Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 7

10/06/201313:16(Xem: 4040)
Phần 7

ĐƯỜNG ĐẾN AN BÌNH THẬT SỰ


Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Trích dịch: Tuệ Uyển


Phần 7

dalailama-09875

-Tự chính chúng ta và tất cả những chúng sinh khác muốn hạnh phúc và hoàn toànthoát khỏi khổ đau. Trong điều này chúngta thật sự bình đẳng. Tuy vậy, mỗi chúngta chỉ là một cá thể, trong khi những chúng sinh khác là vô lượng.

-Có hai thái độ để quan tâm: đó là vị kỷyêu mến chính chúng ta và đó là yêu mến những những người khác. Thái độ tự yêu mến một cách vị kỷ làm chochúng ta cứng nhắc, chúng ta nghĩ là chúng ta cực kỳ quan trọng và khao khátcăn bản của chúng ta là cho chính chúng ta được hạnh phúc và cho mọi thứ diễntiến tốt đẹp cho chúng ta. Tuy vậy,chúng ta không biết làm thế nào để đem đến điều này. Trên thực tế là hành động yêu mến vị kỷ khôngbao giờ làm cho chúng ta hạnh phúc. Những ai đó có thái độ yêu mến người khácnhìn những người khác quan trọng hơn hẳn chính mình và đánh giá sự giúp đở ngườikhác trên tất cả những thứ khác, và, hành động trong cách này, ngẫu nhiên tự họtrở nên rất hạnh phúc.

-Tạm thời bỏ qua một bên tôn giáo, đời sống tái sinh và niết bàn, ngay cả trongđời sống hiện tại những người vị kỷ đem đến những phản ứng tiêu cực ngược lạicho chính họ bởi những hành động của vị kỷ của họ. Người chân thành cống hiến cảcuộc đời và năng lực vô vị lợi phục vụ cho những người nghèo túng, khốn cùng,và neo đơn, luôn luôn được ghi nhớ bởi những hành động cao quý của họ, với sựkính trọng; những người khác không có bất cứ điều gì tiêu cực để nói về họ.

-Đây là kết quả của sự yêu mến những kẻ khác: cho dù chúng ta có muốn hay không, ngay những kẻ không phải là ngườithân cũng luôn luôn yêu thích chúng ta, cảm thấy vui vẻ với chúng ta và có mộtcảm giác ấm áp đối với chúng ta. Nếuchúng ta là loại người luôn luôn nói năng lich sự trước mặt những người khác nhữnglại nói xấu sau lưng họ, dĩ nhiên, không ai thích chúng ta.

-Trong đời sống này, nếu chúng ta cố gắng giúp đở kẻ khác bằng nổ lực tối đa màchúng ta có thể làm và có ít nhất những tư tưởng ích kỷ, chúng ta sẽ có nhiềukinh nghiệm của hạnh phúc. Đời sốngchúng ta không quá dài; một trăm năm là tối đa. Nếu trãi qua đời sống này chúng ta cố gắng ân cần, với một trái tim ấmáp, lưu tâm cho lợi ích của những người khác và ít vị kỷ cùng sân hận, điều ấysẽ thật tuyệt vời, xuất sắc, điều ấy thật sự là nguyên nhân của hạnh phúc.

-Đừng lo lắng về kiếp sống tới hay niết bàn; những việc này sẽ tiến đến dần dần. Nếu trong kiếp sống này chúng ta thể hiện làmột người tốt, ấm áp, không ích kỷ, chúng ta sẽ là một công dân tốt của thế giới. Cho dù chúng ta là một Phật tử, một Ki tô hữuhay là một người cộng sản không quan hệ; điều quan trọng là khi nào chúng ta vẫnlà một con người chúng ta nên là một con người tốt. Đấy là giáo nghĩa của Đạo Phật; đấy cũng là thông điệp của tất cả mọi tôngiáo trên thế giới.

-Tâm thức chúng ta cực kỳ giảo quyệt và rất khó kiểm soát, nhưng nếu chúng ta tiếnhành những tác động ảnh hưởng liên tục và kiên định, hành động không mệt mõi vớisuy luận hợp lý và phân tích cẩn thận, chúng ta sẽ có thể kiểm soát và chuyểnhoá nó tốt hơn.

-Nếu chúng ta nuôi dưỡng, ấp ủ những tâm tư phiền não tiêu cực như giận tứcchúng sẽ trở thành một thành phần của mỗi chúng ta; mỗi lần chúng ta biểu lộ giận dữ nó trở nên dễdàng để biểu lộ như thế một lần nữa. Chúng ta cứ làm như thế lần này rồi lần khác cho đến khi chúng ta đơn giảnchỉ là một người cuồng dại hoàn toàn không thể kiểm soát. Vì vậy, trong phạm trù của những vấn đề tinhthần, có những điều nào đấy thích đáng để bày tỏ còn những vấn đề khác thìkhông nên.

-Trước tiên chúng ta cảm thấy khó khăn trong việc cố gắng để kiểm soát những tâmtư phiền não tiêu cực. Ngày đầu tiên, tuầnđầu tiên, tháng đầu tiên chúng ta không thể kiêm soát chúng tốt đẹp được. Nhưng với sự liên tục tác động những tiêu cựccủa chúng ta sẽ dần dần giảm xuống. Tiếntrình trong sự tu dưỡng phát triển tâm không phải đến từ việc dùng thuốc uốnghay những thứ hóa chất khác; nó tùy thuộc vào việc kiểm soát tâm.

-Chúng ta có thể thấy rằng nếu chúng ta muốn hoàn thành những nguyện ước củachúng ta, là tạm bợ tức thời hay căn bản rốt ráo, chúng ta nên hướng thệ nguyệnđến những chúng sinh khác nhiều hơn cả là những viên ngọc ước và luôn luôn yêumến họ trên tất cả những thứ khác.

-Nếu chúng ta không có động cơ trong sạch, bất cứ những gìchúng ta làm có thể không hoàn thiện, không toàn hảo, không thỏa mãn. Vì vậy,việc trước nhất chúng ta nên làm là phát triển động cơ trong sạch. Nhưng chúngta không phải chờ cho đến khi động cơ ấy hoàn toàn phát triển trước khi thật sựhành động giúp đở những kẻ khác. Dĩ nhiên, để giúp đở những kẻ khác trong nhữngphương thức hữu hiệu nhất có thể chúng ta phải hoàn toàn giác ngộ như những ĐứcPhật.

-Giúp đở những người khác trong những phương thức rộng lớnbao quát cùng khắp, chúng ta cần đạt đến những tầng bậc của một vị Bồ tát, đấylà, phải có kinh nghiệm trực tiếp, nhận thức vô phân biệt thực tại của tínhkhông và phải đạt đến những năng lực ngoài những giác quan cảm giác thông thường,tức là thần thông. Tuy vậy, có nhiều trình độ khác nhau để giúp đở những ngườikhác. Ngay cả trước khi chúng ta đạt đến những phẩm chất này chúng ta có thểhành động như những vị Bồ tát, nhưng thông thường những hành động của chúng takém hiệu quả hơn những vị ấy.

-Không phải đợi cho đến khi chúng ta đấy đủ hoàn toàn nhữngphẩm chất, màchúng ta có thể phát sinh những động cơ tốt đẹp, hảo tâmthiện ý và với sự cố gắng đấy để giúp đở những kẻ khác trong những phương thứctốt nhất mà chúng ta có thể hành động. Điều này là một sự tiếp cận cân bằng hơnvà tốt hơn là chỉ đơn giản ẩn trú một nơi cô lập nào đấy để thiền định và tụngniệm.Dĩ nhiên, điều này tùy thuộc rấtnhiều trên từng cá nhân. Nếu chúng ta tin tưởng rằng an trú tại một nơi biệt lậpchúng ta có thể đạt được những sự thực chứng rõ rệt trong một thời điểm nào đấy,đó lại là chuyện khác. Có lẻ tốt nhất nên dành phân nửa thời gian của chúng tađể hoạt động và phân nửa kia để thực tập thiền định.

-Không kể chúng ta là ai với chúng ta, chúng ta thường nghĩ những việc như, “Tôimạnh hơn người kia, “ tôi đẹp hơn người kia”, tôi thông minh hơn người kia,”tôi giàu có hơn”, tôi xứng đáng hơn người kia rất nhiều”, v.v và v.v…- chúng ta phát sinh rất nhiều tự hào. Điều này không tốt. Thay vì vậy, chúng ta nên luôn luôn duy trìkhiêm tốn. Ngay cả khi chúng ta giúp đởnhững kẻ khác và tham gia vào hoạt động từ thiện, chúng ta không nên xem chính mình trong cách kiêu căng như nhữngngười hộ vệ vĩ đại lợi ích những kẻ yếu. Điều này cũng là kiêu ngạo. Tốt hơn, chúng ta nên liên hệ trong nhữnghành động như thế một cách thật khiêm tốn và nghĩ rằng chúng ta dâng hiến sự phụngsự của chúng ta đến mọi người.

-Khi chúng ta so sánh chúng ta với những con thú, thí dụ, chúng ta có thể nghĩ,“ta có thân thể một con người” hay “ta là người thọ giới” và cảm thấy cao hơnnhững người khác. Cũng từ quan kiến ấy,chúng ta có thể nói rằng chúng ta có thân thể con người và đang thực hành lờiPhật dạy và vì vậy chúng ta thật rất là hơn hẳn những côn trùng. Nhưng bằng cách khác, chúng ta có thể nói rằngnhững côn trùng thì thật vô tội và chẳngbao giờ lừa đảo, nhưng trái lại chúng ta thường dối trá , xuyên tạc, bóp méochính mình trong trong những cách không thành thật để đạt đến mục tiêu cuốicùng hay tự làm mình hơn những người khác. Từ quan kiến này chúng ta phảinói là chúng ta thật tệ hơn những côn trùng, điều mà chúng chỉ tiến đến nhữnghành động của chúng mà không giả vờ bất cứ điều gì. Đây là một phương pháp rèn luyện trong khiêmtốn nhún nhường.

-Nếu khảo sát tâm chúng ta tại những thời điểm mà chúng ta thật ích kỷ và bận rộnvới chính mình để loại trừ những người khác, chúng ta sẽ thấy rằng tâm thức phiềnnão tiêu cực là gốc rể của thái độ này. Vì lẻ chúng quấy rầy tâm chúng ta cực độ, thời điểm chúng ta để ý rằngchúng ta đang tiến đến gần sự ảnh hưởng của chúng, chúng ta nên áp dụng một sốbiện pháp hóa giải chúng. Đối thủ phổthông với tất cả những tâm thức phiền não là thiền định trên tính không, nhưngcũng có thuốc giải đến từng loại đặc hữumà chúng ta những người mới bắt đầu có thể áp dụng. Vì vậy, đối với chấp ngã, thủ trước, dính mắc,chúng ta thiền định trên tính xấu xí; với giận tức , trên yêu thương; với mùquáng si mê, trên duyên khởi; cho nhiều tư tưởng phiền não, trên hơi thở vànăng lựơng của gió.

-Mười hai nhân duyên, hay duyên khởi tùythuộc tương liên. Chúng bắt đầu bằng vôminh và đi qua đến già và chết. Trên những trình độ vi tế hơn chúng ta có thểdùng duyên khởi như một nhân để chứng minh rằng mọi sự, mọi vật thì trống rỗng trong sự hiện hữu thật sự.

-Một loại yêu thương khác, sự ân cần tử tế, nó không căn cứ trên lý do rằng “nhữngngười như vậy và như thế là xinh đẹp, vì vậy, tôi phải tôn trọng và tử tế.” Căn bản thiết yếu của lòng yêu thương tinhkhiết là, “Đây là một chúng sinh muốnvui tươi hạnh phúc, không muốn phiền muộn khổ đau và có quyền để hạnhphúc. Vì vậy, tôi nên cảm nhận yêuthương và từ bi.” Loại yêu thương nàyhoàn toàn khác biệt với loại yêu thương đầu tiên, điều căn cứ trên sự si mê vôminh và vì vậy hoàn toàn không lành mạnh, không chính đáng. Đấy là những lý do của lòng yêu thương rộng lớnhay từ bi là lành mạnh, chính đáng, đúng đắn.

-Chúng ta nên nghĩ, “người kia là một con người như tôi. Chắc chắn là tôi muốn hạnh phúc; vì vậy, ngườiấy cũng phải muốn hạnh phúc. Như một chúngsinh tôi có quyền để hạnh phúc; cùng lý do ấy, người kia cũng thế, có quyền đểhạnh phúc an lạc. “Lý do chính đáng nàycho khởi lên một lòng yêu thương và từ bi. Thế thì không cần biết quan niệm của chúng ta với sự thay đổi của ngườikia là thế nào – từ tốt đến xấu đến vô cùng tệ hại - người kia luôn luôn căn bản là một chúngsinh. Vì vậy, lý do chính để hiển lộlòng từ bi yêu thương là luôn luôn ở đấy, cảm nhận của chúng ta đối với ngườikia là kiên định một cách toàn hảo.

-Thuốc giải độc cho sân hận-giận tức là thiển định về yêu thương, bởi vì sân hận-giậntức là một tâm thức rất thô lổ, sống sượng, cộc cằn vì thế cần được làm dịudàng, mềm mỏng với tình yêu thương.

-Khi chúng ta vui thích với những đối tượng mà chúng ta nối kết, gắn bó, hay dínhmắc, chúng ta chắc chắn trải qua kinh nghiệm hân hoan, khoái lạc hay thúvị;nhưng như Tổ Long Thọ đã từng nói, điều ấy như có một mụn ngứa và gảy ngứa; nócho chúng ta sự thích ý nhưng chúng ta sẽ khá hơn nếu trước tiên chúng ta đừngcó cái mụn ngứa ấy. Cũng giống như thế, khi chúng ta nhận được những thứmà vớichúng, ta bị ám ảnh, mê thích chúng ta cảm thấy vui sướng, nhưng chúng ta sẽkhá hơn nếu chúng được tự do với điều mà chúng ta bị dính mắc,vướng bận,mong mỏi và là nguyên nhân để chúng ta trở nên bị ám ảnhvới những thứ ấy.

-Nếu có những người xỉ vả, ngược đãi hay bình phẩm, chỉ trích chúng ta, nói rằngchúng ta kém cõi, bất tài, không đủ khả năng làm bất cứ việc gì, v.v…, chúng ta chắc là có thể rất giận dữ và phảnbác lại những gì người kia nói. Chúng takhông nên hành động như vậy, thay vì thế, với sự khiêm tốn và bao dung, chúngta nên chập nhận những gì đã được phát biểu.

-Nơi mà nói rằng chúng ta nên chấp nhận thất bại và nhường sự thắng lợi cho ngườikhác, chúng phải phân làm hai loại khácnhau của tình trạng. Nếu một mặt, chúngta bị ám ảnh với lợi ích của chính chúng ta và động cơ rất là ích kỷ, chúng tanên chấp nhận thua cuộc và nhường chiến thắng cho kẻ khác, ngay cả có thể đời sốngchúng ta bị lâm nguy. Nhưng có thể vềphương diện khác, trường hợp tình trạng như vậy mà quyền lợi của những kẻ khácbị lâm nguy, chúng ta phải hành động thật năng nổ và đấu tranh vì quyền lợi của những người khác, và không chấp nhậnthua cuộc với bất cứ giá nào.

-Một trong bốn mươi sáu thệ nguyện của một vị Bồ tát liên hệ đến một trường hợpkhi mà ai đấy làm những hành vi rất là tai hại và chúng ta phải dùng đến nhữngbiện pháp vũ lực hay bất cứ cách nào khác cần thiết để chấm dứt những hành vi bạongược của kẻ ấy lập tức – nếu chúng ta không hành động, chúng ta vi phạm lời thệnguyện ấy.

-Thệ nguyện của một vị Bồ tát đáp ứng với một tình trạng mà điểm chính yếu là sựquan tâm của một người đối với quyền lợi của những kẻ khác: nếu ai đấy đang làmnhững hành vi cực kỳ tai hại và nguy hiểm thì thật là sai lầm nếu không có nhữnghành động mạnh mẻ để chấm dứt chúng, nếu cần thiết.

-Ngày nay, ngay trong những xã hội tranh đua, những hành động tự vệ mạnh mẽ haytương tự như thế thì thường luôn luôn được đòi hỏi. Động lực như thế này không nên bị ích kỷ nhuốm màu nhưng là những cảm giác rộngrãi bao la của ân cần và từ bi yêu thương đối với kẻ khác. Nếu chúng tahành động với những cảm nhận, ýthức như thế để hổ trợ, cứu giúp kẻ khác tránh khỏi tai họa do những nghiệp cảmtiêu cực tạo ra, điều này hoàn toàn đúng đắn.

-Tịch Thiên Tôn giả nói rằng những lợi ích của những hành động được làm với tâmbồ đề có tác dụng nhiều hơn là những tiêu cực đối với khi hành động không có độngcơ như thế. Mặc dù nó cực kỳ quan trọng,những có thể đôi khi thật khó khăn để thấy lằn ranh giữa điều gì nên làm và điềugì không nên làm, vì vậy, chúng ta nên học hỏi những kinh luận giải thích về nhữngđiều như thế. Trong những luận giải thấphơn nó sẽ nói rằng những hành vi nào đấy là bị cấm đoán trong khi những luận giảicao hơn nói với chúng ta rằng cũng cùng những hành vi ấy nhưng được chophép. Càng thông hiểu hơn về tất cả nhữngđiều này nó càng dễ dàng hơn, nó sẽ được quyết định điều gì nên làm trong bất cứmọi trạng huống.

-Thông thường chúng ta dự tưởng rằng những ai đấy mà mình từng giúp đở những gìto tát là phải rất biết ơn chúng ta và nếu họ lại hành động đến mình với sự vôơn chắc là chúng ta phải giận dữ. Trong những trường hợp như thế, chúng takhông nên khó chịu nhưng thay vì thế phải thực hành nhẫn nại. Hơn thế nữa,chúng ta nên thấy những người như thế là những vị thầy thử thách sự nhẫn nhục củachúng ta và vì thế nên đối xử với họ một cách tôn trọng. Đề mục này chứa đựng tấtcả trong “Hướng dẫn lối sống của Bồ tát”về nhẫn nhục.

-Chúng ta cũng có thể thấy rằng những hữutình chúng sinh khác ngập tràn khổ đau nhưng không biết làm thế nào để lìa xa đaukhổ. Vì vậy, nên phát sinh ý niệm gánhvác tất cả những khổ đau và nghiệp báo tiêu cực và nguyện cầu cho nó chín muồi,trổ quả trên chính chúng ta ngay lập tức. Giống như thế, rõ ràng những hữu tình chúng sinh trống vắng hạnh phúc, họtìm kiếm nhưng không biết làm thế nào để gặp được hạnh phúc. Vì vậy, không có chút gì bỏn xẻn xan lẫn,chúng ta nên dâng hiến cho họ tất cả những hạnh phúc của chúng ta – thân thể,phú quý và công đức – và cầu nguyện cho những điều này chin muồi, kết quả trênhọ ngay lập tức. Không chắc rằng chúngta thật thực sự có thể gánh vác những khổ đau của kẻ khác và trao tặng hạnhphúc của chúng ta cho họ hay không. Nhưng khi những hoán chuyển như thế giữa những hữu tình chúng sinh thậtsự xảy ra, nó là kết quả của một số liên hệ nghiệp quả liên tục rất mạnh mẻ nàođấy từ quá khứ kiếp. Tuy thế, sự thiền địnhđề mục này là rất mãnh liệt có ý nghĩa của việc xây dựng nên sự can đảm trongtâm chúng ta và vì thế là một thực hành có lợi ích cao thượng.

-Trong “Bảy điểm chuyển hóa tâm” nói rằngchúng ta nên luân phiên thực hành “cho và nhận” và trang bị chúng trên từng hơithở. Và ở đây, Langri Tangpa nói rằng nhữngđiều này nên được hoàn thành một cách bí mật. Khi nó được giải thích trong “Hướngdẫn lối sống của Bồ tát”, điều thựchành này không thích hợp với tâm lý những Bồ tát sơ tâm – nó là những gì đượcchọn lựa ở một số ít hành giả. Vì thế,nó được gọi là bí mật.

-Tôn Giả Tịch Thiên (Shantideva) đang nói rằng tại nhưng thời điểm khi những tưtưởng tự luyến ái khởi lên mảnh liệt chúng ta phải tranh luận rất mạnh mẻ vớichính mình và dùng những ý nghĩa sinh động đầy sức thuyết phục để chinh phụchay làm dịu chúng xuống; trong ý nghĩa khác, chúng ta phải tự làm tổn hại hayhao mòn tâm thức tự ngã ái luyến chính mình. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa cái "tôi" hoàn toàn bị ámthị với những quyền lợi của chính nó và cái "tôi" sẽ trở nên giác ngộ: đấy là một sự khác biệt lớn lao.

-Nếu nó thật sự lợi ích cho người khác, nếu nó lợi ích ngay cả cho một chúngsinh, nó xứng đáng cho chúng ta đảm đương trên chính mình những khổ đau hiện hữutrong tam giới hay đi đến một trong những địa ngục, và chúng ta nên có sự can đảm,dõng cảm để làm điều này. Để đạt đếngiác ngộ vì lợi ích của chúng sinh chúng ta nên hoan hỉ, quyết tâm và tự nguyệnđể sống ở địa ngục thấp nhất, ngục A tỳ, trong thời gian vô tận. Đây là ý nghĩa của việc đảm đương những tổn hại,điều làm khổ sở, đớn đau,ưu phiền của kẻ khác trên chính chúng ta. Nếu chúng taphát triển một nguyện ước mãnh liệt, chân thành để tái sinh trong những cảnh giớithấp nhất vì lợi ích của những chúng sinh khác, chúng ta sẽ tích tập được mộtcông đức to lớn vô biên và điều ấy sẽ mang đến những kết quả ngược lại.

-Tại sao chúng tôi nói rằng, nếu chúng ta ích kỷ thì chúng ta nên ích kỷ mộtcách thông minh. Thực tế, hay hẹp hòi,ích kỷ làm nguyên nhân chúng ta đi xuống; thông minh ích kỷ đưa chúng ta đến Phậtquả. Điều ấy thật sự thông tuệ! Bất hạnhthay, điều chúng ta thường làm trước nhất là đến với Phật quả. Theo kinh điển, chúng ta hiểu rằng để đạt đếnPhật quả chúng ta cần tâm bồ đề và nếu không có nó chúng ta không thể trở nêngiác ngộ; vì vậy chúng ta nghĩ, "tôimuốn quả Phật, vì thế tôi phải thực hành bồ đề tâm." Chúng ta không quá quan tâm nhiều đến bồđềtâm cũng như Phật quả. Điều này là sailầm một cách chắc chắn. Chúng ta phảilàm ngược lại; hãy quên động cơ ích kỷ và thật sự nghĩ làm thế nào để giúp kẻkhác.

-Nếu chúng ta đến địa ngục chúng ta không thể giúp đở cho người khác hay chínhmình. Chúng ta làm thế nào để giúp? Không phải chỉ bằng bố thí cho họ vài thứ gìđấy hay thi thố thần thông, nhưng bằng diễn giảng giáo pháp. Tuy nhiên, trước nhất chúng ta phải có đủ năng lực để giảng dạy.

-Để có thể hổ trợ những người khác trong phương pháp rộng rãi nhất bằng sự hướngdẫn họ theo toàn bộ con đường giác ngộ, trước hết chúng ta phải giác ngộ chochính mình. Vì lý do này chúng ta nên thựchành tâm bồ đề. Điều này hoàn toàn khácbiệt với cách suy nghĩ thông thường của chúng ta, khi mà chúng ta bị buộc phảinghĩ về những người khác và dâng hiến trái tim của chúng ta cho họ do bởi sựquan tâm ích kỷ về sự giác ngộ của chính chúng ta. Cách này hướng về những thứ hoàn toàn sai lạc,một loại lừa phỉnh.

-Chúng ta trì niệm mật ngôn OM MANI PADME HUM và dâng hiến công đức ấy cho sựnhanh chóng đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Chúng ta có thể nói rằng chỉ bằng sự trì niệmmật ngôn chúng ta sẽ tốc chứng giác ngộ, nhưng chúng ta có thể nói rằng những sựthọ trì như thế hành động như sự đóng góp cho NHÂN của giác ngộ. Giống như thế, trong khi sự thực hành giáopháp của chúng ta sẽ không tự hổ trợ thân quyến của chúng ta không đến những sựtái sinh thấp hơn, nhưng nó có thể hoạt động như một sự góp phần cho NHÂN này.

-Nếu sự hành trì của chúng ta hoạt động như nguyên nhân chính yếu của một kết quảđược trải nghiệm bởi những người khác, nó sẽ mâu thuẩn với luật nghiệp báo, sựliên hệ giữa nguyên nhân và hiệu quả. Thếthì chúng ta chỉ giản dị ngồi lại và nghĩ ngơi thoãi mái và để chư Phật cùngcác vị Bồ Tát làm mọi thứ cho chúng ta; chúng ta sẽ không phải nhận lấy mộttrách nhiệm nào đối với lợi ích của chính mình. Tuy thế, Đấng giác ngộ hoàn toàn đã từng nói rằng tất cả những gì ngàicó thể làm là giảng dạy, chỉ dẫn chúng ta giáo pháp, con đường giải thoát khỏikhổ đau, và thế là nó tuỳ thuộc vào chúng ta đặt mình vào sự thực hành - Ngàiđã rửa tay của Ngài đối với trách nhiệm ấy! Như đạo Phật đã dạy rằng không có đấng tạo hoá và rằng chúng ta tạo dựngmọi thứ cho chính chúng ta, vì thế chúng ta là đạo sư của chính chúng ta - trong giới hạn của luật nhân quả.

-Và đây là luật nghiệp báo dạy rằng nếu chúng ta làm việc lành chúng ta sẽ trảiqua kết quả kinh nghiệm lành và nếu chúng ta làm việc xấu chúng ta sẽ phải trảiqua những kinh nghiệm của bất hạnh, khổ đau.

-Chúng ta nhận thức rằng, "điều khổđau này tôi đang gánh chịu là lỗi lầm của tôi hoàn toàn, kết quả của những hànhđộng của chính tôi tạo nên trong quá khứ. Vì rằng tôi không thể tránh khỏi nó tôi phải sống với nó. Tuy vậy, nếu tôi muốn tránh khổ đau trong tương lai tôi cũng có thể hành động bằngsự phát triển đạo đức như nhẫn nhục chẳng hạn. Tức tối hay giận dữ với khổ đau này sẽ chỉ tạo nên những nghiệp tiêu cực,nguyên nhân của bất hạnh tương lai". Đây là một cách thực hành nhẫn nhục.

-Một việc khác chúng ta có thể làm là thiền định trên sự khổ đau tự nhiên củathân thể: "Thân thể và tâm thức nàylà cơ sở của tất cả những khổ đau, nó là tự nhiên và không có cách nào trôngmong rằng khổ đau ơi, đừng khởi lên." Loại nhận thức này hổ trợ rất hiệu quả cho việc phát triển nhẫn nhục.

-Nếu có một phương pháp vượt thoát khổ đau hay một cơ hội để làm như thế, chúng takhông phải lo lắng. Nếu thật sự không cógì chúng ta có thể làm để thoát khổ, lo lắng cũng không giúp được gì cả. Điều này thật đơn giản và rất rõ ràng.

-Những gì khác chúng ta có thể làm là suy tư sự bất lợi của tức giận và thuận lợicủa thực hành nhẫn nhục. Chúng ta là nhữngcon người - một trong những phẩm chất hơn hẳn của chúng ta là khã năng suy nghĩvà phán đoán của chúng ta. Nếu chúng tamất nhẫn nại và lại tức giận, chúng ta mất đi khã năng để thực hiện những phánxét cụ thể và vì thế mất đi một trong những công cụ hiệu lực nhất mà chúng tacó để giải quyết những vấn nạn: đấy là tuệ trí của con người. Đây là những gì mà thú vật không có. Nếu chúng ta mất đi nhẫn nhục, và lại cáutứcchúng ta đang làm tổn hại đến công cụ quý giá này. Chúng ta nên nhớ điều này; nó càng tốt hơnnhiều để có can đảm và quyết định và đối diện với khổ đau bằng nhẫn nhục.

-Chúng ta phải phân biệt giữa sự tin tưởng vào những khã năng và lòng tự hào củachúng ta. Chúng ta phải nên tin tưởngvào bất cứ những phẩm chất và khã năng thiện xảo mà chúng ta có và sử dụngchúng một cách quả cảm, can trường, nhưng chúng ta không nên có cảm xúc kiêu căng, ngạo mạn, tự mãn vềchúng. Hiện hữu khiêm tốn hay bình thườngkhông có nghĩa là cảm thấy hoàn toàn bất tài, kém cõi, và không tự lo liệu được. Sự khiêm tốn nhún nhường được phát triển nhưsự đối lập với tự kiêu, nhưng chúng ta nên sử dụng bất cứ những phẩm chất tốt đẹpnào mà chúng ta có đến sự trọn vẹn của nó.

-Một cách lý tưởng, chúng ta nên có một sự đáp ứng rộng rãi của lòng can trường,quả cảm và năng lực nhưng không phải là sự khoác lác, niềm kiêu hảnh hay làm mộtsự phô trương lớn về nó. Rồi thì, nhữngkhi cần, chúng ta nên vươn lên đến những trường hợp cụ thể và chiến đấu mộtcách dõng mảnh cho những gì đúng. Điềunày là toàn hảo. Nếu chúng ta không cónhững phẩm chất tốt đẹp này mà lại khoác lác mọi nơi rằng ta vĩ đại thế nào vàtrong khi cần thiết lại co đầu rút cổ lại một cách hoàn toàn, chúng ta chỉ làngược lại. Người thứ nhất thì rất can đảm,quảcảm nhưng không tự hào; người kia thì rất tự kiêu nhưng không có can trường,dũng cảm.

-Tất cả những thực hành trước nhất không nên bị nhuốm bẩn bởi những vết nhơ củamê tín, vướng mắc đối với tám pháp thế gian (Bát phong: khổ - vui, được – mất,hơn – thua, khen – chê). Tám điều này cóthể liên hệ như trắng, đen lẫn lộn. Làmthế nào một người có thể tránh bị nhuốm bẩn sự thực hành của mình trong cáchnày? Bằng sự nhận thức tất cả sự hiện hữuhay tồn tại như ảo tưởng và không liên hệ với sự tồn tại thật sự. Trong cách này, một người được giải thoát khỏitrói buộc của loại liên hệ hay bám víu này.

-Để giải thích ý nghĩa của "ảo tưởng" ở đây: sự tồn tại thật sự xuất hiện trong khía cạnhcủa nhiều đối tượng khác nhau, bất cứnơi nào chúng là rõ ràng hiển nhiên, nhưng thực tế không có sự tồn tại thật sự ởđó. Sự tồn tại thật sự xuất hiện, nhưngkhông có gì- nó là một ảo tưởng. Mặc dù mọi thứ tồn tại xuất hiện như sự hiệnhữu một cách thật sự, nhưng nó thì trống rỗng, một sự tồn tại trống rỗng. Thấy những đối tượng là trống rỗng của hiện hữu- rằng ngay cả sự tồn tại thật sự xuất hiện, không có gì, nó là ảo ảnh, hảo huyền,không thực có - một người phải nên định rõ sự hiểu biết về ý nghĩa của tínhkhông: tính không xuất hiện rõ ràng, sự xuất hiện rõ ràng của tính không.

-Trước nhất chúng ta nên chắc chắn rằng tất cả mọi hiện tượng là trống không củasự tồn tại thật sự. Rồi thì về sau, khimà có điều thuần tuý tự nhiên xuất hiện là tồn tại một cách thật sự, người ấyphản bác lại sự tồn tại thật sự bằng sự nhắc lại điều hiểu biết chắc chắn củamình trước đây là hoàn toàn vắng bóng của sự tồn tại thật sự. Khi chúng ta đặt hai điều này chung với nhau- sự hiện hữu của sự tồn tại thật sự và tính không của nó như kinh nghiệm trướcđây - chúng ta khám phá sự ảo tưởng của mọi hiện tượng.

-Trước nhất chúng ta phải phân tích hoặc là những thứ tồn tại thực sự hay làkhông, thật sự có thể tìm thấy hay không: chúng ta không thể tìm thấychúng. Nhưng nếu chúng ta nói rằng chúngthật không tồn tại gì cả, đây là một lỗi lầm, bởi vì chúng ta quả có kinh nghiệmvề chúng. Chúng ta không thể chứng minhqua lý luận hợp lý (logic) rằng những sự kiện tồn tại một cách có thể tìm thấy,nhưng chúng ta quả biết qua kinh nghiệm rằng chúng tồn tại. Vì vậy, chúng ta có thể làm một kết luận rõràng rằng những thứ ấy quả tồn tại. Bâygiờ, nếu những thứ ấy tồn tại chỉ có hai cách trong điều chúng có thể làm nhưthế: hoặc là từ căn bản của chính chúng hoặc là bởi dưới sự kiểm soát củanhững nhân tố khác, đấy là, hoàn toàn độc lập hoặc là một cách lệ thuộc. Vì lý luận hợp lý không thể chứng minh rằngnhững thứ ấy tồn tại một cách độc lập, thì chỉ còn cách là chúng có thể tồn tạimột cách phụ thuộc.

--------------------------------------------------

-Trên điều gì làm những thứ ấy tùy thuộc cho sự tồn tại cuả chúng? Chúng tùy thuộc trên căn bản được gắn nhãn hiệuvà sự tư duy những nhãn hiệu ấy. Nếuchúng có thể tìm thấy được khi truy tầm, chúng phải tồn tại bởi tính tự nhiên củachính chúng, và vì vậy Trung Quán Luận nói rằng, những thứ ấy không tồn tại bởitinh tự nhiên của chính chúng, sẽ là sai. Tuy nhiên, chúng ta không thể tìm thấy những thứ ấy khi truy tầmchúng. Những gì chúng ta tìm thấy tồn tạidưới sự khống chế của những nhân tố khác, vì vậy điều được nói là tồn tại chỉđơn thuần trong danh xưng.

-Từ ngữ “đơn thuần” ở đây chỉ cho biết lànhững thứ gì ấy đang bị cắt đứt: nhưng điều gì đang bị cắt đứt thì không phảilà danh xưng, nó cũng không là điều có một ý nghĩa và là đối tượng của một tâmthức có căn cứ. Chúng ta không nói rằngkhông có ý nghĩa gì đến những thứ khác hơn là những danh xưng của chúng, hay làý nghĩa không phải là danh xưng không là đối tượng của một tâm thức có sở cứ. Điều gì bị cắt đứt là điều mà nó tồn tại bởinhững thứ khác hơn là năng lực của những danh xưng.

-Nhữngthứ tồn tại đơn thuần bởi năng lực của danh xưng, nhưng chúng có ý nghĩa, và ýnghĩa ấy là đối tượng của một tâm thức có sở cứ. Nhưng tính tự nhiên của những thứ ấy là chúngtồn tại thường là bởi năng lực của danh xưng.

-Không có cách nào khác, chỉ là năng lực của danh xưng. Điều ấy không có nghĩa là bên cạnh danh xưngkhông có gì. Có sự kiện, có một ý nghĩavà có một danh xưng. Ý nghĩa là gì? Ý nghĩa cũng tồn tại đơn thuần trong danh xưng.Theo trường phái Trung Quán Prasangika, quan điểm cơ bản, chính xác nhất, cũnggiống như thế cho dù nó là một đối tượng bên ngoài hay là nhận thức bên tronghiểu rõ, thấy rõ, nhận thức thấu đáo nó: cả hai tồn tại bởi năng lực của danhxưng; không có thứ nào thật sự tồn tại. Tư duy tự nó tồn tại đơn thuần trong danh xưng; tính không, Phật, tốt, xấu,và trung tính cũng thế thôi. Mọi thứ tồntại duy chỉ bởi năng lực của danh xưng.

-Khi chúng ta nói “duy chỉ danh xưng” thì không có cách nào để hiểu nó có ýnghĩa gì khác hơn là nó cắt đứt những ý nghĩa mà những ý nghĩa không chỉ làdanh xưng. Thí dụ, nếu chúng ta lấy mộtngười thật sự và một người ảo tưởng, cả hai là giống nhau trong điều họ tồn tạichỉ đơn thuần là danh xưng, nhưng có một sự khác nhau giữa họ. Bất cứ điều gì tồn tại hay không tồn tại chỉđơn thuần là nhãn hiệu gắn lên, nhưng trong danh xưng, có những thứ tồn tại vànhững thứ khác không tồn tại.

-Theo trường phái Duy thức những hiện tượng bên ngoài xuất hiện vốn dĩ tồn tại,nhưng thực tế là sự tồn tại bên ngoài vốn dĩ trống không, trong khi ấy tâm thứclà thật sự tồn tại (Thị chư thức chuyển biến, Phân biệtsở phân biệt, Do thử bỉ giai vô, Cố nhất thiết duy thức). Đến đây, chúng tôi nghĩ rằng điều này cũng đủvề giáo lý đạo Phật.

-Khi chúng ta nói về tỉnh thức thì có tỉnh thức của tinh thần và tỉnh thức củagiác quan, và trước đây có nhiều sự phân chia thành những trình độ của thô vàvi tế.

Tríchtừ bài The Eight Versesof Thought Transformation

ẨnTâm Lộ ngày 14-3-2013

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn