Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

65. Phẩm "Vô Tận"

05/09/202018:23(Xem: 4946)
65. Phẩm "Vô Tận"

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***
buddha-450

 

PHẨM "VÔ TẬN"

Phần sau quyển 458, Hội thứ II, ĐBN.

(Tương đương phẩm cùng tên là “Vô Tận”, phần sau Q.347

cho đến hết Q.348, Hội thứ I, ĐBN)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

Tóm lược:

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện nghĩ như vầy: “Bát nhã Ba la mật này rất là thẳm sâu. Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề cũng rất thẳm sâu, ta sẽ hỏi Phật về hai nghĩa thẳm sâu này”.

Sau khi suy nghĩ xong, Thiện Hiện liền bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bát Nhã thẳm sâu chính là quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật. Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật chính là Bát Nhã thẳm sâu. Như vậy, Bát nhã Ba la mật và quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật đều rất thẳm sâu vô cùng tận. Bạch Thế Tôn! Vì sao nói hai pháp này là vô tận?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Bát Nhã thẳm sâu và quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề như hư không vô cùng tận, cho nên nói là vô tận.

Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát làm sao lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát(1)?

Phật dạy:

- Các đại Bồ Tát quán sắc là vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát, quán thọ, tưởng, hành, thức là vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán mười hai xứ cho đến mười tám giới đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán nhãn xúc cho đến ý xúc đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán các cảm thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cho đến các cảm thọ do ý xúc làm duyên sanh ra đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán địa giới cho đến thức giới đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán vô minh cho đến lão tử đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán bố thí cho đến Bát nhã Ba la mật đều vô tận nên Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán nội không cho đến vô tính tự tính không đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán tất cả pháp Phật đều vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát quán sắc vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán thọ, tưởng, hành, thức vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; như vậy cho đến quán Nhất thiết trí trí vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát.

Lại nữa Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát quán vô minh duyên hành vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát, quán hành duyên thức vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán thức duyên danh sắc vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán danh sắc duyên lục xứ vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán lục xứ duyên xúc vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán xúc duyên thọ vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán thọ duyên ái vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán ái duyên thủ vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán thủ duyên hữu vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán hữu duyên sanh vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát; quán sanh duyên lão tử, lo buồn, thở than, khổ não đều vô tận như hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát.

Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát nào quán sát mười hai duyên khởi như vậy, nếu lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát, thì xa lìa được hai bên (nhị biên), các đại Bồ Tát khác sẽ không thể có được các diệu quán như thế.

Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát ngồi tòa kim cương dưới cội Bồ đề quán sát như thật về mười hai duyên khởi, ví như hư không vô tận, liền có thể chứng đắc Nhất thiết trí trí.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào dùng hạnh vô tận như hư không nương Bát nhã Ba la mật để dẫn phát, quán sát như thật về mười hai duyên khởi thì không rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác và mau chứng quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề.

Thiện Hiện! Hữu tình nào trụ Bồ Tát thừa, nếu đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề thối chuyển đều là do chẳng lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát. Do người ấy chẳng hiểu vì sao đại Bồ Tát tu hành Bát nhã Ba la mật năng đem hành trụ vô tận như hư không, nương Bát nhã Ba la mật để dẫn phát như thật quán sát mười hai duyên khởi.

Thiện Hiện! Các thiện nam, thiện nữ Bồ Tát thừa, nếu đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề mà có thối chuyển đều là do xa lìa phương tiện khéo léo lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát. Nếu đại Bồ Tát năng đối Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề được bất thối chuyển, là do lấy phương tiện khéo léo này. Đại Bồ Tát nhờ nương phương tiện khéo léo như thế tu hành Bát Nhã, đem hành trụ vô tận như hư không lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn phát, như thật quán sát mười hai duyên khởi, đại Bồ Tát này do nhân duyên đây mau được viên mãn Bát Nhã thẳm sâu.

Thiện Hiện! Lúc quán sát các pháp duyên khởi như vậy, các đại Bồ Tát chẳng thấy có pháp nào không do nhân mà sanh, chẳng thấy có pháp nào không do nhân mà diệt, chẳng thấy có pháp nào có tánh tướng thường còn không sanh, không diệt, chẳng thấy có pháp nào có ngã và hữu tình nói rộng cho đến người biết người thấy, chẳng thấy có pháp nào thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, có ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa.

Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát nên quán sát pháp duyên khởi như vậy để tu hành Bát nhã Ba la mật.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào quán sát như thật pháp duyên khởi để tu hành Bát Nhã thì đại Bồ Tát đó sẽ không thấy sắc là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa. Cũng không thấy thọ, tưởng, hành, thức, là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa. Như vậy, cho đến cũng không thấy Nhất thiết trí trí là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát tu hành Bát nhã Ba la mật thẳm sâu như thế, khi ấy đại Bồ Tát tuy hành Bát nhã Ba la mật mà chẳng thấy có sở hành, cũng chẳng thấy có năng hành, cũng chẳng thấy có “cái thấy” như thế. Tuy hành tĩnh lự, tinh tiến, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật mà chẳng thấy có năng, chẳng thấy có sở hành tĩnh lự cho đến bố thí Ba la mật, Cũng chẳng thấy có “cái thấy” như thế.

Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát lấy vô sở đắc làm phương tiện để thực hành Bát nhã Ba la mật. Đại Bồ Tát nào lấy vô sở đắc làm phương tiện để tu hành Bát nhã Ba la mật thì ác ma(2) rất buồn rầu, phiền não, oán hận, đau khổ như bị tên bắn vào tim. Giống như có người cha mẹ mới chết thì thân tâm đau đớn, ác ma cũng vậy. 

Lúc đó Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Chỉ có một ác ma thấy các đại Bồ Tát lấy vô sở đắc làm phương tiện để tu hành Bát nhã Ba la mật nên rất buồn rầu, phiền não, oán hận, đau khổ như bị tên bắn vào tim hay là tất cả ác ma ở khắp Tam thiên đại thiên thế giới cũng đều như vậy?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Tất cả ác ma khắp Tam thiên đại thiên thế giới đều như vậy, đều không thể ngồi yên ổn trên tòa của mình.

Thiện Hiện! Các đại Bồ Tát thường an trụ vào việc thực hành Bát Nhã thẳm sâu. Đại Bồ Tát nào có thể an trụ như vậy thì thế gian, trời, người, A tu la không thể tìm được chỗ yếu của họ, cũng không thể làm não loạn chướng ngại họ. Vì vậy, này Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào muốn đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề thì phải siêng năng an trụ việc thực hành Bát Nhã thẳm sâu.

Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào có thể an trụ việc thực hành Bát nhã Ba la mật thẳm sâu vi diệu thì có thể tu viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật. Đại Bồ Tát nào có thể tu hành chân chánh Bát Nhã thẳm sâu liền có thể tu đầy đủ viên mãn tất cả Ba la mật.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ Tát có thể tu hành chân chánh Bát nhã Ba la mật liền có thể tu tập viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Đại Bồ Tát nào tu hành đúng đắn Bát Nhã thẳm sâu, dùng tâm tương ưng với Nhất thiết trí trí mà thực hành bố thí, lại đem công đức bố thí này ban cho các hữu tình, rồi hồi hướng Nhất thiết trí trí thì đó là đại Bồ Tát có thể tu hành chân chánh Bát Nhã thẳm sâu, tu hành viên mãn bố thí Ba la mật.

Đại Bồ Tát nào tu hành đúng đắn Bát nhã Ba la mật, dùng tâm tương ưng với Nhất thiết trí trí để thực hành tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật, lại đem công đức của việc giữ tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật ban cho các hữu tình và cùng nhau hồi hướng Nhất thiết trí trí thì đó là đại Bồ Tát có thể tu hành Bát Nhã thẳm sâu, tu hành viên mãn tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã Ba la mật.

Như vậy, Thiện Hiện! Đại Bồ Tát nào có thể tu hành chân chánh Bát Nhã thẳm sâu liền có thể tu viên mãn bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự Ba la mật.

 

Thích nghĩa:

(1). Dẫn phát: Dẫn đến, đưa đến, đem lại.

(2). Ác ma (惡魔), Phạm: Màra. Dịch âm là Ma la. Chỉ loại ác thần, ác quỉ hay phá hoại tâm chí cầu đạo, ngăn trở việc thiện và phá hoại thân mệnh của mình và người. Tức cũng gọi chung những người ác, việc ác, thần ác quấy phá người tu hành. Các Kinh điển Nam, Bắc truyền, nhất là Kinh A Hàm, miêu tả rất tường tận và sinh động các việc ác ma quấy nhiễu thân tâm của đức Phật và các đệ tử. Như Kinh Tạp A Hàm quyển 39, đức Phật dùng kệ tụng thuyết minh cảnh giới ma (Đại 2, 290 thượng): Sắc, thụ, tưởng, hành, thức, phi ngã và ngã sở; nếu biết nghĩa chân thực, không đắm những thứ đó. Tâm không đắm trước pháp, vượt thoát sắc trói buộc, biết rõ tất cả chốn, không trú cảnh giới ma. Ác ma tương ứng (Pāli: Màrasaôyutta) trong Kinh Tương Ưng Bộ Nam truyền, cũng có ghi chép tương tự, và căn cứ theo các điều được trình bày trong đó, cũng có thể khảo sát tính cách của ác ma. Có lần, Ngài La Đà hỏi đức Phật: Thế nào là ác ma?. Đức Phật trả lời: Sắc (có hình) là ma, thụ (cảm giác) là ma, tưởng (biểu tượng) là ma, hành (sức cấu tưởng của ý chí) là ma, thức (tác dụng phán đoán) là ma. Mà phàm những cái tưởng tượng, thấy, nghe v.v... đều là nguồn gốc của sự chấp trước, cho nên đều có thể được coi là ma. Đức Phật thành đạo chưa được bao lâu, đang ngồi yên lặng tư duy dưới gốc cây Bồ đề, lúc ấy ác ma Ba tuần liền đến trước mặt quấy nhiễu, nó nói với đức Phật (Đại 2, 286 hạ): Cù Đàm nếu tự biết, đạo Niết Bàn an ẩn, vui một mình là tốt, tại sao cưỡng hóa người?. Bài kệ tụng này, trong Ác ma tương ưng của Tương Ưng Bộ là: Người đã liễu ngộ đạo bất tử yên ổn, một mình ngươi thực hành là được rồi, tại sao còn giáo hóa cho người khác, độ cho người khác? Ác ma tương ứng còn chép, một ngày nọ, đức Phật vào làng khất thực không được, mang bát trở về, Ác ma thấy thế bèn nói: Lần sau nếu đi xin, Đại sư chắc chắn sẽ có ăn. Đức Phật ngâm thơ, đáp: Tuy không có ăn, nhưng ta vẫn vui, như trời Quang Âm, nhờ vui mà sống. Có người bảo đây là đức Phật đối với thực dục, biểu hiện hai mặt tâm cảnh. Bài kệ trên đây, Kinh Tạp A Hàm quyển 3 (Đại 2, 288 thượng) chép là: Dù cho chẳng được gì, ta yên vui mà sống, như trời Quang Âm kia, thường ăn bằng thú vui. Dù cho chẳng được gì, yên vui mà tự sống; thường ăn bằng niềm vui, không tùy thuộc cái thân. Ác Ma Tương Ưng lại chép, có lần ác ma nói: Người có con nhờ con mà mừng, người có bò nhờ bò mà mừng, nhân người ta có cái nhờ cậy mới được vui mừng, nếu không có cái nhờ cậy, thì làm sao được vui mừng?. Đức Phật nghe vậy liền nói: Có con vì con mà lo, có bò vì bò mà lo; vì người ta có cái nhờ cậy nên lo, nếu không có cái nhờ cậy thì không lo. Hai quan điểm đối với thân tình và của cải có cái nhờ cậy thì mừng, có cái nhờ cậy thì lo hoàn toàn trái ngược nhau kể ở trên, bao nhiêu học giả giải thích là trong tâm đức Phật đã nảy sinh hai lớp tâm cảnh. Ngoài Kinh điển A Hàm ra, trong các Kinh luận khác như Kinh Phổ Diệu quyển 6 phẩm Hàng Ma, Kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 25, Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 13 phẩm Ma Sự, Kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm quyển 6, Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 7 phẩm Vãng Ni Liên Hà, quyển 9 phẩm Hàng Ma; luận Đại Tì Bà Sa quyển 44, quyển 197, luận Đại Trí Độ quyển 56, quyển 58 v.v... đều có chép nhiều về sự tích danh tướng và lời nói của ác ma (hoặc ma Ba Tuần) nhiễu hại đức Phật hoặc những người tu hành, và phá hoại các thiện pháp. (xt. Ba Tuần, Ma).

 

Sơ giải:

 

Mở đầu phẩm này, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- “Bạch Thế Tôn! Bát Nhã thẳm sâu chính là quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật. Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật chính là Bát Nhã thẳm sâu. Như vậy, Bát nhã Ba la mật và quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề của Phật đều rất thẳm sâu vô cùng tận. Bạch Thế Tôn! Vì sao nói hai pháp này là vô tận?

Phật bảo Thiện Hiện:

- Bát Nhã thẳm sâu và quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề như hư không vô cùng tận, cho nên nói là vô tận.

Vì tính cách bất tận đó nên Bát nhã Ba la mật mới có thể bao bọc che chở cho vô lượng phiền não của chúng sanh. Nghĩ như vậy, cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật: Làm thế nào đại Bồ Tát dùng Bát nhã Ba la mật để dẫn dắt chúng sanh?

Phật bảo: Các đại Bồ Tát phải quán sắc là vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn dắt; quán thọ, tưởng, hành, thức là vô tận nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn dắt; không những thế đại Bồ Tát phải quán tất cả pháp Phật như không gian vô tận nên lấy Ba nhã Ba la mật dẫn dắt chúng sanh.

Lại nữa, các đại Bồ Tát phải quán 12 duyên khởi từ vô minh duyên hành, từ hành duyên thức, từ thức duyên danh sắc, từ danh sắc… duyên lão tử cho đến lo buồn, than thở, khổ não đều vô tận như hư hư không nên lấy Bát nhã Ba la mật để dẫn dắt. 

 

Để giải thích điểm này, Đại Trí Độ Luận, phẩm thứ 67, “Bất Khả Tận”, tập 4, quyển 80, Đại thích Độ Luận bình giảng như sau:

“… Vì các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh là chẳng có định tướng; mà pháp chẳng có định tướng tức là pháp rốt ráo không, là tịch diệt tướng, là lìa cả hai bên, nên mới giả danh nói đến “trung đạo”. Nếu dùng pháp hư không bất khả tận, tức là dùng vô pháp, để quán 12 nhân duyên, thì cũng biết rõ “ si tánh” cũng do nhân duyên sanh, nên cũng chẳng có tự tướng, thì cũng là rốt ráo không, như hư không vậy.

Lại nữa, các pháp đều do nhân duyên hòa hợp sanh, nên là chẳng thật có. Như trong kinh nói, “Do mắt thấy trần mà khởi sanh niệm về xúc”. Thế nhưng “xúc niệm” ấy là do “si tâm” sanh ra, chẳng phải ở nơi sắc trần, chẳng phải ở nơi nội tâm, chẳng phải ở nơi ngoại cảnh, cũng chẳng phải ở chặng giữa, nên là bất khả đắc. Vì sao? Vì các pháp đều là “như tâm”. Người có trí huệ biết rõ phàm phu, do bị vô minh che tâm trí, mà chấp có “si tánh”; biết rõ thật tướng của si mê, chính là thật tướng của trí huệ. Phàm phu, do chấp tướng, mà thành si mê, mà chẳng biết rằng “si mê” và “trí huệ”, ở nơi thật tướng, vốn thanh tịnh, là như hư không. Bởi vậy, nên nói, “Người quán được như vậy mà hồi hướng về Nhất thiết chủng trí, đó là người hành Bát nhã Ba la mật”.

Đó là chỗ khó thấy của chúng sanh. Vì “Si mê” theo tri thức thường nghiệm là phải có đối tượng tức phải duyên cảnh. Nhưng Luận lại nói theo đệ nhất nghĩa đế: “biết rõ thật tướng của si mê, chính là thật tướng của trí huệ. Phàm phu, do chấp tướng, mà thành si mê, mà chẳng biết rằng “si mê” và “trí huệ”, ở nơi thật tướng, vốn thanh tịnh, là như hư không”. Đó là chỗ khó giác. Nên LUẬN đặt câu hỏi:

Hỏi: Nếu nói chẳng có vô minh (kinh bảo vô minh không), chẳng có hành… thì như vậy vì sao lại nói đến 12 nhân duyên?

Đáp: Ở đây, phải xét “12 nhân duyên” theo 3 trường hợp khác nhau. Đó là:

1. Phàm phu dùng nhục nhãn chỉ thấy một cách điên đảo. Do tâm chấp ngã, chấp pháp, mà phải qua lại trong 6 đường sanh tử.

2. Chư Thánh Hiền (tức nói về quan niệm của Nhị thừa: Thanh văn và Duyên giác) dùng pháp nhãn phân biệt các pháp, nên nhàm chán sanh tử, muốn ra khỏi thế gian, vì biết rõ nhân duyên phiền não kết thành nghiệp mà có “sanh”; trái lại, nếu chẳng có phiền não thì cũng chẳng có “sanh”(Nhị thừa nói về nghiệp, Bồ Tát thừa không nói đến phước-nghiệp). Lại nữa, do biết rõ nhân duyên sanh ra phiền não là vô minh, nên phải xả; biết rõ nhân duyên tu trì giới, thiền định, trí huệ là gốc của thiện căn dẫn đến Niết Bàn, nên phải thủ. Lại nữa, do biết rõ các pháp chẳng có định tướng, theo nhân duyên mà hư vọng tương tục sanh, nên xả các chấp về tri giả, kiến giả. Người tu hành biết rõ các pháp đều là hư giả, chẳng thật có, nên chẳng khởi sanh hý luận. Do vậy mà diệt được các khổ.

3. Chư vị đại Bồ Tát (tức nói về quan niệm của Bồ Tát thừa) là những bậc lợi căn, thượng trí, quán rõ căn bản của 12 nhân duyên, nên chẳng lo, chẳng sợ; biết rõ các pháp chẳng có định tướng, đều là rốt ráo không, chỉ giả danh có; biết rõ do khởi tâm phân biệt mới có các pháp tướng, mà các pháp tướng đều là bất khả đắc cả. Ví như nói đầu tóc bạc là tướng già, nhưng tướng đầu tóc bạc và tướng già đều là bất khả đắc cả, nên là chẳng có tướng già vậy. Người thế gian thường nói người già có đầu bạc, răng long, mặt nhăn, cơ thể suy nhược, các căn ám độn v.v…, nhưng thật ra tướng già chẳng phải hoàn toàn là như vậy. Vì sao? Vì đầu bạc chẳng phải chỉ người già mới có, mà rất nhiều người trẻ cũng có; lại có người già mà còn sáng suốt, lanh lợi, trong lúc đó có rất nhiều người trẻ ám độn, si mê; lại có người già mà vẫn còn mạnh mẽ, tráng kiện, trong lúc đó có rất nhiều người trẻ suy nhược, gầy yếu. Như vậy là “già” và “trẻ” đều chẳng có định tướng, chỉ do các nhân duyên hòa hợp, mà giả danh có tướng già hay tướng trẻ đó thôi.

Lại có thuyết nói, “Tướng hoại của 5 ấm là tướng già”. Cũng chẳng phải là như vậy. Vì sao? Vì hết thảy pháp hữu vi đều niệm sanh diệt, chẳng có trú, nên là vô tướng; nếu các pháp chẳng có tướng, thì chẳng có tướng già vậy. Còn nếu nói các pháp hữu vi có trú, thì chẳng phải là vô thường, nếu chẳng phải vô thường thì tức là thường; nếu là thường thì chẳng có phân biệt già với trẻ; nếu các pháp chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thì là rốt ráo không, mà trong rốt ráo không, thì chẳng có tướng sanh, huống nữa là tướng già, nên là chẳng có già hay trẻ vậy.

Như vậy là Bồ Tát biết rõ hết thảy các nhân duyên cầu pháp đều là bất khả đắc; vì là bất khả đắc, nên là vô tướng, là như hư không; vì là bất khả đắc, nên là bất khả tận. Tất cả 12 nhân duyên, từ vô minh… dẫn đến lão tử đều là như vậy cả.

Bởi vậy nên muốn phá vô minh, Bồ Tát quán các pháp đều là rốt ráo không, là vô sở hữu, là bất khả đắc, mà cũng chẳng sanh tâm chấp các pháp là như vậy, nên ở nơi hết thảy chúng sanh thường trải rộng tâm đại bi, chẳng rời bỏ chúng sanh vậy”.

Đoạn luận này rất thậm thâm, khó hiểu, nên Quý vị phải nắm lấy ba quan niệm: 1. Của chúng sanh, 2. Của Nhị thừa và 3. Của Bồ Tát thừa thì mới có thể hiểu lối giải thích tại sao 12 nhân duyên là bất khả đắc, là bất khả khả tận để “giải thích cái vô tận của Bát nhã Ba la mật như hư không”.

Đại Trí Độ Luận giải thích tiếp:

Những lời giải bày trên đây cho thấy rõ phàm phu, Nhị Thừa và Bồ Tát có cách nhìn hoàn toàn khác nhau về 12 nhân duyên:

- Phàm phu, do ngu si, nên ở các pháp hư vọng mà khởi các chấp điên đảo, khiến phải thọ bao nhiêu khổ não, chẳng sao thoát ra khỏi chu trình khép kín (vòng luân hồi không kẽ hở) của 12 nhân duyên được.

- Hàng Nhị Thừa, do chưa được vào vô sanh pháp nhẫn, nên ở nơi 12 nhân duyên, chẳng rốt ráo cầu CÓ, hay cầu KHÔNG.

- Bồ Tát, từ khi vào được vô sanh pháp nhẫn… dẫn đến khi tọa đạo tràng, thường dùng pháp hư không bất khả tận để quán 12 nhân duyên, từ vô minh… dẫn đến lão tử, đều bất khả đắc, đều là như hư không bất khả tận. Bồ Tát hành Bát nhã Ba la mật, thâm quán 12 nhân duyên như vậy, nên ly được cả 2 biên điên đảo, ly CÓ và cũng ly KHÔNG, ly thường và cũng ly đoạn”.

 

--o0o--

 

Ở nơi đây, cũng nên biết có 2 loại phiền não:

- Hàng ngoại đạo, do tà kiến chấp, mà sanh phiền não.

- Chúng sanh, do si mê điên đảo, mà sanh phiền não. Khi Bồ Tát, tọa đạo tràng, dùng pháp hư không bất khả tận, quán 12 nhân duyên như đã nói trên đây, thì cả hai loại phiền não đều diệt sạch. Bởi vậy, nên nói pháp quán 12 nhân duyên như vậy là thâm pháp. Trong kinh Thí Dụ, Phật dạy rằng, “Khi chưa được đạo, ta tư duy về trường hợp đáng thương xót của chúng sanh cứ mãi qua lại trong các đường sanh tử, mà chẳng sao tìm được lối thoát”. Tức thời, ta tự nghĩ, “Vì nhân duyên gì mà có sanh, già, bệnh, chết? Từ đó, ta tầm cầu được thật trí huệ bằng 3 pháp quán, đó là quán không, quán giả, và quán trung đạo. Đến khi tọa đạo tràng, ta mới đầy đủ 3 pháp quán đó”.

Phật quán các pháp nhân duyên như vậy, nên vượt trên hàng Nhị Thừa, thẳng đến Nhất thiết chủng trí. Nếu người cầu Phật đạo, mà chẳng tu được pháp quán thậm thâm này, thì sẽ bị thối tâm; trái lại, nếu tu được pháp quán này, thì sẽ chẳng bị thối tâm.

Vì sao? Vì khi đã thâm nhập được vào nơi rốt ráo không, mà chẳng trú trong không, để quán các nhân duyên sanh pháp, thì chẳng thấy bất cứ pháp nào mà chẳng do nhân duyên hòa hợp sanh ra cả. Nhưng nếu biết rõ các pháp đều chẳng tự tại, đều do nhân duyên sanh, mà tà chấp về nhân duyên, chẳng thấy được rằng nhân duyên sanh cũng là “vô nhân duyên sanh”, là như hư không bất khả tận, thì như vậy cũng chẳng thấy rõ được thật tướng các pháp vậy.

Bồ Tát quán biết các pháp đều do nhân duyên sanh là chẳng tự tại, mà chẳng chấp về nhân duyên sanh pháp, nên biết rõ các pháp đều chẳng có ngã… dẫn đến chẳng có tri giả, kiến giả.

Bồ Tát quán 12 nhân duyên như vậy, nên an trú trong rốt ráo không; ở trong 12 nhân duyên, Bồ Tát chẳng thấy có sắc, chẳng thấy có Bát nhã Ba la mật, chẳng thấy có dụng hành Bát nhã Ba la mật, chẳng thấy có hành Bát nhã Ba la mật mà được Vô Thượng Bồ Đề. Như vậy gọi là Bồ Tát dụng vô sở đắc hành Bát nhã Ba la mật, được vô sở đắc Bát nhã Ba la mật, nên ở nơi hết thảy pháp đều được vô quái ngại”.

 

Phần sau đặt câu hỏi thế nào “hành Bát nhã Ba la mật như vậy mà được đầy đủ các Ba la mật khác?” Đại Trí Độ Luận giải thích tiếp:

“Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật: Vì sao hành Bát nhã Ba la mật như vậy mà được đầy đủ các Ba la mật khác?

Phật dạy: Khi hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, nếu có được bao nhiêu công đức, Bồ Tát đều hồi hướng về Nhất thiết chủng trí. Như vậy là hành Bát nhã Ba la mật được đầy đủ các Ba la mật khác.

Ví như người lợi căn khi hành bố thí, dù nhiều hay ít, đều đem công đức bố thí hồi hướng về Nhất thiết chủng trí, nhằm phá các hý luận điên đảo. Khi đã được đầy đủ tín lực nơi pháp “không” rồi, thì chẳng còn niệm Nhất thiết chủng trí nữa, mà chỉ trực nhập vào thật tướng pháp.

Nên biết có 2 hạng người chẳng được đầy đủ Đàn Ba la mật. Đó là:

- Người có tín lực nhiều mà huệ lực ít.

- Người có huệ lực nhiều mà tín lực ít.

Bởi vậy, nên Phật dạy: Phải có tín lực và huệ lực bình đẳng, mới có thể hồi hướng Nhất thiết chủng trí được.

Niệm Nhất thiết chủng trí là phương tiện dẫn sanh tín lực. Y theo Nhất thiết chủng trí mà hồi hướng là phương tiện dẫn sanh huệ lực. Đối với Bát nhã Ba la mật cũng là như vậy”.

 

Chúng tôi gần như trích dẫn toàn thể phẩm để quý vị cùng với chúng tôi học hỏi thêm. Cố gắng trì tụng nhiều lần mới có thể thâm nhập được. Chúng ta may mắn được bậc thượng thừa chỉ dẫn thì mau tiến bộ./.

 

---o0o---

 

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
103,424,684