Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

29. Phẩm “Tùy Thuận”

21/12/202012:35(Xem: 3725)
29. Phẩm “Tùy Thuận”

 TỔNG LUẬN
 KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2022

***
buddha-505


 

XXIX. PHẨM “TÙY THUẬN”

(Quyển 555, Hội thứ IV, TBBN).

 

Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu
Diễn đọc: Cư sĩ Quảng Tịnh, Cư sĩ Quảng Thiện Duyên
Lồng nhạc: Cư sĩ Quảng Phước, Cư sĩ Quảng Thiện Hùng Jordan Le

 

 

Tóm lược:

  

Quyển thứ 555

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Các Bồ Tát nên quán các pháp không hòa hợp để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không phân biệt để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không hoại để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không biến đổi để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không biểu thị để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp theo giác huệ (hiểu biết) để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp chỉ có giả danh để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp chỉ là lời nói thi thiết để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp chỉ giả tạo, không nơi chốn, không thời gian, cũng không thật sự có thể tuyên thuyết để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp chỉ có tánh-tướng-thể-dụng hư giả để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán sắc uẩn không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thọ, tưởng, hành, thức uẩn không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán mười hai xứ, mười tám giới không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán địa giới không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thủy, hỏa, phong, không, thức giới không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán nhân duyên không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán vô minh không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không tướng trạng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán tướng thông đạt các pháp để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán sự thanh tịnh của bản tánh các pháp để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không nói năng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không sanh v.v... để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không diệt v.v... để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp Niết bàn v.v... để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp chơn như v.v... để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không đến đi để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không mình và người để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán các pháp mình và người để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp bản tánh tịnh của phàm phu và Thánh để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán vứt bỏ gánh nặng, không phát triển lợi ích các pháp nữa để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không phương xứ để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì bản tánh sắc uẩn không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh thọ, tưởng, hành, thức uẩn không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh mười hai xứ, mười tám giới không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh địa giới không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh thủy, hỏa, phong, không, thức giới không phương hướng, không nơi chốn. Bản tánh nhân duyên không phương hướng, không nơi chốn. Bản tánh đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh vô minh không phương hướng, không xứ sở. Bản tánh hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não không phương hướng, không xứ sở.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên quán pháp tịch diệt, an lạc để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán pháp không ái, không lìa ái để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán pháp không nhiễm, không lìa nhiễm để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì tánh chơn thật của sắc uẩn không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của thọ, tưởng, hành, thức uẩn không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của mười hai xứ, mười tám giới không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của địa giới không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của thủy, hỏa, phong, không, thức giới không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của nhân duyên không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của vô minh không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não không nhiễm, không lìa nhiễm.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên quán các pháp hoàn toàn thanh tịnh để tùy thuận Bát nhã Ba la mật .

Nên quán các pháp không dính mắc, lìa dính mắc để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp giác ngộ Bồ đề và Phật trí để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp không, vô tướng, vô nguyện để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp lương dược từ bi là đứng đầu để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp từ trú, phạm trú không chấp thủ, không vượt qua để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán các pháp đối với các hữu tình không giận, không hờn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán biển cả không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán hư không không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán sắc uẩn lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thọ, tưởng, hành, thức uẩn lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán mười hai xứ, mười tám giới lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán địa giới lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thủy, hỏa, phong, không, thức giới lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán nhân duyên lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán vô minh lìa các tướng để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não lìa các tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán sắc uẩn không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thọ, tưởng, hành, thức uẩn không giới hạn để tùy thuận nhã Ba la mật. Nên quán mười hai xứ không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán mười tám giới không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán địa giới không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán thủy, hỏa, phong, không, thức giới không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán nhân duyên không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán vô minh không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Nên quán hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. (Q.555, TBBN)

Nên quán ánh sáng mặt trời chiếu soi không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tất cả âm thanh không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tất cả hữu tình không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán pháp lành chứa nhóm không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán các pháp đắc định không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tất cả Phật pháp không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tất cả pháp không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tánh Không không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tất cả tâm và tâm sở không giới hạn để tùy thuận Bát Nhã. Nên quán tâm hành không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

Nên quán pháp lành không chuyển biến để tùy thuận Bát Nhã.

Nên quán pháp bất thiện vô lượng để tùy thuận Bát Nhã.

Nên quán tất cả pháp như Sư tử rống để tùy thuận Bát Nhã.

Vì sao? Vì sắc uẩn như biển lớn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như biển lớn. Mười hai xứ, mười tám giới như biển lớn. Địa giới như biển lớn. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như biển lớn. Nhân duyên như biển lớn. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như biển lớn. Vô minh như biển lớn. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như biển lớn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như hư không. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như hư không. 12 xứ, 18 giới như hư không. Địa giới như hư không. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như hư không. Nhân duyên như hư không. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như hư không. Vô minh như hư không. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như hư không.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Thọ, tưởng hành, thức như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Mười hai xứ, mười tám giới như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Địa giới như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Nhân duyên như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Vô minh như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử, sầu thán, khổ, ưu não như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như mặt trời sanh ra ánh sáng. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như mặt trời sanh ra ánh sáng. Mười hai xứ, mười tám giới như mặt trời sanh ra ánh sáng. Địa giới như mặt trời sanh ra ánh sáng. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như mặt trời sanh ra ánh sáng. Nhân duyên như mặt trời sanh ra ánh sáng. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như mặt trời sanh ra ánh sáng. Vô minh như mặt trời sanh ra ánh sáng. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như mặt trời sanh ra ánh sáng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như âm thanh không giới hạn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như âm thanh không giới hạn. Mười hai xứ, mười tám giới như âm thanh không giới hạn. Địa giới như âm thanh không giới hạn. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như âm thanh không giới hạn. Nhân duyên như âm thanh không giới hạn. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như âm thanh không giới hạn. Vô minh như âm thanh không giới hạn. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như âm thanh không giới hạn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như hữu tình giới không giới hạn. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như hữu tình giới không giới hạn. Mười hai xứ, mười tám giới như hữu tình giới không giới hạn. Địa giới như hữu tình giới không giới hạn. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như hữu tình giới không giới hạn. Nhân duyên như hữu tình giới không giới hạn. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như hữu tình giới không giới hạn. Vô minh như hữu tình giới không giới hạn. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như hữu tình giới không giới hạn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như đất không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như đất không biên giới. 12 xứ, 18 giới như đất không biên giới. Địa giới như đất không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như đất không biên giới. Nhân duyên như đất không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như đất không biên giới. Vô minh như đất không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như đất không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như nước không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như nước không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới như nước không biên giới. Địa giới như nước không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như nước không biên giới. Nhân duyên như nước không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như nước không biên giới. Vô minh như nước không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như nước không biên giới. (Q.555, TBBN)

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như lửa không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như lửa không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới như lửa không biên giới. Địa giới như lửa không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như lửa không biên giới. Nhân duyên như lửa không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như lửa không biên giới. Vô minh như lửa không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như lửa không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như gió không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như gió không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới như gió không biên giới. Địa giới như gió không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như gió không biên giới. Nhân duyên như gió không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như gió không biên giới. Vô minh như gió không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như gió không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như hư không không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như hư không không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới như hư không không biên giới. Địa giới như hư không không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như hư không không biên giới. Nhân duyên như hư không không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như hư không không biên giới. Vô minh như hư không không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu bi, khổ, ưu não như hư không không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn lìa tướng họp thiện. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn lìa tướng họp thiện. Mười hai xứ, mười tám giới lìa tướng họp thiện. Địa giới lìa tướng họp thiện. thủy, hỏa, phong, không, thức giới lìa tướng họp thiện. Nhân duyên lìa tướng họp thiện. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên lìa tướng họp thiện. Vô minh lìa tướng họp thiện. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não lìa tướng họp thiện.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn lìa tướng họp pháp. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn lìa tướng họp pháp. Mười hai xứ, mười tám giới lìa tướng họp pháp. Địa giới lìa tướng họp pháp. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới lìa tướng họp pháp. Nhân duyên lìa tướng họp pháp. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên lìa tướng họp pháp. Vô minh lìa tướng họp pháp. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não lìa tướng họp pháp.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như định không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như định không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới như định không biên giới. Địa giới, như định không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như định không biên giới. Nhân duyên như định không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như định không biên giới. Vô minh như định không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như định không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn, lìa tự tánh sắc uẩn, sắc uẩn như là Phật pháp. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn lìa tự tánh thọ uẩn v.v..., thọ uẩn như v.v... là Phật pháp. Mười hai xứ, lìa tự tánh mười hai xứ, mười hai xứ như là Phật pháp. Mười tám giới lìa tự tánh mười tám giới, mười tám giới như là Phật pháp. Địa giới lìa tự tánh địa giới, địa giới như là Phật pháp. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới, lìa tự tánh thủy hỏa phong giới v.v..., thủy, hỏa, phong giới như v.v... là Phật pháp. Nhân duyên lìa tự tánh nhơn duyên, nhân duyên như là Phật pháp. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên lìa tự tánh đẳng vô gián duyên v.v... đẳng vô gián duyên như v.v... là Phật pháp. Vô minh lìa tự tánh vô minh, vô minh như là Phật pháp. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não, lìa tự tánh hành v.v..., hành thức như v.v... là Phật pháp.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn, pháp tánh không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn, pháp tánh không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới pháp tánh không biên giới. Địa giới, pháp tánh không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới, pháp tánh không biên giới. Nhân duyên, pháp tánh không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên, pháp tánh không biên giới. Vô minh, pháp tánh không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não, pháp tánh không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn Không, pháp tánh không biên giới. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn Không, pháp tánh không biên giới. Mười hai xứ, mười tám giới Không, pháp tánh không biên giới. Địa giới Không, pháp tánh không biên giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới Không, pháp tánh không biên giới. Nhân duyên Không, pháp tánh không biên giới. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên Không, pháp tánh không biên giới. Vô minh Không, pháp tánh không biên giới. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não Không, pháp tánh không biên giới.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh sắc uẩn vậy. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh thọ uẩn v.v... Mười hai xứ, mười tám giới, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh mười hai xứ, mười tám giới vậy. Địa giới, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh địa giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh thủy hỏa phong giới v.v... Nhân duyên, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh nhân duyên. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh đẳng vô gián duyên v.v... Vô minh, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh vô minh. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh hành v.v...

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Mười hai xứ, mười tám giới thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Địa giới thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Nhân duyên thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Vô minh thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não thiện bất thiện cho đến bất khả đắc.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn không động. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn không động. Mười hai xứ, mười tám giới không động. Địa giới không động. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới không động. Nhân duyên không động. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên không động. Vô minh không động. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não không động.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc uẩn như sư tử rống. Thọ, tưởng, hành, thức uẩn như sư tử rống. Mười hai xứ, mười tám giới như sư tử rống. Địa giới như sư tử rống. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới như sư tử rống. Nhân duyên như sư tử rống. Đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên như sư tử rống. Vô minh như sư tử rống. Hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu thán, khổ, ưu não như sư tử rống.

Thiện Hiện nên biết! Các đại Bồ Tát nếu có thể tư duy, quán sát, giác ngộ các uẩn như vậy thì tùy thuận Bát Nhã, liền có thể xa lìa ý nghĩ dua nịnh. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ kiêu ngạo. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ khen mình. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ chê người. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ ngã tưởng. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ danh lợi. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ năm triền cái, tham lam ganh ghét. Nhờ vậy, cũng có thể được viên mãn tất cả công đức chơn tịnh hiếm có, khó đạt được; cũng có thể được viên mãn việc làm tốt đẹp và thanh tịnh cõi Phật. Cũng có thể viên mãn Phật pháp vô thượng, đó là quả vị Vô Thượng Bồ đề.

Khi đức Thế Tôn thuyết Kinh này xong, đại Bồ Tát Từ Thị làm thượng thủ, vô lượng đại Bồ Tát cùng cụ thọ Thiện Hiện và Xá lợi Tử, A Nan Đà, các Đại Thanh văn cùng các trời, rồng, A tu la v.v... Tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều rất hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

 

Lược giải:

 

Đây là phẩm cuối cùng của Hội thứ IV, mục đích nói lên phạm trù hoạt dụng và hiệu năng của Bát nhã Ba la mật trong việc hướng dẫn chúng sanh trong việc tầm cầu Giác ngộ. Không phải Bát nhã Ba la mật cố đem lại xác tín cho hành giả Bát nhã Ba la mật bằng những tưởng tượng bốc cao của nó mà những chỉ dẫn của Bát nhã Ba la mật là kết quả vững chắc do trực giác thực chứng tạo thành! Bát nhã Ba la mật bảo Bồ Tát:

- Phải quán các pháp không hòa hợp để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Phải quán các pháp không phân biệt, không hoại, không có tướng tạo tác, không có ngã, không biểu thị để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Bồ Tát phải quán biết các pháp chỉ là giả danh, chỉ là lời nói thi thiết, không nơi chốn, không thời gian, cũng không thật sự có thể tuyên thuyết, chỉ có tánh-tướng-thể-dụng hư giả, không giới hạn, không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

- Phải quán uẩn xứ giới không hạn lượng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Phải quán các pháp không tướng trạng, pháp không nói năng, không sanh không diệt, không đến không đi, không mình người, không phương xứ để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì bản tánh của uẩn xứ giới không phương hướng, không xứ sở; bản tánh của các đại chủng cũng không phương hướng, không xứ sở; bản tánh của 4 duyên và thập nhị nhân duyên cũng không phương hướng, không xứ sở để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

- Lại nữa, phải quán các pháp tịch diệt, an lạc để tùy thuận Bát nhã Ba la mật, các pháp không ái không lìa ái, pháp không nhiễm không lìa nhiễm để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì tánh chơn thật của uẩn xứ giới không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của các đại chủng không nhiễm, không lìa nhiễm. Tánh chơn thật của các duyên không nhiễm, không lìa nhiễm.

- Phải quán các pháp hoàn toàn thanh tịnh để tùy thuận Bát nhã Ba la mật; nên quán các pháp không dính mắc lìa dính mắc; các pháp giác ngộ Bồ đề và Phật trí; pháp không, vô tướng, vô nguyện để tùy thuận Bát nhã Ba la mật; pháp như lương dược lấy từ bi hỷ xả làm đầu; các pháp không lỗi không lấy, không chấp thủ, không vượt để tùy thuận Bát nhã Ba la mật; pháp đối với các hữu tình không giận, không hờn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

- Phải quán uẩn xứ giới lìa tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật; nên quán các đại chủng lìa tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật; nên quán các duyên lìa tướng để tùy thuận Bát nhã Ba la mật.

- Phải quán uẩn xứ giới không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật, phải quán các đại chủng không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Phải quán ánh sáng mặt trời chiếu soi, tất cả âm thanh, tất cả hữu tình, pháp lành chứa nhóm không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Phải quán các pháp đắc định, tất cả Phật pháp, tất cả pháp… không giới hạn để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Phải quán tánh Không không giới hạn, tất cả tâm và tâm sở, tâm hành, pháp lành không chuyển biến, pháp bất thiện vô lượng, tất cả pháp như Sư tử rống để tùy thuận Bát nhã Ba la mật. Vì sao? Vì uẩn xứ giới như biển lớn. Các đại chủng cũng như biển lớn. Tất cả các duyên cũng như biển lớn.

- Lại nữa, uẩn xứ giới như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Các đại chủng như núi Diệu Cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp. Các duyên như núi Diệu cao, trang sức bằng các thứ xinh đẹp.

- Các uẩn xứ giới như mặt trời sanh ra ánh sáng. Các đại chủng như mặt trời sanh ra ánh sáng. Các duyên cũng như vậy.

- Các uẩn xứ giới như đất, nước, gió, lửa, hư không không biên giới. Các đại chủng cũng như đất, nước, gió, lửa, hư không không biên giới. Các duyên cũng như đất, nước, gió, lửa, hư không không biên giới.

- Lại nữa, các uẩn xứ giới lìa tự tánh uẩn xứ giới, uẩn xứ giới như là Phật pháp. Các đại chủng lìa tự tánh các đại chủng, các đại chủng như là Phật pháp. Các duyên lìa tự tánh các duyên, các duyên như là Phật pháp. Các uẩn xứ giới pháp tánh không biên giới. Các đại chủng pháp tánh cũng không biên giới. Các duyên pháp tánh cũng không biên giới. Các uẩn xứ giới Không, pháp tánh không biên giới. Các đại chủng Không, pháp tánh không biên giới. Các duyên Không, pháp tánh không biên giới. Các uẩn xứ giới, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh ra uẩn xứ giới vậy. Các đại chủng, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh ra uẩn xứ giới vậy. Các duyên, tâm không biên giới, vì tâm hành sanh ra uẩn xứ giới vậy. Các uẩn xứ giới thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Các đại chủng thiện bất thiện cho đến bất khả đắc. Các duyên thiện bất thiện cho đến các đại chủng bất khả đắc. Các uẩn xứ giới không động. Các đại chủng không động. Các duyên cũng không động v.v...

Do đó, Phật bảo Thiện Hiện:

- “Thiện Hiện nên biết! Các đại Bồ Tát nếu có thể tư duy, quán sát, giác ngộ các uẩn xứ giới như vậy thì tùy thuận Bát nhã Ba la mật, liền có thể xa lìa ý nghĩ dua nịnh. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ kiêu ngạo. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ khen mình, chê người. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ ngã tưởng. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ danh lợi. Cũng có thể xa lìa ý nghĩ năm triền cái, tham lam ganh ghét. Nhờ vậy, cũng có thể được viên mãn tất cả công đức chơn tịnh hiếm có khó đạt được; cũng có thể được viên mãn việc làm tốt đẹp và thanh tịnh cõi Phật. Cũng có thể viên mãn Phật pháp vô thượng, đó là quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề”.

Thật ra khó có thể luận giảng hết toàn bộ phẩm “Tùy Thuận” này vì phạm vi của nó quá rộng. Đó là những đặc tánh kỳ diệu của Bát nhã Ba la mật gồm thâu tất cả trong 7 đại 18 giới bao la, không biên giới, không ngằn mé, không hạng lượng... Bát nhã Ba la mật cũng bao la, không biên giới, không ngằn mé, không hạng lượng... Tất cả càn khôn vũ trụ như thế nào thì Bát nhã Ba la mật như thế đó. Bát Nhã sâu xa thu nhiếp tất cả pháp. Vậy muốn tùy thuận Bát nhã Ba la mật thì phải học tất cả đặc tánh của tất cả các pháp như trên.

Chúng tôi chỉ lược tóm những gì mà Bát nhã Ba la mật đã liệt kê, nhưng không thể liệt kê hết tất cả những gì mà chư Phật chứng biết. Tuy nhiên, nét chính của phẩm này xoay quanh uẩn xứ giới, 7 đại và tất cả duyên, nghĩa là nói về năng duyên, sở duyên đối với con người hay nói khác là những liên hệ về vật chất hay tinh thần giữa con người với thế giới chung quanh. Từ 7 đại và 18 giới mà sanh ra thiên sai vạn biệt, cũng từ 7 đại và 18 giới mà đem lại Giác ngộ, viên mãn các công đức chơn tịnh, viên mãn Phật pháp vô thượng, chứng quả Bồ đề! Vì sao? Vì thức đại gồm nhiếp 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức); kiến đại gồm nhiếp 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); ngũ đại (hỏa đại, phong đại, thủy đại, địa đại, không đại) gồm nhiếp trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Tóm lại, rốt ráo mà nói: 7 đại 18 giới đều thu nhiếp vào 6 căn. Nên Phật bảo sinh tử hay an lạc đều do 6 căn này.

Phật thi thiết nói về uẩn xứ giới với mục đích chỉ cho chúng sanh hiểu biết ảnh hưởng của chúng trong đời sống vật chất cũng như tâm linh. Uẩn xứ giới không có trong bất cứ khoa học nào thuộc về nhân văn nào. Chúng chỉ là những thi thiết do Phật tạo ra để diễn tả cái điên đảo phiền muộn, tạo thức vọng phân biệt chấp trước rồi từ đó sanh ra thi vi tạo tác, mà tạo nghiệp nên chịu luân hồi sanh tử. Nhưng chúng sanh nhờ thấy biết cái tai hại của chúng mới tìm cách xa lìa. Nhờ xa lìa tâm mới được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh còn gọi là Niết bàn hay giải thoát.

Như vậy, chúng ta có thể kết luận được chưa: Uẩn xứ giới có thể xem như con dao hai lưỡi nó cắt dùm ta mà cũng cắt phải tay ta? Nó có cả hai mặt thiện và ác: Ác là đưa ta vào địa ngục và thiện là đưa ta vào Niết bàn. Đó là nói theo Tục đế. Nói theo đệ nhất nghĩa đế: Uẩn xứ giới là Nhất thiết trí trí, uẩn xứ giới cũng là Vô Thượng Bồ đề, uẩn xứ giới cũng được xem mắt tuệ của chư Phật.

Đây là sự hiểu biết căn bản về uẩn xứ giới đối với tất cả pháp, có ảnh hưởng trực tiếp trên hai mặt vật chất lẫn tinh thần trong đời sống của chúng sanh. Biết như vậy rồi tu học, thì có thể cải thiện tâm linh.

Quan sát tác dụng của uẩn xứ giới và ảnh hưởng của chúng đối với đời sống con người là một chuỗi dài của Phân tâm học. Lập cước của Phật đạo cũng giống như khoa Nhân văn, khoa Tâm lý học hay Đạo đức học, chỉ khác nhau ở phần tín ngưởng như một số người quan niệm. Nếu quán sát, tư duy muôn sự muôn vật để tùy thuận Bát nhã Ba la mật theo khía cạnh tôn giáo và triết học với các chỉ dẫn như trên để tu, để học, để hành thì có thể nhập Phật đạo, Giác ngộ được Chánh giác. Có Giác ngộ, Chánh giác rồi thì đâu đâu cũng là hoa vàng, đâu đâu cũng là Bát Nhã. Nên có câu:

 

“Thanh thanh thúy trúc tổng thị chân như,

uất uất hoàng hoa vô phi Bát Nhã”. 

 

Lưu ý:

Chúng tôi không muốn chiết giải phẩm này, vì có nhiều giáo lý đã luận giải ở các Hội trước, nên không muốn trùng tu nữa. Xin quý vị quay lại các phẩm liên hệ tham cứu nhất là phẩm “Bất Khả Đắc”, Hội thứ II, ĐBN nếu muốn!

 

---o0o---

 

 

Đến đây chấm dứt phần bốn,

(Hội thứ IV).

 

Có thể xem Tiểu bản này như là phần tóm lược của các pháp hội trước. Muốn rộng đường nghiên cứu nên đọc toàn bộ Đại Bát Nhã do HT Thích Trí Nghiêm dịch, nếu không có đủ thời giờ, đọc phần bốn, Hội thứ IV này cũng tạm đủ. Tuy nhiên, “Tiểu Bản Bát Nhã” này dịch thiếu ba phẩm “Bồ Tát Thường Đề”, “Bồ Tát Pháp Dũng” và “Kết Khuyến”. Để bổ túc cho sự thiếu sót này, Quý vị có thể quay lại Hội thứ I, đọc quyển 398 nói về “Bồ Tát Thường Đề”, quyển 399 nói về “Bồ Tát Pháp Dũng” và  quyển 400 nói về “Kết Khuyến”.

Kinh “Tiểu Bản Bát Nhã” do nhóm của Ngài Huyền Trang sao lại và Kinh “Phật Thuyết Phật Mẫu Xuất Sanh Tam Pháp Tạng Bát Nhã Ba La Mật Đa”(viết tắt là Phật Mẫu Bát Nhã Kinh) do Ngài Thí Hộ dịch giống nhau như hai giọt nước, chỉ trừ “Tiểu Bản Bát Nhã” thiếu ba phẩm như đã nói trên. Các phẩm khác của hai Kinh rất tương xứng nhau. Chỉ có điểm khác biệt đáng nói là lối hành văn của Phật Mẫu Bát Nhã rất lưu loát, phô diễn các giáo lý rõ ràng, tác giả cố ý làm nổi bật những gì mà tác giả muốn diễn đạt. Về văn từ, chương cú lại có phần tỉnh lược thanh thoát hơn so với ba Hội trước. Đó cũng chính là lý do tại sao một số luận gia, các học giả Phật học cũng như các Thiền sư căn cứ Kinh Phật Mẫu Bát Nhã do Thí Hộ dịch để luận giải các thiên khảo luận của họ. Chúng tôi khuyên Quý độc giả nên tụng đọc song hành Hội thứ IV này với “Phật Mẫu Bát Nhã Kinh”do Thí Hộ dịch.

Tương đương với hai Kinh trên là Kinh “Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Đa” do Ngài Cưu Ma La Thập dịch, có đủ ba phẩm nêu trên. Văn từ chướng cú, giáo lý hạnh quả, kỹ thuật tu trì quán tưởng của Kinh này về phương diện tôn giáo cũng như triết học không khác với hai Kinh vừa nêu trên. Có thể xem Kinh Tiểu Phẩm “Bát Nhã Ba La Mật Đa” của La Thập là bản tóm lược của Đại bản “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” của cùng một dịch giả.

 

Bây giờ, chúng ta bước qua “Phần năm, Hội thứ V”. Nội dung Hội này còn ngắn gọn hơn so với bốn Hội trước, văn từ lại giản dị dễ hiểu, nhưng không kém thậm thâm. Chúng tôi nghĩ Quý vị độc giả sẽ cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái hơn khi trì tụng Hội này! Vì vậy, chúng tôi chỉ thích nghĩa và chiết giải một vài phẩm khó và quan trọng, còn lại để Quý vị tự học, tự hành, tự chiết giải lấy. Đó là phương pháp kiến hiệu nhất khi Phật dạy về Kinh này. Phật chỉ làm ra 12 bậc thang giáo lý, còn cố gắng trèo lên những bậc thang để tự chứng là do công sức trí tuệ của chính Quý vị! Trèo tới đâu thì hưởng phúc lạc tới đó, trèo đến bậc thang cuối cùng thì vào Đẳng giác, rồi Diệu Giác thì thành Bồ Tát, Phật, thành Vô Thượng Bồ đề.

Độc giả nào thọ trì Đại Bát Nhã Ba La Mật tới đây cũng được xem như tinh tấn đáng khen. Nếu Quý vị cố gắng đọc hết Hội thứ V, cùng một thể tài với 4 Hội trước mà không chán nản mệt mỏi thì được xem như thành công phần nào.

Sở dĩ, Phật thuyết cùng một đề tài trong 5 Hội khác nhau, vì Phật du hóa thuyết pháp độ sinh hết chỗ này sang chỗ khác tổng cộng 22 năm để thuyết Kinh này, nên mới có sự trùng lập như vậy.

Khi Phật diệt độ Tăng đoàn cùng một số vị La hán cùng các Đạo sĩ trùng tuyên lại Kinh điển, ghi lại hết 16 pháp hội, không bỏ sót pháp hội nào, tạo thành bộ Kinh lấy tên Đại Bát Nhã Ba La Mật. Kinh ghi như thế nào, chúng tôi trích dẫn như thế đó, không dám cắt bỏ bất cứ pháp hội nào. Đó là lý do, tại sao biết Kinh trùng tụng nhưng phải vẫn giữ nguyên tác, mặc dù đoán biết có một số độc giả có thể mệt mỏi hay chán nản về sự trùng tuyên mà bỏ cuộc nửa chừng?

Tu có nghĩa là sửa đổi, uốn nắn dần như người chơi kiểng. Cũng xin nhắc lại rằng sự trì tụng của Bát Nhã không ngoài ru ngủ cảm quan và ý thức, một thứ cảm thọ và thức vọng lúc nào cũng đem lại nhiều phiền muộn, chúng gậm nhắm óc não, đưa chúng ta đến khổ ải hơn là an lạc hay giải thoát. Phải thay thế chúng bằng trực giác thực chứng mới hy vọng thay đổi vị trí sống, mới hy vọng đổi đời./.

 

 

Đến đây chấm dứt Hội thứ IV.

 

---o0o---

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,218,706