Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

06. Phẩm "Pháp Tánh"

21/01/202108:06(Xem: 820)
06. Phẩm "Pháp Tánh"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

buddha-536


 

VI. PHẨM PHÁP TÁNH (1).

Trọn quyển 569, Hội thứ VI, ĐBN.

(Tương đương với phẩm 5: Pháp Tánh, Kinh TTVBN)

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Gợi ý:

Phẩm trên chúng ta vừa thảo luận về "Pháp Giới" (từ cuối quyển 567 đến quyển 568). Phẩm này lại nói về "Pháp Tánh". Các Hội trước đã nhiều lần thuyết về “thập nhị Chân Như”, không tách riêng chân như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, v.v... thành các phẩm riêng như Hội thứ VI này. Bởi vì thập nhị chân như, tất cả đều một như, không hai không khác. Nhưng tại sao trong Hội thứ VI lại tách pháp giới và pháp tánh ra làm hai và thuyết trong hai phẩm khác nhau? Kinh trả lời như sau:

 

Tóm lược:

 

Quyển thứ 569

 

"Bấy giờ, Tối Thắng rời tòa đứng dậy, lệch áo (2) che vai trái, gối phải chấm đất, chắp tay cung kính bạch:

- Bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu! Đức Thế Tôn đã khéo thuyết đại oai thần và công đức vi diệu của chư Phật. Chư Phật Như Lai nhờ đâu mà đắc đại oai thần công đức vi diệu này. Nguyện Thế Tôn phân biệt giải nói.

Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết, hành động của Như Lai và kết quả đạt được thậm thâm vi diệu, không thể nghĩ bàn.

Tối Thắng bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Phật hành pháp gì mà thậm thâm vi diệu, không thể nghĩ bàn?

Phật dạy:

- Nhân quả pháp tánh Như Lai thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn, oai thần công đức và pháp đã nói ra làm lợi lạc cho người cũng như vậy.

Tối Thắng bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tại sao lại gọi pháp tánh thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn?

Phật dạy:

- Này Thiên vương! Pháp tánh của Như Lai ở trong uẩn, xứ, giới của hữu tình từ vô thủy đến nay nối tiếp nhau chẳng nhiễm phiền não, bản tánh thanh tịnh. Tất cả tâm, ý, thức không thể do duyên khởi. Tất cả tìm cầu khác không thể phân biệt, tư duy về tà niệm không thể duyên với suy nghĩ, xa lìa tà niệm, vô minh không sanh. Vì thế, chẳng sinh từ mười hai Duyên, gọi là vô tướng tức pháp chẳng phải tạo tác, không sanh, không diệt, vô tận, vô biên, tự tại thường trụ.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, biết được pháp tánh thanh tịnh như vậy nên không nhiễm trước, không dính mắc, xa lìa cấu uế, từ các phiền não vượt lên giải thoát. Tánh này là pháp căn bản của chư Phật, nhân đây mà sanh phước đức, trí tuệ, bản tánh minh tịnh không thể nghĩ bàn.

 

Này Thiên vương! Ta sẽ nói thí dụ, ngươi nên lắng nghe, và suy nghĩ ghi nhớ.

Thiên Vương bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Cúi xin Ngài nói cho.    

Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết! Ví như bảo châu như ý vô giá, là vật trang sức sáng rỡ, trong sạch, khả ái, rất tròn và trong suốt không có vẩn đục, dù có chôn vùi trong đất bùn qua thời gian dài, ai nhặt được đều vui mừng giữ cất cẩn thận không cho rơi mất. Cũng vậy, pháp tánh tuy ở trong phiền não nhưng không bị nhiễm, sau lại hiển hiện.

Này Thiên vương! Chư Phật đều biết tự tánh hữu tình rất thanh tịnh, nhưng bị khách trần phiền não che lấp nên chẳng thể vào được tự tánh. Do đó, Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật nên suy nghĩ thế này: “Ta phải tinh siêng vì các hữu tình nói Bát Nhã sâu thẳm, trừ phiền não cho họ khiến được ngộ vào. Vì tất cả hữu tình bản tánh đều thanh tịnh, phải khởi tôn trọng chẳng nên khinh bỏ, nên xem như Đại sư mà cúng dường”. Các Bồ tát này do khởi nghĩ này bèn năng sanh khởi Bát Nhã Đại bi.

Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như vậy liền chứng nhập địa vị Bất thối chuyển. Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật nghĩ như thế này: Các phiền não đây không lực không năng, tự thể hư dối, trái với pháp thanh tịnh. Vì sao? Vì nghịch Nhất thiết trí, thuận đường sanh tử. Pháp tánh thanh tịnh là gốc các pháp, tự tánh vốn không hư dối, phiền não đều từ tà niệm điên đảo mà sanh.

Thiên vương nên biết! Ví như bốn đại nương vào hư không để kiến lập, mà hư không không có chỗ nương nên phiền não cũng vậy. Bốn đại nương nơi vào pháp tánh, pháp tánh không có chỗ nương. Các Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba-la-mật quán biết rõ như thật, nên chẳng khởi trái nghịch, vì tùy thuận nên phiền não không sanh.(3)

Các Bồ tát này quán sát phiền não, chẳng sanh nhiễm trước là khởi nghĩ này: Nếu tự nhiễm trước, làm sao nói pháp khiến người ra khỏi. Vậy nên Bồ tát đoạn diệt tâm nhiễm trước, như thật thuyết giáo tháo gỡ trói buộc cho hữu tình.

Các Bồ tát suy nghĩ: Nếu trong sanh tử có một phiền não vì lợi ích chúng sinh ta liền thọ nhận.

Các Bồ tát lại nghĩ: Xưa kia, chư Phật hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật diệt các phiền não, ngày nay ta cũng như vậy. Vì sao? Vì chư Phật Như Lai xưa ở nhân địa(4) cũng học như thế thành Bồ đề vậy.

Các Bồ tát đây do hai duyên này phương tiện khéo léo quán biết pháp tánh. Pháp tánh như thế vô lượng vô biên bị các phiền não che lấp, trôi theo sinh tử, chìm nổi sáu đường, suốt dòng sinh tử luân chuyển theo chúng sinh, nên gọi là tính chúng sinh.

 

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật khởi tâm nhàm chán, trừ năm cảnh dục, diệt các sự phân biệt để tu đạo Vô thượng. Lúc đó tánh này được gọi là xuất ly, vì vượt tất cả khổ nên gọi là vắng lặng, là pháp cứu cánh mà tất cả thế gian mong cầu. Nhất thiết chủng trí thường trụ nhiệm mầu, nương pháp tánh này mà được tự tại, thọ ngôi Pháp vương.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã, quán sát giai vị trước, giữa và sau pháp tánh đều bình đẳng, xưa nay vắng lặng, không bị các pháp làm chướng ngại, giống như hư không không bị sắc ngại. Các Bồ tát này hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, quán sát biết rõ đúng lời chư Phật dạy, nói ra tất cả diệu hạnh như pháp tu hành. Công đức pháp tánh không thể nói hết, không có hai tướng, vượt cảnh nhất dị, bình đẳng nhất tướng. Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế có khả năng trừ được hai tướng: Nhân tướng và pháp tướng. Tất cả phàm phu bị chấp trước trói buộc nên không hiểu, không thấy, không rõ pháp tánh. Các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật thì hay thông đạt pháp tánh như thế. Nếu ở chúng sanh cũng không hai, không khác. Vì sao? Vì trong tướng như không có sai khác.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, nương vào pháp tánh này để tu tập căn lành, ra vào ba cõi, làm lợi ích cho hữu tình, tuy hiện vô thường mà chẳng chơn thật. Vì sao? Vì các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thật quán biết chơn pháp tánh. Nên đầy đủ phương tiện đại bi, nguyện lực không bỏ hữu tình. Nhị thừa phàm phu vì không có đại bi nguyện lực như vậy, nên không thấy pháp tánh viên mãn thanh tịnh, không thể như thật lợi ích chúng sanh.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật có thể quán sát pháp tánh chơn tịnh như thế, tất cả Thánh giả như thật ngộ nhập. Không có người tu và pháp để tu, không có người thực hành và pháp để hành, không tâm, không có pháp thuộc tâm, không nghiệp, không quả báo, không khổ, không vui. Quán sát như thế gọi là bình đẳng, không phân chia, xa lìa tùy thuận quảng đại, không ngã, ngã sở, không cao, không thấp, chơn thật vô tận, thường trụ trong sáng. Vì sao? Vì tất cả Thánh pháp do đây mà thành thục, nhờ tánh này nên các bậc Thánh hiển hiện vô biên công đức và pháp bất cộng của chư Phật Như Lai đều từ tánh này xuất sanh. Giới, định, tuệ của tất cả Thánh giả đều từ tánh này sanh ra. Bát Nhã Ba-la-mật của Bồ tát, Phật đều từ tánh này sanh ra. Tánh này vắng lặng vượt các danh tướng. Tánh này chơn thật, xa lìa điên đảo. Tánh này chẳng biến đổi nên gọi là như Thánh trí, gọi là Đệ nhất nghĩa; chẳng có, chẳng không, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải sanh tử, chẳng phải Niết bàn, chẳng nhiễm, chẳng tịnh, lìa nhất dị, không danh, không tướng.

Thiên vương nên biết! Các Bồ tát này lại khởi nghĩ: Pháp tánh lìa tướng. Các pháp lìa tướng không hai không khác. Vì sao? Vì các pháp lìa tướng tức pháp tánh lìa tướng. Pháp tánh lìa tướng tức hữu tình lìa tướng. Hữu tình lìa tướng tức pháp giới lìa tướng. Pháp giới lìa tướng tức các pháp lìa tướng. Lìa tướng như thế cầu chẳng thể được.

 

(Nói pháp tánh mà cũng đề cập tới chân như)

 

Pháp tánh như, hữu tình như không hai, không khác. Hữu tình như, pháp tánh như không hai, không khác. Pháp tánh như, các pháp như không hai, không khác. Các pháp như, chư Phật như không hai, không khác. Pháp tánh như, như đó ba đời không trái nghịch nhau. Quá khứ như, vị lai như không trái nghịch nhau. Vị lai như, hiện tại như không trái nghịch nhau. Hiện tại như, quá khứ như không trái nghịch nhau. Uẩn, xứ, giới ba đời như. Uẩn, xứ, giới như tức nhiễm tịnh như. Nhiễm tịnh như tức sanh tử Niết bàn như. Sanh tử Niết bàn như tức các pháp như.

Thiên vương nên biết! Nói Như như chính là Bất dị; không đổi, không sinh, không tranh, chân thực. Vì không tranh nên gọi là Như, thấy biết như thực các pháp không sinh. Các pháp tuy sinh, nhưng Như Như bất động. Như như tuy sanh các pháp mà như đó chẳng sanh. Đó gọi là Pháp thân thanh tịnh, bất biến như hư không, vô đẳng đẳng, không có một pháp nào trong tam giới có thể sánh bằng. Khắp thân chúng sinh, không có cái tương tợ; thanh tịnh lìa cấu, xưa nay không nhiễm; tự tính trong sáng, thanh tịnh; tự tính không sinh; tự tính không khởi. Ở tâm, ý, thức mà không phải tánh của tâm, ý, thức; tức là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Khắp cõi hư không, khắp chúng hữu tình đều bình đẳng, vô lượng, vô biên, không có sai biệt. Không phải sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không phải địa, thủy, hỏa, phong; không lìa địa, thủy, hỏa, phong. Không phải sanh, không lìa sanh. Tuy nghịch sanh tử nhưng chẳng thuận Niết bàn. Mắt không thể thấy, tai không thể nghe, mũi không thể ngửi, lưỡi không thể nếm, thân không thể xúc chạm, ý không thể biết. Không ở tâm, ý, thức, không lìa tâm, ý, thức.

Thiên vương nên biết! Đấy là pháp tánh. Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, vì thông suốt pháp tánh này nên tu hành thanh tịnh, thì Tam thiên đại thiên thế giới, như xóm làng, thành ấp ở châu Thiệm bộ, Bồ tát đều có thể thị hiện sắc thân. Các thân hiện ra chẳng phải sắc, chẳng phải tướng mà hiện sắc tướng. Tuy chẳng phải hoạt động cảnh giới của sáu căn mà giáo hóa hữu tình không dừng nghỉ, để nói rằng thân này vô thường, vô ngã, là khổ, bất tịnh. Biết các hữu tình có tánh vắng lặng, nên thị hiện vô lượng thân hình, dùng phương tiện thiện xảo làm cho họ nhận lãnh sự giáo hóa. Vì biết tất cả thân đều không tác giả, không thọ giả, như gỗ đá v.v... nên nói hạnh thanh tịnh cho các hữu tình.

 

Nếu hành siêu xuất như thế thì nhập pháp giới nên được tự tại.

        

Các Bồ tát hành sâu Bát Nhã thông suốt pháp tánh như thế, nên được tự tại, không có di động mà khởi trí tuệ, tự tại trong thần thông, thị hiện các loại, an trụ tự tại mà có thể thị hiện các oai nghi, tự tại hướng đến Nhất thiết tướng trí, tất cả các pháp, thảy đều thông đạt.          

Thiên vương nên biết! Hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật được tự tại như thế là tướng vô tận. Ở khắp các chỗ, không sắc hiện sắc. Tự tại quán sát khắp tâm hữu tình thấy tâm tánh như thật. Tự tại nhớ nghĩ vô biên, vô số kiếp nối nhau chẳng dứt. Biến hóa tự tại, trụ tướng giải thoát; tự tại lậu tận, nhưng vì chúng sinh, không chứng Lậu tận tự tại xuất thế. Cảnh Thánh trí này, tự tại sâu xa, Thanh Văn, Duyên Giác không thể đo lường; tự tại vững chắc, Ma không thể phá; có thể đến được đạo tràng, thành tựu Phật pháp tối thắng đệ nhất; tự tại tùy thuận chuyển Đại pháp luân; tự tại điều phục, giáo hóa tất cả chúng sinh, nhận lãnh ngôi vị đắc pháp tự tại.

 

(Nói pháp tánh cũng đề cập tới bình đẳng)

 

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, như thật thông suốt pháp tánh sâu xa nên được tự tại như thế, tu tự tại như thế nên được tất cả tịnh lự, giải thoát, đẳng trì, đẳng chí, không còn lệ thuộc vào ba cõi. Vì sao? Vì xa lìa tất cả phân biệt hư vọng, phiền não ràng buộc chấp tướng điên đảo. Nếu muốn thọ sanh thì không còn ràng buộc, thọ sanh tự tại. Nếu muốn thị hiện diệt độ thì tùy theo sanh xứ của mình để thị hiện diệt độ, giữ gìn Đại thừa và thành tựu Phật pháp. Ở trong mười phương tìm cầu Phật pháp chắc chắn không thể được. Biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, không thường, không đoạn. Vì sao? Vì tìm cầu pháp này không thể được. Dùng lý như thật tìm cầu không thể được. Pháp này không thể nói có, nói không, cũng không có danh tướng, vượt cảnh giới này. Nếu lìa danh tướng tức là bình đẳng. Nếu pháp bình đẳng thì không chấp trước. Vì không chấp trước nên là pháp chơn thật. Nếu chấp chơn thật tức là hư vọng. Vì chẳng chấp trước nên chẳng hư vọng. Vì tâm không bị chấp trước nên vô ngại. Vô ngại tức vô chướng. Vô chướng tức không tranh. Nếu không tranh tức đồng với hư không, chẳng lệ thuộc vào ba cõi. Nếu tất cả xứ không còn bị lệ thuộc thì pháp này vô sắc, vô tướng, vô hình. Nếu pháp vô sắc, vô tướng, vô hình, nên biết pháp ấy tùy theo cảnh giới kia nhưng lìa sự biết và đối tượng để biết. Vì sao? Vì trong ấy không có một chút pháp nào để giác ngộ, có thể giác ngộ. Đó là Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật thông suốt bình đẳng.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật quan sát pháp sanh đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả hoàn toàn không thấy ngã, không thấy hữu tình cho đến không thấy người biết và người thấy. Tuy hành bố thí nhưng không thấy có sự xả bỏ; tuy trì tịnh giới nhưng lìa giới tướng; tuy tu tập an nhẫn nhưng tâm vô tận; tuy tu tập tinh tấn nhưng lìa tướng ấy; tuy tu tập tịnh lự nhưng không có sự vắng lặng; tuy tu tập Bát Nhã nhưng không có đối tượng; tuy tu tập niệm trụ nhưng không chấp chặt; tuy tu tập chánh đoạn nhưng tâm bình đẳng; tuy tu tập thần túc nhưng lìa hý luận, tuy tu tập căn lực nhưng không phân biệt các căn của hữu tình và xa lìa lầm lỗi; tuy tu tập giác chi nhưng không phân biệt; tuy tu tập chi Thánh đạo nhưng tâm vô công dụng; tuy tu tập tịnh tín nhưng không chấp trước. Trí tuệ tự nhiên nhớ nghĩ các pháp với tâm trí bình đẳng, tu tập các diệu định mà tâm không phân biệt, quan sát diệu tuệ mà tâm không ngừng nghỉ. Tu tập quán chỉ tâm không có sự thấy, tu tập pháp quán tâm không có chỗ niệm. Tu tùy niệm Phật tâm thông suốt pháp giới bình đẳng, tu tùy niệm Pháp tâm không có chỗ trụ, tu tùy niệm Tăng nên thanh tịnh bản tâm. Giáo hóa hữu tình không có tâm phân biệt. Tâm pháp giới bao trùm tất cả pháp. Tâm như hư không, trang nghiêm cõi Phật. Tâm không có chỗ chứng đắc đạt Vô sanh nhẫn. Tâm không tiến lùi đạt Bất thối chuyển, xa lìa tâm tướng, không thấy có tướng. Ở trong tam giới dùng tâm bình đẳng, trang nghiêm tòa Bồ đề. Tâm không có chỗ giác ngộ biết rõ tất cả pháp. Tuy chuyển pháp luân nhưng không thấy người nghe, người nói. Tuy hiện Niết bàn nhưng biết bản tánh sanh tử bình đẳng.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, quán sát các pháp như vậy nhưng không thấy sự quán, không thấy có pháp để quán nên được thần thông tự tại. Vì sao? Vì tâm thanh tịnh nên thấy tất cả hữu tình thanh tịnh.

Thiên vương nên biết! Ví như hư không biến khắp tất cả, các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật cũng như vậy.  

Khi thuyết pháp này ở trong chúng hội có tám vạn bốn ngàn trời, người đều phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, ba vạn hai ngàn Bồ tát được Vô sanh pháp nhẫn, tám vạn bốn ngàn hữu tình xa lìa trần cấu, sanh pháp nhãn thanh tịnh, một vạn hai ngàn Bí sô diệt sạch các lậu tận.

Khi ấy, Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật tâm được thanh tịnh, thâm sâu như biển cả, phước đức trí tuệ không thể đo lường được. (Từ bình đẳng này mà sanh tâm thanh tịnh. Nên biết bình đẳng đó chính là thanh tịnh). Bồ tát có thể thị hiện xuất thế, các châu báu công đức chúng sinh lấy dùng, cho đến Bồ đề, không có cạn kiệt. Phước đức Bồ tát cũng không giảm bớt, giống như biển cả sanh nhiều châu báu. Trí tuệ Bồ tát sâu xa khó vào được, Thanh văn, Độc giác không thể vượt qua. Thí như biển lớn thú nhỏ chẳng vào được.

Trí tuệ của Bồ tát rộng lớn vô biên. Vì sao? Vì không chấp trước, không trụ, không sắc, không tướng. Trí tuệ của Bồ tát từ trước về sau càng thêm sâu rộng, trước là Bồ đề tâm, về sau là Nhất thiết trí. Pháp của Bồ tát là vậy, không cùng ở chung với phiền não và bạn ác. Trí tuệ thế gian nếu vào trong biển trí tuệ của Phật thì chỉ là một tướng, một vị, đó là vô tướng; đạt đến Nhất thiết trí là vị không phân biệt.

Trí tuệ Bồ tát quán sát tất cả pháp không thấy thêm bớt. Vì sao? Vì đã thông suốt pháp tánh bình đẳng sâu xa. Năng lực đại từ bi của Bồ tát chẳng trái với bản nguyện, là chỗ các bậc Thánh nương tựa để vì hữu tình thuyết pháp trong vô số kiếp không cùng tận.

Này Thiên vương! Bồ tát hành sâu Bát Nhã đạt được pháp tánh sâu xa như vậy.

Này Thiên vương! Bồ tát thông suốt hoàn toàn pháp thế tục. Tuy nói các sắc nhưng không thật có, tìm cầu sắc ấy chắc chắn không nắm bắt được; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tuy nói địa giới nhưng không thật có, tìm cầu địa giới không nắm bắt được; thủy, hỏa, phong, không, thức giới cũng như vậy. Tuy nói nhãn xứ nhưng không thật có, tìm cầu nhãn xứ không nắm bắt được; nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ cũng như vậy. Tuy nói sắc xứ nhưng không thật có, tìm cầu sắc xứ không nắm bắt được; thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ cũng như vậy.

Tuy nói ngã nhưng không thật có, tìm cầu ngã này không nắm bắt được; đối với hữu tình cho đến người biết, người thấy cũng như vậy. Tuy nói thế gian nhưng không thật có, tìm cầu thế gian không nắm bắt được. Tuy nói pháp thế gian nhưng không thật có, tìm cầu pháp thế gian không nắm bắt được. Tuy nói Phật pháp nhưng không thật có, tìm cầu Phật pháp không nắm bắt được. Tuy nói Bồ đề nhưng không thật có, tìm cầu Bồ đề không nắm bắt được.

 

Tất cả- uẩn xứ giới cùng tất cả pháp rốt ráo đều không- đều giả thi thiết.

 

Thiên vương nên biết! Phàm có ngôn thuyết, gọi là Thế đế, chẳng phải chân thực. Nếu không có Thế đế thì không thể thuyết Đệ nhất nghĩa đế. Bồ tát thông suốt thì tục đế chẳng trái với Đệ nhất nghĩa đế. Do thông suốt nên biết các pháp không sanh, không diệt, không thành, không hoại, không đây, không kia, xa lìa ngữ ngôn văn tự, bặt hý luận.

Thiên vương nên biết! Đệ nhất nghĩa thì vắng lặng, lìa ngôn ngữ, là cảnh giới của Thánh trí, là Pháp không biến hoại. Nếu Phật xuất thế hay không xuất thế thì tánh, tướng vẫn thường trụ. Đây gọi là Bồ tát thông suốt Đệ nhất nghĩa đế.                                               

 

(Tất cả pháp không sanh không diệt)

 

Khi ấy, Tối Thắng bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp không sanh, không diệt, tự tánh trống không, xa lìa thì vì sao có Phật xuất thế và chuyển Pháp luân? Vì sao Bồ tát đối với pháp Vô sinh lại thấy có sinh?

Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết! Vì các pháp không diệt nên không sanh. Vì sao? Vì tánh không biến đổi, chỉ do người thế tục thấy có sanh, có diệt, đó là sự thấy biết hư vọng, không chơn thật. Những Bồ tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, thì thấy pháp nhân duyên, biết rõ tục đế là Không, vô sở hữu, không bền chắc, không có mà tợ như có, như huyễn hóa, như ảo mộng, như âm vang, như bóng sáng, như ảo ảnh, như quáng nắng, như việc biến hóa, như thành Tầm hương, lay động chẳng yên, đều do nhân duyên sanh khởi.

Các Bồ tát này dùng Bát Nhã vi diệu quán sát các pháp Không, nói rộng cho đến từ nhân duyên sanh khởi. Các Bồ tát này tư duy: Các pháp này thấy có sanh, có trụ, có diệt. Do nhân duyên nào mà sanh? Do nhân duyên nào mà diệt? Tư duy như vậy rồi biết rõ như thật, do vô minh sanh các hành, do hành sanh thức, nói rộng cho đến do hữu nên có sanh, do sanh nên có lão, do lão nên có tử và ưu, sầu, khổ, não. Cho nên cần phải tu hành để diệt vô minh. Nếu diệt vô minh thì mười một chi còn lại lần lượt diệt theo, như thân đã diệt thì mạng sống đều diệt theo.

Thiên vương nên biết! Tà kiến ngoại đạo mong cầu giải thoát, chỉ muốn đoạn tử chẳng biết đoạn sanh. Nếu pháp không sanh thì không có diệt. Ví như có người ném hòn đất vào sư tử, sư tử đuổi người, tức việc ném đá tự dừng. Bồ tát cũng vậy chỉ đoạn sự sanh thì tử tự diệt. Ví như con chó chỉ đuổi theo đá mà chẳng biết đuổi người, nên việc ném đá mãi mãi không dừng. Ngoại đạo cũng thế, chẳng biết đoạn sanh thì không thể lìa tử. Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế thì biết rõ nhân duyên sanh diệt của các pháp. (Q.569, ĐBN)

 

(Tu tịnh hạnh)

 

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, biết pháp nhân duyên Không, không thực có, không khởi ngã mạn. Nếu sinh vào nhà Bà la môn, Sát lợi, cư sĩ, trưởng giả, thì không khởi hai mạn tôn quý, hào phú. Nếu sinh vào nơi bần tiện thì tự biết nghiệp đời trước không được thanh tịnh nên có quả báo thấp kém; khởi tâm ghét bỏ, tức cầu xuất gia; suy nghĩ thế này: Như thân ta đây, do nghiệp tạp loạn mà có; liền tu tịnh nghiệp, khiến tự thanh tịnh, khiến người khác cũng được như vậy. Tự mình cầu độ, cũng lại độ người; tự cầu thoát ly, cũng lại cởi trói cho người. Vì nhân duyên này tức sinh tinh tấn, không bị biếng nhác. Pháp ác chướng đạo đều được đoạn trừ, pháp lành trợ đạo đều nên tăng trưởng, siêng tu, tinh tấn, suy nghĩ thế này: Ta mang gánh nặng, nên tự mình diệt tất cả phiền não, độ thoát chúng sinh, không được biếng nhác. 

Đối với Sư trưởng thân cận dù cho họ hiểu nhiều hay ít, có trí hay không, trì giới hay phá giới thì Bồ tát đều tưởng như Phật, cung kính đồng học. Tư duy ta đang nương Thầy học tập, tu pháp lành chưa hoàn toàn, cần phải tu cho viên mãn, phiền não chưa diệt cần phải đoạn diệt, giữ gìn pháp lành, xa lìa pháp ác để thành Nhất thiết trí, làm ruộng phước đại bi, thương xót tất cả thế gian. Bậc Thiên nhơn sư là thầy của ta được lợi lành. Tất cả trời, người đều thờ Pháp vương làm Đại sư.

Các Bồ tát này khởi suy gẫm: “Phật nói tịnh giới, giả sử vì thân mạng cũng chẳng hủy phạm. Như Thế Tôn nói: “Thuận theo lời Phật dạy tức cúng dường Phật”. Bà la môn, Sát đế lợi, trưởng giả v.v… vì tín tâm thí cho các thứ ăn uống, thì ta như pháp thọ dụng, để người thí được hưởng phước báo. Như vậy, cả hai đều được lợi ích. Bà la môn, Sát đế lợi, trưởng giả v.v... lấy danh tự Sa môn mà kêu gọi Bồ tát nghĩ đến việc tạo ruộng phước. Bồ tát phải đúng như lý, như lượng, tu hành chánh pháp thì hiển hiện công đức Sa môn, công đức phước điền. Bồ tát như vậy là tự tu hành và giáo hóa người không dừng nghỉ.

Các Bồ tát này hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế thì thường tùy thuận thế gian, thấy kẻ giận dữ thì sanh nhường nhịn, thấy kẻ kiêu mạn thì khởi tưởng vô ngã, thấy kẻ tà vạy thì khởi tưởng chánh trực. Thấy người vọng ngữ thì nói lời chân thật. Thấy kẻ nói ác thì dùng ái ngữ. Thấy kẻ cứng cỏi thì thị hiện nhu hòa. Thấy kẻ nóng giận thì sanh từ nhẫn. Thấy kẻ theo pháp tà thì sanh đại từ. Thấy kẻ khổ não thì sanh lòng đại bi. Thấy kẻ xan tham, tật đố thì hành bố thí.

Các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế, tùy thuận trí thế gian nên được sanh cõi Phật thanh tịnh. Vì sao? Vì trì giới không khiếm khuyết, xa lìa tạp uế, tu tâm bình đẳng. Ở chỗ hữu tình đầy đủ các căn lành lớn, không đắm trước danh lợi. Có đức tin thanh tịnh, không có hư vọng mong cầu, cần hành tinh tấn, tu tập không biếng nhác. Tu tập các tịnh lự để xa lìa tán loạn. Dùng tuệ vi diệu để học tập đa văn. Các căn đầy đủ, trí tuệ thông minh, tu đại từ để xa lìa giận dữ não hại. Nhờ nhân duyên này được sanh về cõi Phật thanh tịnh.

Bấy giờ, Tối Thắng bạch Phật:

- Như lời Phật dạy người tu tập về các pháp trì giới v.v… và các pháp thì được sanh cõi Phật thanh tịnh. Như vậy, cần tu đầy đủ các pháp hay chỉ tu một pháp là được sanh ở cõi Phật thanh tịnh?

Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết! Đối với các pháp ta đã nói ở trước, Bồ tát nào chỉ tu một hạnh là đầy đủ các pháp. Như vậy, một hạnh cũng sanh về cõi Phật thanh tịnh. Vì sao? Vì trong mỗi một hạnh đầy đủ các hạnh.

 

Tu một pháp biết tất cả pháp như tu Bát Nhã Ba-la-mật. Tu một hạnh như tu bố thí, hay tu tịnh giới, an nhẫn… chỉ cần tu một hạnh thì được muôn hạnh cũng có thể sanh về cõi Phật. Đó là tu tịnh hạnh.

 

Các Bồ tát này sanh ở cõi Phật thanh tịnh không bị bào thai làm ô uế. Vì sao? Vì Bồ tát đã tạo dựng tượng Phật, tu sửa vườn Tăng, ở trước bảo tháp Phật, thoa đất thơm và đốt hương cúng dường, rải hoa đẹp cúng dường hoặc dùng nước thơm tắm rửa tượng Phật. Ở trong vườn Tăng, rưới nước quét dọn và láng nền. Từ tâm cung phụng Cha mẹ, Sư trưởng, thiện hữu đồng học và các Sa môn, dùng tâm bình đẳng cung kính cúng dường. Đem căn lành này ban cho hữu tình cùng nhau hồi hướng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, làm cho hữu tình đều được thanh tịnh. Bồ tát như thế là được ly dục. Vì sao? Vì tâm không chấp trước, chẳng đắm nhiễm theo bè đảng, quay lưng với trần cảnh, xa lìa các duyên ái. Ở trong cảnh dục tâm chẳng ái nhiễm, tu hành như thật giới Phật đã thuyết. Đối với bốn việc cúng dường ít muốn vui đủ, chỉ đủ nuôi thân, thường hành tịch tĩnh, xa lìa các pháp. Bồ tát như thế chẳng đắm trước việc thế tục, liền được mạng sống thanh tịnh. Không tà vạy, oai nghi không dối trá, lời nói không lừa gạt. Nghĩa là trước mặt thí chủ lừa dối bằng cách thể hiện bước đi ung dung, nhìn thẳng phía, không nhìn ngó hai bên, đó là uy nghi tà mạng. Lúc không có thí chủ thì phóng túng buông lung.

Vì cầu lợi dưỡng nên có thí chủ thì ăn nói ngọt ngào, nhỏ nhẹ, tùy thuận theo ý họ, lúc không có thí chủ thì nói lời thô bỉ. Thấy người hành bố thí trong tâm thật có tham muốn nhưng nói rằng không cần. Khi không được của thì sanh phiền não. Lời nói biểu hiện ít muốn mà tâm tham cầu lợi dưỡng thật nhiều.

Các Bồ tát này không có tướng cầu lợi dưỡng như thế. Nếu thấy thí chủ cũng không than ba y hư rách, đồ dùng thiếu thốn, hoặc nói cần thuốc men. Lại tuyệt đối không được nói với thí chủ: “Này thí chủ! Cho tôi vật này”, hoặc “Người kia nói tôi trì giới học rộng, đại bi, tinh tấn. Dù khen như thế mà tôi không có đức này, tôi chỉ siêng tu thiện để đền ơn thí chủ”.  

Các Bồ tát này không nói với người đời những lời tự khen mình chê người để cầu danh lợi như thế. Nếu thấy thí chủ cúng thí cho người khác không sanh tâm sân hận, phiền não, không dua nịnh quanh co để cầu nhận vật đó, không dối trá bằng cách thân thiện để hại người lấy của, chẳng mong hạ nhục người bằng cách giỡn cợt để lấy của. Thí chủ định cúng thí cho người được khen, hoặc người thuyết pháp, hoặc đại chúng, hoặc chưa dự định phần chia, hoặc đã bố thí nhưng chưa cho hẳn thì Bồ tát không bao giờ chen vào trong ấy để nhận phần. Nếu khi nhận tài vật thì không tham đắm, cho đây là vật của ta, đây là sở hữu của ta, phải đem của vật cho các Sa môn khác, hoặc Bà la môn, Sư Tăng, cha mẹ và các người nghèo cùng thiếu thốn, đều được bình đẳng sử dụng. Nếu tài vật hết không lo lắng, vài ngày không được thì tâm không khổ não.

Các Bồ tát này thọ nhận vật của người khác cúng dường, hoặc bố thí cho người, cả hai đều được thanh tịnh. Vì hạnh thanh tịnh nên tâm chẳng mệt mỏi. Vì sao? Vì lợi ích cho hữu tình đang bị đắm chìm trong biển luân hồi sanh tử, nên các Bồ tát này không nhàm chán. Nếu có việc ma, các khổ bức bách, tâm không bị thối lui. Nếu người muốn hành Nhị thừa thì vì họ để thuyết pháp không có nề hà, mệt nhọc. Bồ tát tu pháp Bồ đề phần, không hề nhàm chán.

Các Bồ tát này tinh tấn như thế là thường tùy thuận hành theo chánh giáo của Phật. Vì sao? Vì các Bồ tát này xa lìa sự buông lung, tâm thường cẩn thận, khéo tự giữ gìn thân, không tạo việc ác; ngữ, ý cũng vậy. Dù sống ở hiện tại nhưng sợ vị lai, diệt sạch các pháp ác không cho sanh ra nữa. Lời nói thường dựa vào chân lý, thường thuyết đúng giáo pháp, chẳng nói những lời phi pháp. Bỏ nghiệp xấu ác, chuyên tu hạnh thanh tịnh. Không hủy giáo pháp của Phật, xa lìa phiền não và pháp bất tịnh. Đó là hộ trì chánh pháp của Như Lai, diệt sạch các pháp ác bất thiện.

Các Bồ tát này tùy thuận theo giáo pháp thanh tịnh của Phật, nếu thấy hữu tình thì vui vẻ, mỉm cười, không hề nhăn nhó. Vì sao? Vì tâm đã lìa tạp uế, vẩn đục, các căn thanh tịnh, xa lìa cấu bẩn, sân nhuế, tâm không kết hận. Bồ tát như thế tức được đa văn, quán sát sanh tử thường biết như thật về lửa tham, sân, si đốt cháy làm cho con người mê loạn. Biết như thật về các pháp hữu vi đều vô thường, tất cả hành là khổ, các pháp là vô ngã. Ở thế gian, hữu tình say đắm theo hý luận, phải hiểu như thật là trong các pháp chỉ có Niết bàn là tối thắng, tịch tịnh. Nghe người thuyết pháp thì suy nghĩ nghĩa rồi truyền trao cho người. Phát đại từ bi, khởi niệm kiên cố. Nếu chẳng nghe pháp thì không tư, tu.

Thế nên văn tuệ là căn bản của các chữ. Tất cả trí tuệ được sanh ra từ đây. Đã được đa văn thì hộ trì chánh pháp. Vào thời chánh pháp diệt tận, ở đời vị lai có các hữu tình muốn tu hành mà không gặp chánh pháp, không có người thuyết pháp thâm sâu, thì khi ấy Bồ tát tuyên dương Bát Nhã sâu xa, để cho hữu tình tu giới, định, tuệ. Do đó khen: “Thiện nam tử! Vào thời chánh pháp diệt tận, người nên phát tâm Bồ đề cầu Vô thượng giác, vì muốn làm lợi lạc cho hữu tình. Kinh điển Bát Nhã sâu xa như thế là đối tượng để tu hành của chư Phật trong ba đời. Người siêng tu hành thì giác ngộ chẳng xa. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba-la-mật không xa đại Bồ đề. Như người trồng lúa, cây lúa đã trổ bông, nên biết kết quả thu hoạch không xa. Cũng vậy, Bồ tát cầu đại Bồ đề mà được nghe Bát Nhã Ba-la-mật, thì chắc chắn Bồ tát ấy cách Phật chẳng xa.

Thiện nam tử! Xa lìa Bát Nhã sâu xa để nương tựa vào các Kinh khác cầu Vô thượng giác, hoặc có thể chứng đắc, thì không có lẽ ấy. Thí như con vua, bỏ vua cha mà đi đến người khác cầu làm thái tử chắc chắn không thể được. Cũng vậy, Bồ tát cầu Nhất thiết trí cần nương Bát Nhã Ba-la-mật. Nếu nương vào Kinh khác cầu Nhất thiết trí thì không thể được. Thí như bò con muốn bú sữa thì phải nhờ mẹ nó, nếu tới bò khác thì không có sữa. Cũng vậy, Bồ tát cầu đại Bồ đề phải nương vào Bát Nhã Ba-la-mật, nếu nương pháp khác thì không thể chứng đắc.

Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát gần gũi Bát Nhã Ba-la-mật làm Pháp vương tử, tướng tốt trang nghiêm thân thể, các căn đầy đủ, tu hành pháp Phật đã tu, giác ngộ điều Phật đã giác ngộ. Cứu hộ khổ não cho tất cả hữu tình, thông suốt hoàn toàn giáo pháp của Phật đã thuyết, thường tu phạm hạnh, xa lìa vẩn đục, giữ gìn thành trì Nhất thiết trí của chư Phật.

Đó là Bồ tát làm Pháp vương tử, được Đế Thích, Phạm Thiên, Hộ Thế cùng tôn trọng. Vì sao? Vì hành đạo Bồ tát được bất thối, tất cả ác ma không thể lay động. Do đó, an trụ Phật pháp, thông suốt tất cả lý không bình đẳng, không chạy theo duyên ngoài, nên an trụ trong trí tuệ Phật pháp. Không cùng ở chung với Thanh văn, Độc giác v.v... vượt khỏi thế gian, trụ Vô sanh nhẫn.

Bồ tát biết như thật các phẩm thượng, trung, hạ khác nhau về tham, sân, si của hữu tình, biết rõ như thật phẩm loại khác nhau về tâm thiện, tâm kiên cố của hữu tình. Khi biết như thật rồi, tùy theo mỗi một hữu tình để nói pháp đối trị, có thể giáo hóa hữu tình. Hữu tình nào muốn thấy thân Phật được độ thoát thì Bồ tát hiện thân Phật để thuyết pháp. Nếu muốn thấy thân Bồ tát để được độ thoát thì Bồ tát hiện thân Bồ tát để thuyết pháp. Nếu muốn thấy thân Độc giác để được độ thoát thì Bồ tát hiện thân Độc giác để thuyết pháp. Nếu muốn thấy thân Thanh văn để được độ thoát thì Bồ tát hiện thân Thanh văn để thuyết pháp. Nếu muốn thấy các thân Đế Thích, Phạm Thiên, Bà la môn, Sát đế lợi, Trưởng giả, Cư sĩ v.v... để được độ thoát thì Bồ tát đều hiện các thân ấy thuyết pháp cho họ. Bồ tát bằng phương tiện thiện xảo hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật giáo hóa, độ thoát hữu tình như thế.

Các Bồ tát này tâm tánh từ hòa, chánh trực, uyển chuyển, không bị cấu uế như dua nịnh, ganh ghét. Tâm thường thanh tịnh, không nói lời thô ác, hành hạnh nhẫn nhục, gần gũi hữu tình.

Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế thì ở trú xứ ấy được an ổn. Vì sao? Vì Bồ tát đầy đủ chánh kiến và thanh tịnh kiến, thanh tịnh hạnh, các hành động trong cảnh giới tùy tâm tương ưng. Nếu thấy tâm trái với pháp ác bất thiện và cảnh giới uế ác thì Bồ tát chẳng nên hành.

Các Bồ tát này thấy người đồng học hết lòng vui mừng, hoặc của hoặc pháp đều thọ dụng chung, duy hành Phật đạo, duy Phật là Thầy.

Bồ tát như thế thì được tự tại, an lạc, nắm giữ đầy pháp để giáo hóa hữu tình. Vì lợi ích nhiếp phục hữu tình nên Bồ tát bố thí lợi ích, bố thí an lạc, hoặc bố thí tất cả, hoặc dùng lời lợi ích, lời có nghĩa, lời đúng pháp, hoặc những lời tương tự để nhiếp phục hữu tình. Đem của cải để lợi ích bình đẳng, hoặc đem thân thể lợi ích bình đẳng, hoặc đem sinh mạng để lợi ích bình đẳng, hoặc đem vật dụng để lợi ích bình đẳng.

Thiên vương nên biết! Bố thí mà đem lại nhiều lợi ích chính là pháp thí. Bố thí an lạc tức là tài thí. Bố thí vô tận là chỉ dạy chánh đạo. Lời nói có lợi ích thì sanh pháp lành. Lời nói có nghĩa thì thấy chánh lý. Lời nói như pháp thì tùy thuận giáo pháp của Phật. Lời nói chẳng sai khác là thuyết pháp như thật. Dùng của để lợi ích bình đẳng là việc ăn uống, y phục v.v.... Dùng thân để lợi ích bình đẳng là bảo vệ nhiếp phục. Dùng mạng để lợi ích bình đẳng là các thứ trân bảo ngoài mạng sống. Vật dụng lợi ích bình đẳng là voi, ngựa v.v... tất cả tịnh tài. Đó là các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, tự mình làm và đem cho người đều được bình đẳng(5).

Các Bồ tát này sanh ra với thân hình xinh đẹp, siêng năng tu tập, oai nghi tịch tĩnh, oai nghi không dối trá, oai nghi thanh tịnh, mọi người đều muốn nhìn. Trong ngoài đều thiện, người xem không chán, làm vui lòng người, tất cả hữu tình đều yêu mến, tôn trọng. Ai nhìn thấy đều phát thiện tâm, người sân hận thấy thì tâm hòa giải.

Các Bồ tát này xinh đẹp như thế, làm chỗ nương tựa, bình đẳng bảo hộ hữu tình diệt sạch phiền não, hướng dẫn hữu tình xa lìa sanh tử vô biên, độ thoát vô biên hữu tình vượt qua hiểm nạn của thế gian. Làm bạn thân với kẻ không quyến thuộc, làm thầy thuốc giỏi cho kẻ bệnh phiền não, làm người cứu hộ cho người không được cứu hộ, làm chỗ nương tựa cho người không có chỗ nương tựa, làm ngọn đuốc Pháp cho người không ánh sáng. Bồ tát làm y chỉ cho các hữu tình như thế để chữa trị các bệnh, như cây Thọ vương tên là Thiện Kiến, thân cây, gốc rễ, cành lá, hoa quả, sắc hương, mùi vị đều chữa lành bệnh. Cũng vậy, các Bồ tát này từ khi mới phát tâm cho đến cứu cánh thường chữa lành bệnh phiền não cho hữu tình. Bồ tát có nhiều phước đức trí tuệ thì người nào được thấy nghe đều lành bệnh.

Đó là Bồ tát có công đức tương ưng tùy theo năng lực để làm việc cúng dường Tam bảo, người có tật bệnh thì bố thí thuốc men, người đói khát thì bố thí đồ ăn uống, người lạnh rét thì bố thí y phục. Hết lòng kính thờ các vị Thân giáo sư, Quỷ phạm sư, cung kính chào hỏi người đồng học, đồng giới pháp. Tạo lập trú xứ Tăng, cấp thí ruộng vườn tùy theo tài vật của mình để bố thí. Nếu nghe Phạm chí, Sa môn nào có danh đức, tu chánh hạnh thì thường gần gũi để học hỏi.

Các Bồ tát này thường phát sanh hạnh lành, đầy đủ phương tiện thiện xảo để giáo hóa cứu độ hữu tình. Thân vẫn ở yên nơi quốc độ này mà đến vô biên quốc độ khác để hỏi chánh pháp, thị hiện cúng dường vô biên Như Lai, hoặc thị hiện tu tập trợ Bồ đề phần, hoặc thị hiện cúng dường vị Phật mới thành, hoặc thị hiện thân mình thành Đẳng chánh giác, hoặc vì chúng thị hiện chuyển pháp luân vi diệu, hoặc thị hiện Niết bàn làm việc lợi ích lớn. Người đáng độ thì thị hiện thân hóa độ, làm cho người thấy được lợi ích. Tuy làm các việc Phật sự như thế mà chẳng tác ý, chẳng phân biệt.

Khi ấy, Tối Thắng bạch Phật:   

- Bạch Thế Tôn! Bồ tát làm các việc biến hóa như thế nào mà tâm không phân biệt?

Phật dạy:

- Này Thiên vương! Ví như mặt trời, mặt trăng chiếu soi khắp tất cả không có phân biệt: Ta phát ánh sáng và chiếu đến chỗ nào thì các loài hữu tình tùy theo nghiệp lực của mình để cảm nhận ánh sáng mặt trời, mặt trăng chiếu soi ngày đêm. Cũng như vậy, các Bồ tát này tuy hiện hóa thân mà không phân biệt. Vì sao? Vì các hữu tình đều có nghiệp lành đời trước. Xưa kia, Bồ tát phát nguyện độ hữu tình, do sức thệ nguyện và tùy theo ý niệm của họ nên hóa hiện thân không phân biệt.

Các Bồ tát này dùng phương tiện thiện xảo, thường làm những việc làm như thế để giáo hóa hữu tình mau chóng hướng đến quả vị Vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì các Bồ tát này bố thí viên mãn, trì giới thanh tịnh, không thủng, không khuyết, giới phẩm thanh tịnh vượt hẳn hàng Thanh văn và Độc giác, đầy đủ an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát Nhã, xảo tiện, diệu nguyện, lực, trí và các công đức bất cộng của Phật, vượt trên địa vị Thanh văn, Độc giác.

Thiên vương nên biết! Bồ tát sơ địa cho đến thập địa hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, tu tập các hạnh như thế chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Khi thuyết pháp này có hai vạn Thiên tử xa lìa trần cấu, sanh pháp nhãn thanh tịnh. Ba vạn Bồ tát được Vô sanh nhẫn. Tám vạn bốn ngàn trời, người đều phát tâm quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề. Vô lượng trăm ngàn Kiền đạt phược và Khẩn nại lạc nhiễu quanh núi Thứu Phong, hoan hỷ chấp tay tán thán Như Lai. Vô lượng trăm ngàn Dược xoa vui mừng chắp tay nhiễu quanh núi Thứu Phong, mưa nhiều loại hoa vi diệu để cúng dường chư Phật. Ở mười phương vô lượng hằng hà sa thế giới chư Phật đều có vô lượng Bồ tát đến tán thán: Đức Như Lai Thế Tôn khéo thuyết Bát Nhã sâu xa cho các Bồ tát. Nhờ Bát Nhã Ba-la-mật mà trời, người được bốn hướng, bốn quả Thanh văn(6) và quả Độc giác Bồ đề. Cũng có Bồ tát thập địa, thập độ(7), mười lực Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết tướng trí, Nhất thiết trí trí v.v... vô biên Phật pháp đều nhờ Bát Nhã Ba-la-mật mà được thành tựu. Như việc thế gian đều nương hư không, hư không không có chỗ nương. Bát Nhã sâu xa cũng như vậy, vì các pháp không có chỗ nương. Nguyện cho chúng tôi ở đời vị lai thuyết Bát Nhã Ba-la-mật cho các đại Bồ tát như Thế Tôn đang tuyên thuyết ngày nay. Nói như vậy rồi cung kính rải hương hoa lên Như Lai và chúng hội.

Lúc ấy, có vô lượng thiên thần và các thần khác ở núi Thứu Phong trụ giữa hư không tán thán:

- Hi hữu thay thưa Thế Tôn! Chúng con nghĩ đã có vô lượng chư Phật đến núi Thứu Phong thuyết Bát Nhã Ba-la-mật cho đại chúng như ngày nay không khác.

Trời Tối Thắng bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Thiên thần trong không đâu có trí huệ biết cảnh giới Phật lâu gần sai khác mà nói rằng có vô lượng Phật đã từng ở đây nói Bát Nhã Ba-la-mật?

Phật dạy:

- Này Thiên vương! Chúng thiên thần đây đều là Bồ tát an trụ cảnh giới Bất khả tư nghì giải thoát, cho nên biết được sự sai khác gần xa của cảnh giới chư Phật trong quá khứ.

Này Thiên vương! Xưa kia, Ta còn làm Bồ tát đã từng sanh trong cảnh thiên thần ấy, thấy vô lượng chư Phật chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề, đã vì chúng hội tuyên thuyết diệu pháp cho đến lúc nhập Niết bàn, Ta thường chấp tay kính lễ khen ngợi. Vì sao? Vì tuổi thọ của cảnh giới thiên thần kia lâu dài, nên thấy nghe vô biên sự việc lâu xa trong quá khứ.

Bấy giờ, trong chúng có một Thiên tử tên là Quang Đức rời tòa đứng dậy, lệch áo che vai trái, gối phải chấm đất, chấp tay bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Chư Phật, Bồ tát phải ở cõi Tịnh độ, chứ tại sao Thế Tôn xuất hiện ở thế giới Kham Nhẫn đầy dẫy ô uế xấu ác này?

Phật bảo Quang Đức:

- Thiên tử nên biết! Chỗ ở của Như Lai không có uế ác tức là cõi Tịnh độ.

Khi ấy, Như Lai dùng thần lực làm cho ba ngàn đại thiên thế giới đất bằng như bàn tay, đều do lưu ly tạo thành, không có các núi gò, núi đất, chông gai, nơi nơi đều có nhiều báu, hương hoa, cỏ mềm, suối hồ với nước tám công đức, thềm bậc bằng bảy báu, cỏ cây hoa quả đều thuyết về pháp luân Bất thối của Bồ tát, không có pháp Thanh văn, Độc giác khác. Tuy có Bồ tát từ mười phương đến, mà chẳng nghe tiếng gì khác, chỉ nghe thuyết pháp Bát Nhã sâu xa. Khắp nơi hoa sen nở lớn như bánh xe, với đầy đủ màu sắc xanh, vàng, đỏ, tía v.v… Trong các đài hoa đều có các Bồ tát ngồi kiết già, tư duy về Đại thừa. Thấy chư Như Lai ở giữa chúng hội, thuyết pháp sâu xa cho chúng Bồ tát; vô lượng trăm ngàn Đế Thích, Phạm Thiên, Hộ Thế cung kính cúng dường vây quanh khen ngợi.

Thiên tử Quang Đức thấy việc như vậy vui mừng, hớn hở, khen ngợi Phật:

- Hi hữu thay thưa Thế Tôn! Hi hữu thay thưa Thiện Thệ! Pháp Như Lai đã thuyết chơn thật không hư dối. Chỗ ở của Như Lai không tạp uế, tức là Tịnh độ như Phật đã thuyết không có sai khác, hữu tình phước mỏng thấy tịnh thành uế.

Bạch Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ v.v… được nghe công đức danh tự Bát Nhã Ba-la-mật thì đó là điều rất là hi hữu, huống chi là siêng năng biên chép, thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết cho người khác.

Phật bảo Quang Đức:

- Thiên tử nên biết! Thiện nam, thiện nữ v.v… nào ở trong vô lượng đại kiếp, đem tâm vô ngại bố thí các tài vật cho hữu tình, so với thiện nam, thiện nữ v.v… dùng tín tâm thanh tịnh biên chép Kinh này rồi trao cho người khác thọ trì, đọc tụng thì công đức đạt được nhiều hơn người trước. Vì sao? Vì của thí chỉ trừ đói khát còn pháp thí thì không cùng. Vì vậy cho nên, tài thí chỉ được quả báo ở thế gian, quả vui trời, người, được rồi lại mất. Nếu dùng pháp thí thì được cái chưa từng được, đó là Niết bàn chắc chắn không lui mất.

Giả sử có giáo hóa hữu tình ở ba ngàn đại thiên thế giới đều tu tập theo mười thiện nghiệp đạo. Nếu thiện nam, thiện nữ v.v… với tín tâm thanh tịnh thọ trì, đọc tụng Bát Nhã sâu xa, rồi giảng thuyết cho người khác, thì được vô lượng, vô biên công đức vượt hơn người trước. Vì sao? Vì tất cả pháp lành đều được sanh ra từ Bát Nhã Ba-la-mật.

Giả sử có người giáo hóa hữu tình ở ba ngàn đại thiên thế giới đều được chứng đắc bốn hướng, bốn quả, Thanh văn, Độc giác Bồ đề. Nếu thiện nam, thiện nữ v.v… với tín tâm thanh tịnh thọ trì, đọc tụng, biên chép Bát Nhã Ba-la-mật, thì công đức này vượt hơn người trước vô lượng, vô số. Vì sao? Vì Thanh văn, Độc giác đều từ Bát Nhã Ba-la-mật sanh ra. Nhờ Bát Nhã Ba-la-mật này mà có Phật xuất thế. Cho nên Bát Nhã Ba-la-mật ở chỗ nào thì biết chỗ ấy là tòa Bồ đề vi diệu, là chỗ Như Lai chuyển pháp luân. Thiện nam, thiện nữ v.v… nên nhớ chỗ ấy thường có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều do Bát Nhã Ba-la-mật sanh ra. Người nào cúng dường hình tượng Như Lai, thì được công đức chẳng bằng công đức cúng dường Bát Nhã sâu xa. Vì sao? Vì ba đời chư Phật đều nhờ Bát Nhã Ba-la-mật mà có.

 

Thích nghĩa:

 (1). Pháp tánh hay pháp tính: (法性) Phạm: Dharmatà. Pàli: Dhammatà. Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản. Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như. Theo luận Đại trí độ quyển 32 thì Tổng tướng và Biệt tướng của tất cả các pháp đều qui về Pháp tính. Nghĩa là các pháp đều có tướng sai biệt và thực tướng; tướng sai biệt không cố định, là bất khả đắc. Vì bất khả đắc nên là không (vô tự tính), cho nên Không là thực tướng của các pháp. Tất cả các tướng sai biệt, vì tự tính của chúng là không, nên đều là đồng nhất, gọi đó là Như. Tất cả tướng đều qui về không, cho nên gọi không là Pháp tính. Trong Kinh Đại bảo tích quyển 52, đức Phật chỉ dạy nghĩa thực tính của các pháp, cho rằng Pháp tính không có đổi khác, không có thêm lên, không có bớt đi, không tạo tác nhưng chẳng có gì mà không tạo tác. Pháp tính không có phân biệt, không có sở duyên, trong tất cả pháp, chứng đắc thực tướng cùng tột. Thông thường, có thuyết phân biệt giữa Pháp tính và Như lai tạng, cho rằng Pháp tính và Như lai tạng có khác nhau, nhưng cũng có thuyết chủ trương Pháp tính và Như lai tạng là đồng nghĩa. [X. Kinh Đại phẩm Bát Nhã Q.21; Kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Thành duy thức Q.2; luận Đại trí độ Q.28; Đại thừa huyền luận Q.3]. (xt. Chân Như, Chân Lý). - Phật Quang từ điển.

(2). Thay vì nói là kéo áo che vai trái, người dịch lại nói là "lệch áo" che vai trái. Từ "lệch" này có vẻ hơi xa lạ.

(3). "Thiên vương nên biết! Ví như bốn đại nương vào hư không để kiến lập, mà hư không không có chỗ nương nên phiền não cũng vậy. Bốn đại nương nơi vào pháp tánh, pháp tánh không có chỗ nương. Các Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba-la-mật quán biết rõ như thật, nên chẳng khởi trái nghịch, vì tùy thuận nên phiền não không sanh".

Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba-la-mật" do Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh dịch rõ ràng, dễ hiểu hơn: "Này đại vương! Ví như bốn đại, nương tựa nơi hư không để đứng, nhưng hư không lại không có chỗ nương tựa. Phiền não cũng vậy, nương vào pháp tánh, nhưng pháp tánh không có chỗ để nương".

(4). Nhân vị: Chỉ cho các địa vị hoặc giai vị đạt được trong quá trình tu tập nhân hạnh đến chứng đắc quả vị tu hành.

(5). Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã ghi: “Lợi ích thí tức là thí Pháp. An lạc thí tức thí các nhu cầu sinh sống. Vô tận thí tức thị hiện Đạo. An lạc thí là khiến người sinh thiện. Hữu nghĩa ngữ là khiến người thấy lý. Như pháp ngữ là tùy thuận giáo pháp của Phật. Bất dị ngữ là thuyết Pháp như thực. Tài lợi ích bình đẳng là cái có thể ăn, có thể nuốt, có thể uống, có thể nếm, có thể liếm và y phục, vân vân. Thân lợi ích bình đẳng là những gì cần để thu nhiếp, phòng vệ, lợi ích thân mình, khiến người cũng thế. Mạng lợi ích bình đẳng là chân châu, lưu ly, san hô, mã não, đa phần là ngoại mạng. Tư cụ lợi ích bình đẳng là voi, ngựa, xe, tất cả tiền của chính đáng. Bồ tát Ma ha tát hành Bát Nhã Ba-la-mật, tự mình hành và người khác hành đều như nhau”. Người dịch tuy dùng nhiều danh từ Hán Việt. Tuy nhiên, đã lột được nghĩa chân xác hơn.

(6). Tứ hướng tứ quả Thanh văn:

1- Con đường dẫn vào bốn quả Thanh văn gọi là tứ hướng (bốn hướng).

2- Tứ quả Thanh văn là: 1/. Tu đà hoàn (Dự lưu): 2/. Tư đà hàm (Nhất lai). 3/. A na hàm (Bất hoàn, Bất lai). 4/. A la hán (Vô học).

Tu đà hoàn (Dự lưu) hoàn tất việc trừ sạch các Kiến hoặc trong tam giới (còn gọi là 88 kiết sử), chứng được Ngũ thập tâm trong Kiến đạo, xong giai đoạn nầy gọi là Dự lưu hướng, thể nhập địa vị Tu đạo, là đạt Dự lưu quả (nói khác Dự lưu hướng là giai vị Kiến đạo, Dự lưu quả là giai vị Tu đạo). Tiến vào giai vị Tư đà hàm (Nhất lai), hành giả phải giải trừ 6 phẩm đầu trong 9 phẩm phiền não Tư hoặc, là chứng được quả vị nầy. Rồi hành giả tiến vào giai vị A na hàm (Bất lai), phải giải trừ sạch ba phẩm phiền não Tư hoặc còn lại. Trong giai vị A la hán cuối cùng, hành giả giải trừ vĩnh viễn mọi phiền não, và thể nhập Niết bàn. Tứ hướng tứ quả đã thích nghĩa trong phần thứ I, Tổng luận. Ở đây lặp lại để giải thích cách thức tu tập như thế nào để được bốn hướng và bốn quả. Đây giải thích chi tiết hơn.

(7). Thập độ (十土): Mười cõi nước được lập ra tùy theo thắng đức chân như của mỗi Địa mà Bồ tát Thập địa chứng được. Đó là: Biến hành độ, Tối thắng độ, Thắng lưu độ, Vô nhiếp thụ độ, Loại vô biệt độ, Vô nhiễm tịnh độ, Pháp vô biệt độ, Bất tăng giảm độ, Trí tự tại độ và Nghiệp tự tại độ. [X. Đại pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần cuối]. (xt. Chân Như). - Phật Quang từ điển.

Có nhiều tự điển khác giải thích thập độ là thập Ba-la-mật. Trong phẩm này thập độ chính là Mười cõi nước được lập ra tùy theo thắng đức chân như của mỗi Địa mà Bồ tát Thập địa chứng được như giải thích ở trên.TB

 

Sơ giải:

 

1. Nói về pháp tánh:

 

Trong phần luận giải về pháp giới, chúng ta có nói uẩn xứ giới là cửa ngỏ tiếp xúc của nhân sinh và vũ trụ. Và cũng từ cửa này mà sanh cảm thọ tốt xấu, nhiễm tịnh v.v... nên sanh bệnh. Do khách trần chuyển nên tâm chuyển. Vì vậy, mới bảo hợp trần thì bội giác, nên sanh bệnh, bệnh từ ngoài vào. Ở đây, phẩm "Pháp Tánh", Phật bảo:

"Từ vô thỉ các uẩn, xứ, giới luôn luôn nối tiếp nhau trong chúng sinh, nhưng thể của pháp tánh luôn thanh tịnh không bị ô nhiễm. Tất cả tâm ý thức không thể nương vào đó phát khởi; cho nên không từ mười hai nhân duyên mà sinh. Đó gọi là vô tướng, chẳng phải là tác pháp, tự tướng của nó thường trụ không sinh, không cùng tận, không biên giới.

Bậc Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba-la-mật, biết được pháp tánh thanh tịnh như vậy, nên xa lìa được cấu uế, không bị nhiễm trước, cho nên vượt qua phiền não đạt đến giải thoát. Tánh này tức là pháp căn bản của chư Phật; công đức trí tuệ nhân nơi đây mà phát sinh, thể tánh của nó sáng suốt thanh tịnh, không thể nghĩ bàn".

Pháp tánh tự tánh thanh tịnh, vắng lặng, không nhiễm ô, còn gọi là Phật tánh, cái sẵn có của mỗi chúng sanh. Nhưng nếu bị khách trần hư vọng phân biệt nhiễm trước, trôi lăn trong sáu đường, thì gọi là chúng sanh tánh. Vì chúng sanh tánh luôn luôn trôi nổi, sanh diệt vô thường. Nhưng các Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba-la-mật, biết được pháp tánh thanh tịnh như vậy, xa lìa được cấu uế, không bị nhiễm trước, cho nên vượt qua phiền não đạt đến giải thoát.

Đây là vấn đề thường được nêu lên nếu không muốn nói là tranh luận: Thế nào là Bản hữu, thế nào là Tu sanh? Bản hữu là cái bản lai tự có của mỗi chúng sanh, đối lại với cái gọi là Tu sanh, do tu hành mà có. Cả hai thứ này khởi thủy ngang nhau gọi chung là Bản hữu tu sanh. Bất luận là hữu tình phi tình, bản tính của chúng vẫn đầy đủ muôn đức, ở Thánh không tăng, ở phàm không bớt. Nhưng vì khách trần mà bị ô nhiễm trôi lăn, nên phải tu để trở về cái bản nguyên của thuở ban đầu nên gọi là Tu sanh.

Pháp Tướng Tông nói trong A Lại Da Thức (còn gọi là thức thứ tám) có hai loại chủng tử: 1. Gọi là tiên thiên, hạt giống sẵn có từ lâu, đó là các chủng tử sạch (thí dụ như đậu màu trắng); 2. Loại chủng tử thứ hai gọi là hậu thiên, từ chủng tử sạch này do khách trần làm ô nhiễm, nó biến thành các chủng tử dơ (thí dụ như đậu màu đen). Nói như vậy có nghĩa A Lại Da Thức là nơi tàng chứa các chủng tử của tất cả các pháp (nên được gọi là Tàng Thức).  A Lại Da Thức hay Tàng Thức sanh khởi các pháp của thế giới hiện tượng, rồi các pháp này lại huân tập hình thành nên các chủng tử mới trong A Lại Da Thức. Các chủng tử mới này sanh diệt liên tục của từng sát na có thể là sạch hay dơ (thí dụ như đậu trắng và đậu đen lẫn lộn). Giống như đứa bé mới sanh ra không biết gì, trong trắng ngây thơ nên trong A lại gia thức có toàn chủng tử sạch (toàn đậu trắng). Đó là nói theo “lý tưởng”. Nhưng càng lớn lên do huân tập nếp sống bên ngoài nên chủng tử mới được tạo nên có dơ có sạch (đậu đen trắng lẫn lộn). Bây giờ, muốn trở thành một người tốt, Thánh thiện thì phải lượm các hột đen thúi vứt đi(1).

"Thiên vương nên biết! Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật có thể quán sát pháp tánh chơn tịnh như thế, tất cả Thánh giả như thật ngộ nhập. Không có người tu và pháp để tu, không có người thực hành và pháp để hành, không tâm, không có pháp thuộc tâm, không nghiệp, không quả báo, không khổ, không vui. Quán sát như thế gọi là bình đẳng, không phân chia, xa lìa tùy thuận quảng đại, không ngã, ngã sở, không cao, không thấp, chơn thật vô tận, thường trụ trong sáng. Vì sao? Vì tất cả Thánh pháp do đây mà thành thục, nhờ tánh này nên các bậc Thánh hiển hiện vô biên công đức và pháp bất cộng của chư Phật Như Lai đều từ tánh này xuất sanh. Giới, định, tuệ của tất cả Thánh giả đều từ tánh này sanh ra. Bát Nhã Ba-la-mật của Bồ tát, Phật đều từ tánh này sanh ra. Tánh này vắng lặng vượt các danh tướng. Tánh này chơn thật, xa lìa điên đảo. Tánh này chẳng biến đổi nên gọi là Thánh trí, là Đệ nhất nghĩa; chẳng có, chẳng không, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải sanh tử, chẳng phải Niết bàn, chẳng nhiễm, chẳng tịnh, lìa nhất dị, không danh, không tướng”.

Ở đây Phật thuyết bản tánh hay tự tánh chúng sanh (Tâm) vốn thanh tịnh, bất nhiễm, nhưng vì khách trần mà sanh ra có nhiễm có tịnh: Phật, Bồ tát "thực hành Bát Nhã Ba-la-mật, biết được pháp tánh chơn tịnh, nên xa lìa được cấu uế, không bị nhiễm trước, cho nên vượt qua phiền não đạt đến giải thoát". Trong khi chúng sanh "bị các phiền não che lấp, trôi lăn trong sinh tử, chìm nổi sáu đường, suốt dòng sinh tử luân chuyển theo chúng sinh, nên gọi là tính chúng sinh".

Một khi Như Lai tạng tánh nằm trong triền phược (Như Lai tại triền) thì bị lưu chuyển trong sáu đường thì gọi là mê, mê tức chúng sanh. Nếu Như Lai thoát khỏi mọi ràng buộc (Như Lai xuất triền) thì được rỗng rang tự tại nên nói là ngộ, ngộ tức Phật. Đây là lối giải thích mê ngộ tùy theo Như Lai tạng tánh cũng giống như lối giải thích về chủng tử của Pháp Tướng Tông.

Pháp tánh tự tánh vắng lặng, nhiệm mầu. Nhưng chúng sanh không biết lại nương vịn khách trần, sanh ra hư vọng phân biệt nhiễm trước nên bị luân chuyển trôi lăn. Chúng sanh không thật chúng sanh, 5 uẩn không phải là chúng sanh. Nên chư Phật Bồ tát hành sâu Bát Nhã biết bản tánh các pháp (tức pháp tánh) chơn tịnh, nên không bị các pháp chuyển mà trái lại có thể chuyển các pháp, nên không rời đạo tràng mà có thể chuyển pháp luân khắp cả 10 phương thế giới.

Vì vậy, Kinh bảo: "Pháp tánh thanh tịnh là gốc các pháp, tự tánh vốn không hư dối, phiền não đều từ tà niệm điên đảo mà sanh".

"Giới, định, tuệ của tất cả Thánh giả đều từ tánh này sanh ra. Bát Nhã Ba-la-mật của Bồ tát, Phật đều từ tánh này sanh ra. Tánh này vắng lặng vượt các danh tướng. Tánh này chơn thật, xa lìa điên đảo. Tánh này chẳng biến đổi nên gọi là Thánh trí, gọi là Đệ nhất nghĩa; chẳng có, chẳng không, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải sanh tử, chẳng phải Niết bàn, chẳng nhiễm, chẳng tịnh, lìa nhất dị, không danh, không tướng". Đó là pháp tánh.

Chúng tôi nghĩ với những giải thích cặn kẽ như trên có thể soi sáng cái gọi là pháp tánh.

 

2. Tại sao nói pháp tánh là tên khác của Chân như?

 

Phẩm này nói về "Pháp Tánh" nhưng cũng đề cập đến Chân như giống như phẩm "Pháp Giới" trước đây:

“Pháp tánh như, hữu tình như không hai, không khác. Hữu tình như, pháp tánh như không hai, không khác. Pháp tánh như, các pháp như không hai, không khác. Các pháp như, chư Phật như không hai, không khác. Pháp tánh như, như đó ba đời không trái nghịch nhau. Quá khứ như, vị lai như không trái nghịch nhau. Vị lai như, hiện tại như không trái nghịch nhau. Hiện tại như, quá khứ như không trái nghịch nhau. Uẩn, xứ, giới ba đời như. Uẩn, xứ, giới như tức nhiễm tịnh như. Nhiễm tịnh như tức sanh tử Niết bàn như. Sanh tử Niết bàn như tức các pháp như”.

“... Nói Như như chính là Bất dị; không đổi, không sinh, không tranh, chân thực. Vì không tranh nên gọi là Như, thấy biết như thực các pháp không sinh. Các pháp tuy sinh, nhưng Như Như bất động. Như như tuy sanh các pháp mà như đó chẳng sanh. Đó gọi là Pháp thân thanh tịnh, bất biến như hư không, vô đẳng đẳng, không có một pháp nào trong tam giới có thể sánh bằng. Khắp thân chúng sinh, không có cái tương tợ; thanh tịnh lìa cấu, xưa nay không nhiễm; tự tính trong sáng, thanh tịnh; tự tính không sinh; tự tính không khởi. Ở tâm, ý, thức mà không phải tánh của tâm, ý, thức; tức là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Khắp cõi hư không, khắp chúng hữu tình đều bình đẳng, vô lượng, vô biên, không có sai biệt. Không phải sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không lìa sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không phải địa, thủy, hỏa, phong; không lìa địa, thủy, hỏa, phong. Không phải sanh, không lìa sanh. Tuy nghịch sanh tử nhưng chẳng thuận Niết bàn. Mắt không thể thấy, tai không thể nghe, mũi không thể ngửi, lưỡi không thể nếm, thân không thể xúc chạm, ý không thể biết. Không ở tâm, ý, thức, không lìa tâm, ý, thức.

Thiên vương nên biết! Đấy là pháp tánh”.

Trước hết phải nói đoạn kinh này có thể xem là một định nghĩa ngắn gọn về chân pháp giới của tất cả pháp.

Từ “Như” hay “Như như” là chỉ Chân như của tất cả pháp. Đoạn Kinh trên nói về chân như này. Đó là một “quan niệm” quan trọng của Đại thừa giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn hữu. Như đó là như như bất động, thường như, chẳng lúc nào chẳng như. Nó như vậy bởi vì nó như vậy, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức. Như này nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân tâm. Tri kiến được Chân như tức là Giác ngộ, vượt ra khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Như này đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính, Pháp thân. Như này cũng chính là Không như Đại Trí Độ Luận của Bồ tát Long Thọ đã nói trong thích nghĩa nói trên. Chúng ta không lấy làm lạ trong kinh hay luận những từ sau đây được xem như có thể thay thế cho nhau để chỉ về thật tính của các pháp: Chơn như, Pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, ly sanh tánh, bất tư nghì giới, hư không giới, đoạn giới, ly giới, diệt giới, vô tánh giới, vô tướng giới, vô tác giới, vô vi giới, an ẩn giới, tịch tĩnh giới, pháp định, pháp trụ, bổn vô, thật tế, Tánh Không…

Vì vậy, Kinh điển Đại thừa mới xếp loại chân như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh… hay nói rộng "thập nhị chân như" cùng một thể loại như nhau. Bởi vì chúng là anh em với nhau trong cùng bào thai của Như Lai, nên đồng một như không hai không khác, không cùng tận. Sau khi thuyết về chân như như thế, rồi Phật bảo Tối Thắng Thiên Vương: "Đấy là pháp tánh".

 

3. Tại sao nói pháp tánh lại đề cập đến bình đẳng tánh?

 

Ở trong mười phương tìm cầu Phật pháp chắc chắn không thể được. Biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, không thường, không đoạn. Vì sao? Vì tìm cầu pháp này không thể được. Dùng lý như thật tìm cầu không thể được. Pháp này không thể nói có, nói không, cũng không có danh tướng, vượt cảnh giới này. Nếu lìa danh tướng tức là bình đẳng. Nếu pháp bình đẳng thì không chấp trước. Vì không chấp trước nên là pháp chơn thật. Nếu chấp chơn thật tức là hư vọng. Vì chẳng chấp trước nên chẳng hư vọng. Vì tâm không bị chấp trước nên vô ngại. Vô ngại tức vô chướng. Vô chướng tức không tranh. Nếu không tranh tức đồng với hư không, chẳng lệ thuộc vào ba cõi. Nếu tất cả xứ không còn bị lệ thuộc thì pháp này vô sắc, vô tướng, vô hình. Nếu pháp vô sắc, vô tướng, vô hình, nên biết pháp ấy tùy theo cảnh giới kia nhưng lìa sự biết và đối tượng để biết. Vì sao? Vì trong ấy không có một chút pháp nào để giác ngộ, có thể giác ngộ. Đó là Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật thông suốt bình đẳng.

Tất cả những điều thuyết giảng trên là nói xa nói gần về chân như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh. Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật chỉ cần quán thấy một trong các pháp này thì thâm nhập thập nhị chân như, thấu triệt thật tướng của tất cả pháp, nên mới có nhìn bình đẳng thanh tịnh trên mọi sai biệt của tất cả vạn hữu trần gian.

Phẩm “Bình Đẳng”, quyển 570, Hội thứ VI, ĐBN. Nói:

- “Thiên vương nên biết! Các pháp quán bình đẳng, tự tánh của nó tịch tĩnh, không sanh không diệt, nên gọi là bình đẳng. Tất cả phiền não hư vọng phân biệt, tự tánh tịch tĩnh, không sanh không diệt, nên gọi là bình đẳng. Danh tướng phân biệt, tự tánh tịch tĩnh, không sanh không diệt, nên gọi là bình đẳng. Điên đảo diệt, không khởi phan duyên nên gọi là bình đẳng. Tâm năng duyên vô minh, hữu ái diệt; vì si ái diệt, hoàn toàn tịch tĩnh, không còn chấp trước ngã và ngã sở nên gọi là bình đẳng. Vì ngã và ngã sở chấp vĩnh viễn không còn nên danh sắc tịch tĩnh, gọi là bình đẳng. Vì danh sắc diệt nên biên kiến không sanh, gọi là bình đẳng. Vì thường đoạn diệt nên thân kiến tịch tĩnh, gọi là bình đẳng”.

Chúng sanh bình thường thấy bình đẳng là tướng bên ngoài của các pháp như nước bình đẳng chỉ một mực ngang nhau, đó là cái thấy bình đẳng nằm bên ngoài. Nhưng thân tâm tịch tĩnh, cũng nói là bình đẳng. Đó là cái bình đẳng nằm bên trong, bên trong khó thấy nên nói là nhận thức ở tầng cao hơn.

Cũng cùng đoạn kinh trên, nói tiếp:

“Thiên vương nên biết! Nói ngã là không đến không đi, không có chơn thật, là pháp phân biệt hư vọng, từ vọng sanh, cũng là hư vọng. Nếu các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, dùng phương tiện thiện xảo quán pháp như vậy thì lìa xa hư vọng, nên gọi là tịch tĩnh bình đẳng.

Thiên vương nên biết! Năng chấp, sở chấp gọi là lửa, xa lìa gọi là tịch tĩnh, hoặc chướng là lửa, xa lìa là tịch tĩnh. Nếu các Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, dùng phương tiện thiện xảo, như thật biết năng chấp, sở chấp và các phiền não diệt thì thiện pháp tăng trưởng. Đoạn trừ năng chấp, sở chấp và các phiền não, nhưng không thấy sanh cũng không thấy diệt, nên gọi là bình đẳng. Tu hết thảy chủng loại Ba-la-mật xa lìa ma chướng, nhưng không thấy có tu cũng không thấy có lìa nên gọi là bình đẳng”.

 

(Phẩm “Bình Đẳng” kế tiếp sẽ thuyết rõ nghĩa này)

 

4. Các pháp không sanh không diệt:

 

“Phật bảo Tối Thắng:

- Thiên vương nên biết! Vì các pháp không diệt nên không sanh. Vì sao? Vì tánh không biến đổi, chỉ do người thế tục thấy có sanh, có diệt, đó là sự thấy biết hư vọng, không chơn thật. Những Bồ tát nào bằng phương tiện thiện xảo hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, thì thấy pháp nhân duyên, biết rõ tục đế là Không, vô sở hữu, không bền chắc, không có mà tợ như có, như huyễn hóa, như ảo mộng, như âm vang, như bóng sáng, như ảo ảnh, như quáng nắng, như việc biến hóa, như thành Tầm hương, lay động chẳng yên, đều do nhân duyên sanh khởi.

Các Bồ tát này dùng Bát Nhã vi diệu quán sát các pháp Không, nói rộng cho đến từ nhân duyên sanh khởi. Các Bồ tát này tư duy: Các pháp này thấy có sanh, có trụ, có diệt. Do nhân duyên nào mà sanh? Do nhân duyên nào mà diệt? Tư duy như vậy rồi biết rõ như thật, do vô minh sanh các hành, do hành sanh thức, nói rộng cho đến do hữu nên có sanh, do sanh nên có lão, do lão nên có tử và ưu, sầu, khổ, não. Cho nên cần phải tu hành để diệt vô minh. Nếu diệt vô minh thì mười một chi còn lại lần lượt diệt theo, như thân đã diệt thì mạng sống đều diệt theo.

Thiên vương nên biết! Tà kiến ngoại đạo mong cầu giải thoát, chỉ muốn đoạn tử chẳng biết đoạn sanh. Nếu pháp không sanh thì không có diệt”.

 

Quan niệm con người vốn bản hữu, tự tánh thanh tịnh, bất nhiễm đối với tri thức thường tục là một điều khó nuốt, khó tiêu hóa. Bây giờ, nói vạn hữu không sanh không diệt nữa lại càng không thể chấp nhận được. Đối với con người trần tục ai cũng thấy có sanh trụ dị diệt. Con người sanh ra lớn lên, già chết... ai cũng thấy như vậy, nên khi nói các pháp không có sanh không có diệt, không ai tin nhận. Phật quan niệm các pháp hiện hữu là do nhân duyên, duyên hợp thì gọi là sanh, duyên tan thì gọi là diệt. Như nói vô minh sanh hành, hành sanh thức, thức sanh lục xứ, lục xứ sanh xúc, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, thủ sanh hữu, hữu sanh sanh, sanh sanh lão tử. Khi vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt... cho đến sanh diệt thì lão tử diệt. Một chuỗi dài sanh diệt vô cùng tận, nhưng không ai biết nguyên do của sanh diệt là do duyên hợp (duyên khởi hay duyên sanh). Chặt đứt mắc xích duyên sanh thì không còn tử nữa.

Chư Phật không thấy sanh, các pháp sở dĩ có sanh là do duyên hợp, khi duyên rã rời thì gọi là diệt. Diệt nhưng chẳng có gì gọi là diệt, chỉ là biến thể chớ không phải biến mất. Vì biết như vậy nên chư Bồ tát mới đạt được Vô sanh pháp nhẫn mà chứng Vô Thượng Bồ đề.

Bồ tát biết như vậy nên đoạn sanh, giết cái mầm sanh thì làm gì có tử. Còn chúng sanh sợ tử nên chỉ muốn đoạn tử để sống hoài. Nên phải lăng lóc chịu khổ trong luân hồi. Hết sanh rồi tử, hết tử rồi sanh bất tận chẳng bao giờ yên!

Đó gọi là “quan niệm”không sanh không diệt.

 

5. Tu tịnh hạnh:

 

Các Bồ tát biết tu Bát Nhã Ba-la-mật, biết nhân duyên không, không thực có, không khởi ngã mạn, nên khi sanh trong cảnh nghèo nàn khổ cực tự biết nghiệp đời trước không được thanh tịnh nên có quả báo thấp kém, liền bỏ cuộc đời, xuất gia tu tịnh hạnh mong thoát khỏi cảnh tối tăm. Tự mình cầu độ, cũng lại độ người; tự cầu giải thoát, cũng lại giải thoát  người. Vì nhân duyên này tức sinh tinh tấn tu phạm hạnh mà đoạn trừ được phiền não.

"Các Bồ tát này hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật như thế thì thường tùy thuận thế gian, thấy kẻ giận dữ thì sanh nhường nhịn, thấy kẻ kiêu mạn thì khởi tưởng vô ngã, thấy kẻ tà vạy thì khởi tưởng chánh trực. Thấy người vọng ngữ thì nói lời chân thật. Thấy kẻ nói ác thì dùng ái ngữ. Thấy kẻ cứng cỏi thì thị hiện nhu hòa. Thấy kẻ nóng giận thì sanh từ nhẫn. Thấy kẻ theo pháp tà thì sanh đại từ. Thấy kẻ khổ não thì sanh đại bi. Thấy kẻ xan tham, tật đố thì hành bố thí".

Đó là hành của Bồ tát, gọi là hành Bồ tát hạnh hay Bồ tát đạo, hành như thế mới siêu xuất, mới xứng đáng mang danh Bồ tát.

“Lợi ích thí tức là thí Pháp. An lạc thí tức thí các nhu cầu sinh sống. Vô tận thí tức thị hiện Đạo. An lạc thí là khiến người sinh thiện. Hữu nghĩa ngữ là khiến người thấy lý. Như pháp ngữ là tùy thuận giáo pháp của Phật. Bất dị ngữ là thuyết Pháp như thực. Tài lợi ích bình đẳng là cái có thể ăn, có thể nuốt, có thể uống, có thể nếm, có thể liếm và y phục, vân vân. Thân lợi ích bình đẳng là những gì cần để thu nhiếp, phòng vệ, lợi ích thân mình, khiến người cũng thế. Mạng lợi ích bình đẳng là trân châu, lưu ly, san hô, mã não, đa phần là ngoại mạng. Tư cụ lợi ích bình đẳng là voi, ngựa, xe, tất cả tiền của chính đáng. Bồ tát Ma ha tát hành Bát Nhã Ba-la-mật, tự mình hành và người khác hành đều như nhau”.

Bố thí thì buông bỏ vạn duyên, xả bỏ tất cả trong ngoài tức biết thương xót hữu tình, nên nói là có tâm bình đẳng mới có thể hóa độ tất cả chúng sanh.

 

“... Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật quan sát pháp sanh đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả hoàn toàn không thấy ngã, không thấy hữu tình cho đến không thấy người biết và người thấy. Tuy hành bố thí nhưng không thấy có sự xả bỏ; tuy trì tịnh giới nhưng lìa giới tướng; tuy tu tập an nhẫn nhưng tâm vô tận; tuy tu tập tinh tấn nhưng lìa tướng ấy; tuy tu tập tịnh lự nhưng không có sự vắng lặng; tuy tu tập Bát Nhã nhưng không có đối tượng; tuy tu tập niệm trụ nhưng không chấp chặt; tuy tu tập chánh đoạn nhưng tâm bình đẳng; tuy tu tập thần túc nhưng lìa hý luận, tuy tu tập căn lực nhưng không phân biệt các căn của hữu tình và xa lìa lầm lỗi; tuy tu tập giác chi nhưng không phân biệt; tuy tu tập chi Thánh đạo nhưng tâm vô công dụng; tuy tu tập tịnh tín nhưng không chấp trước. Trí tuệ tự nhiên nhớ nghĩ các pháp với tâm trí bình đẳng, tu tập các diệu định mà tâm không phân biệt, quan sát diệu tuệ mà tâm không ngừng nghỉ. Tu tập quán chỉ tâm không có sự thấy, tu tập pháp quán tâm không có chỗ niệm. Tu tùy niệm Phật tâm thông suốt pháp giới bình đẳng, tu tùy niệm Pháp tâm không có chỗ trụ, tu tùy niệm Tăng nên thanh tịnh bản tâm. Giáo hóa hữu tình không có tâm phân biệt. Tâm pháp giới bao trùm tất cả pháp. Tâm như hư không, trang nghiêm cõi Phật. Tâm không có chỗ chứng đắc đạt Vô sanh nhẫn. Tâm không tiến lùi đạt Bất thối chuyển, xa lìa tâm tướng, không thấy có tướng. Ở trong tam giới dùng tâm bình đẳng, trang nghiêm tòa Bồ đề. Tâm không có chỗ giác ngộ biết rõ tất cả pháp. Tuy chuyển pháp luân nhưng không thấy người nghe, người nói. Tuy hiện Niết bàn nhưng biết bản tánh sanh tử bình đẳng.

... Các đại Bồ tát hành sâu Bát Nhã Ba-la-mật, quán sát các pháp như vậy nhưng không thấy sự quán, không thấy có pháp để quán nên được thần thông tự tại. Vì sao? Vì tâm thanh tịnh nên thấy tất cả hữu tình thanh tịnh”.

Tất cả những dẫn chứng nói trên cốt nêu lên lối tu tịnh hạnh. Chỉ cần tu một trong lục độ vạn hạnh như tu tịnh giới thành công thì được gọi là Thánh. Không ai trong cõi đời này có thể tự hào là suốt đời không bao giờ phạm lỗi, chỉ có bậc đạo hạnh sâu dày mới có thể làm được, nên mới được xưng tụng là Thánh nhân. Vì vậy, Kinh bảo học một pháp thì biết muôn pháp, học một hạnh thì được muôn hạnh.

Nên Phật bảo Tối Thắng Thiên Vương:

- "Thiên vương nên biết! Đối với các pháp ta đã nói ở trước, Bồ tát nào chỉ cần tu một hạnh là đầy đủ các pháp. Như vậy, một hạnh cũng sanh về cõi Phật thanh tịnh. Vì sao? Vì trong mỗi một hạnh đầy đủ các hạnh".

Tu tịnh hạnh như vậy là sẵn sàng dọn mình để chứng Thánh, trở thành Bồ tát Bất thối chuyển; lên Đẳng giác, rồi vào Diệu giác, thì chỉ cần đợi một đời nữa sẽ được nhất sanh bổ xứ, ngôi vị Pháp vương.

Suy ra cho cùng, tất cả suối, lạch, sông, ngòi lớn nhỏ đều đổ vào đại dương chẳng khác nào như tu Lục độ vạn hạnh để được tịnh hạnh, chứng Thánh mà tế độ chúng sanh. Nhưng chẳng có gì khó khăn hơn là tu Bồ tát hạnh hay Bồ tát đạo, gian nan thử thách quá nhiều. Nên trong phẩm trước “Niệm Trụ Đẳng” cũng như phẩm “Pháp Tánh” này Phật dạy tu tịnh hạnh quá thiết tha. Vậy, phải thọ trì những khuyến dẫn trên của chư Phật để được công tròn quả mãn.

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

(1). Đây là thí dụ lý tưởng về tâm của một đứa bé mới ra đời với A lại da thức chứa toàn chủng tử sạch, nhưng theo Duy Thức Học không giản dị như vậy. Một người sanh ra, tùy theo nghiệp quả: Nếu tiền kiếp là Bồ tát thì trong A Lại Da Thức có sẳn các chủng tử vô lậu (thí dụ như toàn đậu trắng) thì khi tái sanh sẽ thuộc bậc Thánh. Nếu trong tiền kiếp là một tội phạm thì trong A Lại Da Thức có sẵn chủng tử hữu lậu lẫn vô lậu (đậu đen đậu trắng lẫn lộn) khi tái sanh: Nếu tội lỗi nhiều thì đậu đen nhiều, nếu tội lỗi ít thì đậu trắng nhiều. Muốn trở thành thánh thiện ở hiện đời hay tương lai thì phải tu, tu để loại bỏ chủng tử xấu (đậu đen). Khi loại   bỏ tất cả chủng tử xấu rồi (đậu đen hư thối vứt đi), còn lại chủng tử tốt (toàn đậu trắng) thì chứng Thánh. Đạo Phật quan niệm bản hữu tức thiên chất của con người sanh ra đều có Phật tánh, nhưng vì khách trần làm nhiễm ô nên phải tu để trở về cái bản nhiên thanh tịnh của thuở ban đầu.

 

Chú ý:

Duy Thức Học là một môn học rất khó. Muốn hiểu nó thì phải đọc thêm Kinh sách. Ở đây chúng tôi chỉ nói đại cương thôi. Nếu quý vị có hứng thú xin đọc quyển sách căn bản gọi là Duy Thức Học nhập môn, bản dịch của HT. Thích Thiện Hoa, nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà nội - Phật lịch 2547- DL 2003.

 




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn