quân đội của chính phủ Hà Nội và MTGPMN, là ai? Cả hai người lính của miền Bắc, miền Nam là đồng bào VN trong Tam Giáo (Nho, Lão, Phật) chiến tranh nhau để xây dựng một nước Việt Nam theo mô hình của mình, ai kém chiến thuật, chiến lược ắt sẽ bị lọt đài. Không có người Thiên Chúa trong cuộc chiến Nam Bắc vừa rồi ! Chứng thực,  chính phủ VNDCCH miền Bắc không cho thanh niên Thiên Chúa giáo miền Bắc vào Bộ đội, Công an, chi cho làm các việc dân sự tại địa phương. Quân lực VNCH dưới hai đời Tổng Thống Diệm, Thiệu, toàn là người Tam Giáo có đến 80%, còn lại là dân Thiên Chúa Giáo theo giặc Pháp xưa và ngồi ở hậu phương cả hai đời VNCH.

               Quân Số QLVNCH Trong Các Đơn Vị Tác Chiến.                     

Trong một đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn của các binh chủng Nhảy Dù, TQLC, BĐQ, Bộ Binh, Thiết Giáp, Địa Phương quân, Lôi Hổ (nhảy toán ra Bắc) không có người Thiên Chúa. Hoàn toàn là dân của Nho, Lão, Phật. Địa Phương quân, Lôi Hổ (nhảy toán ra Bắc) không có người Thiên Chúa. Hoàn toàn là dân của Nho, Lão, Phật. Người thanh niên Thiên Chúa đúng tuổi đi lính, họ đi đâu, không nhập ngũ? Đa số vào Tiểu Chủng Viện (cả trăm TCV trên toàn miền Nam). Có vào lính, cũng là lính kiểng hay được ở hậu cứ. Vào sĩ quan, thì ở cấp chỉ huy từ Trung và sư đoàn Bộ binh, không có trong ba binhh mũ đỏ, xanh, nâu… Đến cấp cao thì ở Bộ Tổng Tham Mưu, Cục nọ, Cục kia,… Điều này được thấy rõ khi vào trại cải tạo. Các ông Đại Tá gốc Tam Giáo đều là chỉ huy các đơn vị tác chiến BĐQ, TQLC, Thiết Giáp, Bộ Binh,… Còn các ông Đại Tá Thiên Chúa Giáo thì ở Bộ Tổng Tham Mưu và các Cục, Nha, Trung Tâm Huấn Luyện, v.v… Vào trại cải tạo là biết hết đơn vị cuối cùng của các ông Đại Tá theo Tam giáo, Thiên Chúa Giáo. Quân Lực Bắc Việt và MTGPMN, hoàn toàn là người dân Nho, Lão, Phật, không có dân Thiên Chúa Giáo VN. Dân Thiên Chúa Giáo ở Bắc trước 1975, cho làm các việc hậu cứ tại chỗ thuộc về dân sự như các đơn vị thủy lợi.

        TƯỢNG ĐÀI CÁC VĨ NHÂN.

 Thời gian gần đây, cỡ tháng 8-2011, nhiều tín hữu Thiên Chúa Giáo VN ở hải ngoại nói chung, Hoa kỳ Oakland, Stockton nói riêng, họ ngửa mặt lên trời kêu trời, cúi mặt xuống đất kêu đất, cùng với lời gào thét rằng: Thích Nhất Hạnh theo CSVN, đã vận động Hoa Kỳ rút quân, làm cho VNCH bị thua CSVN, sao lại được đứng chung với các vĩ nhân, khi nhìn thấy hình tượng HT Thiền Sư Thích Nhất Hạnh bằng đồng, một trong 25 vị Vĩ nhân của thế giới, được cơ quan nhân quyền LHQ tạc thành, dựng ở giữa thành phố Oakland Stockton Bắc Cali, để biểu thị cho những người có tâm thánh thiện, sống đời đạo hạnh, thường có lời kêu gọi thế giới hòa bình, giữ gìn tốt cho quả đất, bênh vực nhân quyền cho người dân tại các nước bị các chính quyền độc tài đàn áp.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn