Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

A. Tự phần

17/11/201115:54(Xem: 6935)
A. Tự phần

 

A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI

Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa hợp dịch

X. CHÁNH THÍCH KINH VĂN(phần giải thích kinh văn)

Người đầu tiên đề xướng khái niệm phân chia kinh văn thành ba phần: Tự, Chánh Tông, Lưu Thông là Ngài Thích Đạo An (313-385). Đương thời, Ngài bị các bậc học giả đả kích quyết liệt. Họ công kích Ngài là tự thị thông minh, thiện tiện phân chia kinh văn khiến thánh giáo bị rối loạn.

Mãi đến đời Đường, khi bản Phật Tâm Địa Luận của Thân Quang Bồ Tát được truyền vào Tàu, trong luận ghi rõ: “Phàm là kinh Phật, chẳng luận Đại Thừa, Tiểu Thừa, đều có đủ ba phần”, các học giả đương thời mới mô phỏng theo cách Ngài Đạo An đề xướng để giải thích kinh điển.

Tự phần trình bày duyên do phát khởi bản kinh, Chánh Tông là phần xiển minh yếu chỉ của kinh, Lưu Thông là phần tường thuật danh đề, sự lưu truyền của kinh.

Từ “như thị ngã văn” cho đến “kim hiện tại thuyết pháp” là Tự Phần.

Từ “Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” cho đến “nguyện sanh bỉ quốc” là phần Chánh Tông.

Từ “Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả tán thán A Di Đà Phật” cho đến “tác lễ nhi khứ” là phần Lưu Thông.

A. TỰ PHẦN

Gồm hai phần: Thông tự (chứng tín tự) và Biệt Tự.

1. THÔNG TỰ:

1.1. Lục chủng thành tựu:

Gọi là Thông vì kinh nào cũng gồm đủ sáu điều. Sáu điều như thế nhằm xác chứng bản kinh này đích xác từ kim khẩu của Đức Phật thuyết ra, nên còn gọi là Lục Chủng Thành Tựu (sáu điều thành tựu): Tín Thành Tựu, Văn Thành Tựu, Thời Thành Tựu, Chủ Thành Tựu, Xứ Thành Tựu và Chúng Thành Tựu.

Biển cả Phật pháp do tín tâm mà được vào; nên nếu không có tín tâm thì làm sao pháp hội thành tựu được? Vì vậy, Lục Chủng Thành Tựu lấy Tín làm đầu.

Trong các căn, nhĩ căn của chúng sanh tại cõi Sa Bà này lanh lợi nhất, nên để hóa độ chúng sanh, Đức Phật phải thuyết pháp. Nếu không có kẻ nghe, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu được, nên phải có Văn Thành Tựu.

Đã thuyết pháp thì phải có thời gian thuận tiện, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt hay khi đang ly loạn, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Thời Thành Tựu.

Nếu không có người đứng đầu thuyết pháp thì dù có đủ cả năm nhân duyên kia, pháp hội vẫn không thể thành tựu được. Vì thế, phải có Chủ Thành Tựu.

Nếu không có nơi chốn để thuyết pháp thì pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Xứ Thành Tựu.

Giảng kinh, thuyết pháp để cho đại chúng nghe. Nếu không có đại chúng nghe pháp thì giảng pháp cho ai. Vì thế phải có Chúng Thành Tựu.

1.2. Tiền ngũ chủng thành tựu (năm thứ thành tựu đầu)

Chánh kinh:

Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.

Giải:

Câu kinh này không phải là lời Đức Phật nói mà là do người kết tập kinh thêm vào.

“Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngã văn” là Văn Thành Tựu.

1.2.1 Như thị:

Chữ “như thị” ngụ ý việc gì đúng đắn, đáng tin tưởng được. Việc gì đáng tin thì gọi là Như Thị, chẳng đáng tin gọi là Bất Như Thị.

Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Nghĩa là sau khi Đức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển, Phật dạy sao, Ngài A Nan cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may. Đó là Như. Lời Phật dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là Thị.

Hơn nữa, khi kết tập Kinh Tạng, đại chúng cung thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hãy nói đúng như thế ấy”; Ngài A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi đã được nghe”.Vì thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ý tín thuận.

Chữ Như Thị còn có thể hiểu theo hai nghĩa Thông và Biệt như sau:

a. Về Thông nghĩa, chữ Như Thị chỉ về Thật Tướng. Xét về Lý, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi là Như. Xét về Thể, Thật Tướng lìa hết thảy hư vọng, hý luận. Đó là Thị.

b. Nếu ước theo Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm Bất Loạn là Như, Quyết Định Vãng Sanh là Thị.

Hơn nữa, tâm chẳng khác Phật, Phật chẳng khác tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy chính là tâm này nên gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng nhất thể, duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà nên gọi là Như Thị.

Nếu ước theo chúng sanh niệm Phật thì đạt được nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định vãng sanh Cực Lạc là Thị.

Nếu ước theo cảnh giới Cực Lạc thì cõi Cực Lạc chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại, không” nên là Như; cảnh giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư huyễn nên gọi là Thị.

Hơn nữa, xét theo chánh báo, chúng sanh cõi Cực Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng giống với huyễn thân của chúng sanh cõi Sa Bà có sanh tử; cho nên gọi là Như. Hoa nở gặp Phật, chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.

Nếu ước theo đức Di Đà Như Lai mà nói thì bốn mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu kiếp tu hành đúng như thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như. Nay đã thành tựu, thỏa mãn sở nguyện, tạo thành cõi Cực Lạc để độ khắp chúng sanh niệm Phật, từ khi thành Phật đến nay đã là mười kiếp, thật chẳng phải là chuyện hư vọng nên gọi là Thị.

Hơn nữa, y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù thắng trang nghiêm trong cõi Cực Lạc, không điều gì chẳng phải do công đức nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành và do tâm niệm của chúng sanh niệm Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.

Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng bậc nhất, không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như. Tuân lời Phật dạy, niệm Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.

1.2.2. “Ngã văn”

“Ngã văn” là Văn Thành Tựu, ngụ ý: pháp như thế ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.

Phàm những lời Đức Phật đã giảng, Ngài A Nan đều lãnh hội, chẳng quên một câu nào, nên Đức Phật từng tán thán: “Phật pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.

Chữ Ngã ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt bẻ: “Phật pháp coi Ngã Chấp là căn bịnh chấp trước lớn và là căn bản của mọi sự ác. Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả sao còn chấp ngã tướng như vậy?” Xin trả lời: Ngã có nhiều thứ bất đồng:

- Vọng ngã: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc thân tứ đại chẳng phải là Ngã mà vọng chấp là Ngã.

- Thần ngã: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấm là Thần Ngã.

- Giả ngã: Nhị Thừa hiểu rõ Ngũ Ấm chẳng phải là Ngã, nhưng giả nói có Ngã.

- Chân ngã: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp Thân, gọi là Chân Ngã.

- Tự tại ngã: Từ quả khởi dụng, hoằng pháp lợi sanh, gọi là Tự Tại Ngã.

Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả, đã đoạn sạch phiền não trong tam giới, đã trừ khử được ngã chấp lầm lạc của phàm phu, không còn dính mắc nơi tà kiến chấp ngã của ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngã giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta cùng A Nan ở chỗ Phật Không Vương đồng thời phát Bồ Đề tâm”,cho thấy Ngài A Nan chỉ quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo thế tục giả xưng là Ngã. Đấy là phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp Thân đại sĩ đó thôi.

Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngã, chẳng nói là Vô Ngã là vì các nguyên nhân sau:

- Vì dễ nói: Nếu nói là Vô Ngã thì trong ba thứ Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối tượng lãnh thọ kinh này?

- Thuận theo thế gian mà nói Ngã.

- Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi nghe nói Vô Ngã. Đại chúng nghe nói Vô Ngã sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?

Nếu vậy, tại sao không nói rõ là “A Nan tôi nghe” mà lại chỉ chép là “ngã văn?”

Vì các lý do sau đây:

- Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân Đế, nhưng trong Tự Phần chẳng dùng văn tự trái nghịch với Tục Đế. Về lý tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói chung là: Tuy hiển thị Chân Đế nhưng chẳng rời Tục Đế vậy.

- Chữ Ngã có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện ghi: “Có ba A Nan: Một là A Nan Đà (Khánh Hỷ) trì Thanh Văn Tạng; hai là A Nan Bạt Đà (Hỷ Hiền) trì Độc Giác Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải) trì Bồ Tát Tạng”.Thật ra chỉ có một vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra ba tên như thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn nghĩa đều trọn đủ, lại tổng trì Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh thì đối với các pháp sẽ chẳng được tự tại (vì còn hạn cuộc vào một pháp nhất định). Vì thế, Ngài phải xưng là Ngã để trọn đủ nghĩa “tự tại”.

- Chữ “Ngã” ngụ ý là đích thân. Thế gian hay nói “đích thân tôi nghe thấy” sự như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được nghe từ nơi Thế Tôn.

Nhĩ căn nhận lãnh âm thanh gọi là Văn (nghe). Tai nghe nhưng lại bảo là “ngã văn” vì Ngã là chủ thể, Nghe là công dụng của nhĩ căn, mà thân lại chính là tổng thể của sáu căn. Vì thế, dựa theo tổng thể mà nói nên chép là “ngã văn”.

Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lý, trước hết phải nghe pháp. Cõi Sa Bà này dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được công dụng để thành tựu đạo xuất thế.

Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngã ở đây là Chân Ngã nơi tự tánh. Dùng cái chân ngã nơi tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ căn có công dụng thô phù, chỉ lãnh nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa phải là “nghe” một cách chân thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân tâm để lắng nghe nên gọi là “ngã văn”.

1.2.3. Tín văn duyên do(nguyên do phải có Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu)

Tín Thành Tựu và Văn Thành Tựu nhằm phát khởi tín tâm nơi thính giả. Tín tâm có phát khởi mới có thể y giáo tu hành, đạt được lợi ích chân thật.

Nói tổng quát, đầu các kinh phải đề bốn chữ “như thị ngã văn” vì:

a. Tuân thủ lời di chúc của Phật:

Hết thảy kinh điển đều do đích thân Đức Phật thuyết ra; nhưng lúc Phật còn tại thế kinh điển chưa được ghi chép lại. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan bi cảm, khóc lóc thảm thiết. Trưởng lão A Na Luật khuyên A Nan nên nén lòng, hỏi Phật bốn điều: “Lúc Phật còn tại thế, chúng con nương vào Phật mà trụ. Khi Phật đã nhập diệt rồi, nên nương vào đâu? Lúc Phật còn tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật nhập diệt rồi, lấy gì làm thầy? Phật còn tại thế, Ngài tự điều phục ác tánh tỳ kheo; nay Phật mất đi, làm saođiều phục? Hết thảy kinh giáo Đức Phật đã thuyết, đến khi kết tập nên để thế nào, để cho hậu thế dốc lòng tin tưởng?”

Phật dạy: “Nên lấy giới làm thầy, y theo Tứ Niệm Xứ mà trụ. Bọn tỳ kheo khác nên dùng biện pháp mặc tẫn để trị phạt (“mặc tẫn” là im lặng, không chuyện trò, giao thiệp với họ để cô lập họ). Đầu hết thảy các kinh nên để “như thị ngã văn nhất thời Phật tại mỗ xứ dữ đệ tử nhược can câu”(tôi nghe đúng như thế này: Một thời Đức Phật ngự tại chỗ mỗ), cùng với bao nhiêu đệ tử nhóm họp).

b. Đoạn nghi hoặc:

Lúc kết tập kinh điển, A Nan lên pháp tòa, đột nhiên tướng hảo trang nghiêm giống hệt như Phật, khiến cho thính chúng phát khởi ba thứ nghi vấn: Một là nghi Phật sống lại, hai là nghi Phật từ phương khác đến, ba là nghi A Nan đã thành Phật. Khi Ngài A Nan xướng to “như thị ngã văn”, ba mối nghi ấy đều trừ sạch.

c. Dứt tranh cãi:

Khi kết tập, Ngài A Nan thị hiện mới chứng Sơ Quả, đức hạnh còn thua các trưởng lão A La Hán khác, huống hồ là các bậc địa thượng Bồ Tát (địa thượng Bồ Tát là các vị Bồ Tát đã chứng từ Sơ Địa trở lên)? Nếu chẳng nói “như thị ngã văn’, ắt sẽ có vị bắt bẻ, cho rằng những kinh pháp đó do A Nan tự ý nói ra. Nay nói những pháp ấy đều do đích thân Ngài nghe từ Đức Phật thì đại chúng đều công nhận A Nan là bậc đa văn đệ nhất, nghe qua tai chẳng hề quên mất, nên sẽ không tranh biện nữa.

d. Khác với kinh điển ngoại đạo:

Kinh ngoại đạo thường bắt đầu bằng hai chữ “A Ưu”. A là không, Ưu là có. Họ dùng hai chữ ấy với ngụ ý có và không đều đủ cả chẳng khuyết. Nay dùng sáu thứ thành tựu để giúp người học Phật phân biệt giữa kinh Phật và kinh ngoại đạo.

1.2.4. Nhất thời

“Nhất thời” là Thời Thành Tựu (thời tiết nhân duyên chưa đến thì chưa ban đại pháp, đúng thời mới thuyết pháp nên gọi là Thời Thành Tựu).

Thời không có thực thể nhất định, chỉ là từ sự mà đặt tên, chẳng hạn như thời thuyết pháp, thời làm việc v.v... Đức Phật thuyết pháp trên cõi trời, hoặc ở long cung, hoặc nơi chốn quỷ. Do xứ sở sai khác nên thời gian cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn năm mươi năm trên cõi người chỉ bằng đúng một ngày nơi cõi Tứ Thiên Vương, ở Nam Thiệm Bộ Châu vừa đúng ngọ, Bắc Câu Lô Châu đã sang canh ba; lịch pháp của Đông phương khác với lịch Tây Phương. Bởi thế chẳng thể xác quyết là năm tháng nào, ngày giờ nào.

Hiểu theo Duy Thức, chữ Thời có hai nghĩa:

- Một là “đạo lý thời”: Trong từng sát na, ngũ uẩn của người nói lẫn kẻ nghe sanh diệt liên tục, thành ra dường như có trước, có sau, nên mới giả lập có tam thế. Cứ mỗi một khoảng sanh diệt ấy gọi là Nhất Thời vậy.

- Hai là “duy thức thời”: nơi tâm thức của người nói, kẻ nghe sanh khởi tướng trạng ba thời. Do tâm tưởng phân biệt của chúng sanh mà thấy có thời gian dài ngắn, khi sự việc kết thúc thì gọi là “nhất thời”. Khác nào như nằm mộng tưởng là đã trải qua nhiều đời, tỉnh giấc mới biết toàn là những sự biến hiện trong tâm chứ chẳng có cảnh thật. Tâm của người nghe sanh khởi ý niệm tam thế cũng như vậy.

Như vậy, cứ mỗi khi người nghe căn cơ thuần thục sẽ cảm được Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật từ bi ứng cơ, nói và vừa xong thì gọi là Nhất Thời.

1.2.5. Phật:

Phật là Chủ Thành Tựu (nếu thuyết pháp không có người làm chủ thì biết nhờ vào ai để khai hiển giáo pháp). Phật ở đây là đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Phật đầy đủ ba thứ giác như phần trên đã giảng. Ngài là bậc đại giác thánh nhân, công đức viên mãn tột bậc.

1.2.6. “Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên”:

Đây là Xứ Thành Tựu.

a. “Tại” có nghĩa là trụ. Pháp thân chư Phật vô trụ, vô bất trụ. Pháp thân vốn vô hình vô tướng nên bảo là “vô trụ”. Tâm lượng bao trùm trọn khắp pháp giới nên bảo là “vô bất trụ”. Báo thân chẳng trụ, hễ gặp đại căn cơ cảm phát thì trụ, như trong hội Hoa Nghiêm Phật hiện thân Tỳ Lô Giá Na (Hán dịch là Quang Minh Biến Mãn) để thuyết giáo pháp viên đốn. Ứng thân cũng chẳng trụ, toàn là do căn cơ của chúng sanh cảm ứng mà được thấy, tùy từng loại chúng sanh mà thấy thân Phật khác nhau.

Ứng thân ứng hiện theo căn cơ để thuyết pháp thì giả gọi là Trụ. Chẳng hạn như đức Bổn Sư trụ thế tám mươi năm, khi căn cơ hóa độ đã hết, ứng thân liền diệt. Nay trong kinh này, Phật trụ tại nước Xá Vệ, ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.

b. Xá Vệ là tên một thành phố, gọi cho đúng là Thất Lợi La Phiệt Tất Để, chính là đô thành của nước Kiều Tát La (Hán dịch là Công Xảo). Kiều Tát La là một trong mười sáu nước lớn ở Trung Ấn Độ thời ấy. Ở đây nói “Xá Vệ Quốc” là gọi tên nước theo kinh đô vậy.

Xá Vệ, Hán dịch là Văn Vật hoặc Phong Đức, ngụ ý sản vật tươi tốt, dồi dào nổi danh khắp các nước. Nước có nhiều của cải sản vật là Phong, dân trong nước có nhiều người giải thoát đa văn là Đức. Theo kinh Kim Cang Bát Nhã, thuở xưa có hai anh em tu tiên đắc quả tại đó nên thành ấy được mang tên là Xá Đề Bà (cách phiên âm khác của chữ Xá Vệ). Cách thành ấy sáu dặm có một hoa viên lớn, thuộc quyền sở hữu của thái tử Kỳ Đà.

c. Chữ Kỳ trong “Kỳ thọ” chỉ thái tử Kỳ Đà (còn phiên âm là Thệ Đa - Jeta, nên vườn Kỳ Đà còn gọi là Thệ Đa Lâm. Thái tử là con vua Ba Tư Nặc (Hán dịch là Hòa Duyệt hay Thắng Quân). Kỳ Đà nghĩa là Chiến Thắng vì khi vua Ba Tư Nặc giao tranh cùng lân quốc, chiến thắng hồi triều nhằm đúng lúc Thái Tử sanh ra nên đặt tên con như thế. Thọ là cây cối.

Cấp Cô Độc là tên một vị Trưởng Giả, là một đại thần của vua Ba Tư Nặc, tên thật là Tu Đạt Đa (còn gọi tắt là Tu Đạt, Hán dịch là Thiện Thí). Cấp có nghĩa là chu cấp, chẩn tế. Trẻ nhỏ không cha gọi là Cô, người già không con gọi là Độc. Già không vợ gọi là Quan, già không chồng gọi là Quả. Đó là bốn hạng người khốn khổ trong xã hội. Ở đây chỉ dùng hai chữ “Cô Độc” để bao gồm cả hai loại kia, cũng như tất cả những người bần cùng, khốn khổ khác. Ông Tu Đạt Đa thường đem của cải chu cấp, cứu giúp những người nghèo cùng khốn khổ, cô đơn, nên được mỹ hiệu là Cấp Cô Độc.

Khi Đức Phật còn ngự tại nước Ma Kiệt Đà, chưa đến Xá Vệ, ông Tu Đạt Đa vì cưới vợ cho con phải qua thành Vương Xá, ở tại nhà trưởng giả San Đàn Na, thấy ông San Đàn Na nửa đêm thức dậy, đốc thúc gia nhân sửa soạn tiệc chay. Ông Tu Đạt Đa hỏi bạn: “Ngài muốn thỉnh quốc vương đến nhà hay là làm tiệc chúc thọ vậy?” Ông kia đáp: “Đâu phải! Tôi muốn thỉnh Phật Đà đến cúng dường”. Tu Đạt Đa nghe đến hai chữ Phật Đà, lông trên thân dựng cả lên, trong lòng khoan khoái, hỏi: “Phật Đà là ai?” San Đà Na liền thuật tỉ mỉ các công đức của Phật.

Tu Đạt Đa nghe xong, thiện căn đời trước lập tức phát khởi, hoan hỷ, náo nức, sanh lòng kính mộ sâu xa, liền hỏi Phật đang ở đâu? Khi biết đức Thế Tôn đang ở Trúc Lâm Tinh Xá, ông mong được đến gặp Phật ngay. Phật biết tâm ông khát ngưỡng thiết tha nên từ bi phóng đại quang minh khiến đêm đen sáng trưng như ban ngày. Theo ánh sáng, ông tìm đến Trúc Lâm cách nhà trưởng giả San Đàn Na hơn năm mươi dặm.

Trong khi đi đường, ông thấy miếu thờ trời bèn tạt vào làm lễ. Ánh quang minh liền tắt phụt. Tu Đạt Đa sanh lòng hổ thẹn, ánh Phật quang lại rạng ngời như cũ, Đến nơi, ông thấy Phật đang đi kinh hành trong sân. Thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật, ông càng thêm kính ngưỡng, nhưng chưa biết lễ kính thế nào. Khi ấy, Thủ Đà Thiên trên hư không liền hóa ra bốn người đến trước Thế Tôn đầu mặt lạy chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba vòng, hồ quỳ, chắp tay thưa hỏi. Tu Đạt Đa theo đúng cách thức đó lễ Phật.

Phật giảng pháp Tứ Đế, ông xiết bao hoan hỷ, cảm ngộ, chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, bèn thỉnh Phật quang lâm Xá Vệ. Phật bảo phải có tinh xá để chứa đựng chúng Tăng, ông bèn thỉnh Phật chỉ dạy cách thức kiến thiết tinh xá. Phật sai Ngài Xá Lợi Phất theo ông qua Xá Vệ để hướng dẫn việc lập tinh xá.

Xem khắp trong nước, Ngài Xá Lợi Phất thấy chỉ mỗi hoa viên của thái tử Kỳ Đà là nơi thích hợp hơn cả. Tu Đạt Đa bèn đến xin mua lại hoa viên của Thái Tử, Thái Tử nghe vậy bèn nói giỡn: “Nếu khanh đem vàng lót kín đất, ta sẽ nhượng cho khanh”. Trưởng giả tức thời chở vàng đến lót kín vườn. Cảm động trước tấm chân thành ấy, Thái Tử Kỳ Đà xin dâng cúng cây trong vườn để góp công đức. Theo kinh Hiền Ngu, Đức Phật bảo A Nan: “Khu rừng vườn này do ông Tu Đạt mua, cây cối hoa cỏ trong rừng thuộc sở hữu của thái tử Kỳ Đà. Hai người đồng tâm cùng lập tinh xá nên đặt tên nơi này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên”.

Khu tinh xá này ở phía Nam thành Xá Vệ, gồm mười hai ngôi chùa, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm phòng ốc, năm trăm lầu gác, được kiến lập đúng vào lúc Đức Phật đã thành đạo được sáu năm.

1.2.7.Tiền ngũ chủng thành tựu đích hiển lý(thuyết minh về mặt lý năm điều thành tựu trên)

“Như thị” biểu thị tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ: không khiếm khuyết là Như, ai cũng sẵn có là Thị; đấy là nghĩa “tự tánh Di Đà”. Chẳng lìa ngay đương xứ là Như, toàn thể không gì là chẳng sai sót là Thị, đấy là nghĩa “duy tâm Tịnh Độ”.

“Ngã văn” là tự tánh thấu suốt cùng tột mười phương. “Nhất thời” là sáu căn quy nguyên, Thể và Dụng dung hợp lẫn nhau. Phật ngự tại Kỳ Viên biểu thị tự tánh chẳng lìa đương xứ. Giảng pháp này tại nước Xá Vệ là nước thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ rộng lớn sâu xa, là pháp tối thượng. Trong vườn ấy, cây thuộc về Thái Tử Kỳ Đà nên cây cối nơi ấy cũng thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ lợi lạc quần sanh, khiến họ vĩnh viễn lìa khỏi nhiệt não. Vườn ông Cấp Cô Độc là ngôi vườn thù thắng trong các tịnh xá thời đó, biểu thị Tịnh Độ thù thắng trang nghiêm, chúng sanh nhờ đó luôn hưởng thọ các sự an lạc.

Hơn nữa, thái tử Kỳ Đà thuộc giòng dõi thù thắng, biểu thị người được vãng sanh Tịnh Độ rốt ráo thành Phật, tiếp nối giòng dõi Phật. Trưởng giả Tu Đạt là hạng người thù thắng, biểu thị người sanh trong Tịnh Độ đều là bậc thượng thiện nhân.

1.3. Chúng thành tựu

1.3.1. Thanh Văn chúng (chúng Thanh Văn)

1.3.1.1. Minh hiển tiêu số(nêu rõ đức hạnh và số lượng của chúng Thanh Văn)

Chánh kinh:

Dữ đại tỳ kheo tăng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.

(Cùng với chúng đại tỳ kheo tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị cùng họp lại).

Giải:

Từ câu “Đại tỳ kheo tăng” cho đến “chư thiên đại chúng” là thuộc về Chúng Thành Tựu. Phải nêu rõ đại chúng nghe pháp gồm những ai là vì:

- Để chứng tín: không phải riêng mình Ngài A Nan được nghe pháp này mà còn có những vị như thế hiện diện, chứng thực tính chân xác của kinh.

- Để minh định rõ đại chúng nghe pháp, ai là Quyền, ai là Thật. Phật Địa Luận chép: “Hóa thân Phật thuyết pháp trong uế độ thì Thanh Văn là thật, Bồ Tát là quyền. Báo thân Phật thuyết pháp trong Tịnh Độ thì Bồ Tát là thật, Thanh Văn là quyền”. Cõi Sa Bà này là uế độ, đương nhiên chúng Bồ Tát là quyền.

Thính chúng nghe pháp gồm có năm loại: một là chúng đạo hạnh cao quý, hai là chúng bi tâm rộng lớn, ba là các chư thiên ưa thích Phật pháp, bốn là nhân loại trong Dục giới, năm là chúng phi thiên, a tu la v.v...

Ở đây chúng Thanh Văn là những bậc đức hạnh cao quý nên được nêu trước hết.

Hỏi: Vì sao trong các kinh khác đều kể rõ có thiên long bát bộ nghe pháp, kinh này chỉ nói đến ngũ chúng?

Đáp: Pháp môn Tịnh Độ đây, nếu chẳng phải là bậc thượng đức, thượng hiền thì chẳng thể nào tin nhận nổi. Vì thế chỉ nêu năm chúng, chẳng nêu các chúng khác.

Năm chúng đây lại có thể chia thành hai loại: nội hộ chúng và ngoại hộ chúng. Nội hộ chúng là Thanh Văn, Bồ Tát; ngoại hộ chúng là chư thiên, nhân loại, phi thiên...

Theo Phật Địa Luận, chúng Thanh Văn được nêu trước chúng Bồ Tát vì những nguyên nhân sau đây:

- Hình tướng bất đồng: Thanh Văn là bậc xuất gia, hình tướng giống như Phật, trì xuất gia giới. Bồ Tát không giống như vậy.

- Xét về nơi chốn có gần hay xa: Thanh Văn gần Phật, Bồ Tát vì hóa độ chúng sanh nên không thể thường xuyên gần gũi Phật được.

- Giới đức sai khác: Thanh Văn xuất gia trì giới xuất gia, Bồ Tát chẳng giống vậy vì phải tùy thuận để hóa độ chúng sanh.

- Muốn cho hàng Bồ Tát chẳng sanh tâm kiêu mạn đối với chúng Thanh Văn.

“Một ngàn hai trăm năm mươi người”là nói về số lượng của các vị đại đức xuất gia. “Dữ”nghĩa là cùng với.

Dùng chữ “Đại” để phân biệt với tiểu, hàm ý những vị hiện diện trong pháp hội này chẳng phải là hạng tiểu căn cơ, sơ tâm tỳ kheo. Trong tiếng Phạn, Đại là Ma Ha. Chữ Ma Ha gồm có đến ba nghĩa: lớn, nhiều, thù thắng. Nay chỉ dùng chữ Đại để đại diện cho cả ba đức.

- Các tỳ kheo được trời người kính ngưỡng, đức cao trọng vọng nên gọi là Đại, hàm nghĩa chẳng phải là Tiểu đức. Chẳng hạn như Ngài Mục Liên là thầy của Đế Thích, Ngài Ca Diếp là thầy của Phạm Vương.

- Trí huệ sâu thẳm, thông đạt thấu suốt nội điển, ngoại tịch, nên bảo là Đa, tức chẳng phải là kẻ học thức kém cỏi.

- Hơn hẳn chín mươi sáu thứ ngoại đạo nên bảo là Thắng, chẳng phải là căn cơ hèn kém vậy.

Bồ Tát Long Thọ lại bảo chữ Đại được dùng ở đây để ngầm nêu năm nghĩa:

- Số đại: vì có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo dự pháp hội.

- Ly đại: vì đã đoạn được đại chướng (phiền não).

- Vị đại: vì họ đều là bậc đại A La Hán.

- Danh đại: tên tuổi lẫy lừng khắp nơi.

- Thức đại: được bậc đại nhân và đại chúng cùng biết đến.

Các vị tỳ kheo dự hội đây đều là hạng mật hạnh Bồ Tát, thị hiện hình tướng Thanh Văn để hóa độ chúng sanh. Các Ngài là bậc thường du hóa cõi Phật, trang nghiêm tịnh độ, trên thì vận dụng trí để cầu thượng quả, dưới thì vận lòng bi để tiếp độ chúng sanh.

Chữ “tỳ kheo” (còn phiên âm là Bật Sô hay Bí Xu) có năm nghĩa:

a.Khất sĩ:

Khất là cầu xin. Đức Phật chế định tỳ kheo phải hành hạnh khất thực (tiếng Phạn là Phần Vệ), vì có năm điều lợi ích: trừ tâm kiêu mạn; giúp thế nhân gieo trồng phước điền; chẳng bị việc kinh doanh làm phiền lụy; chẳng sanh khởi ý niệm cất chứa, tham cầu; rảnh rang để nhất tâm chuyên tu.

“Khất” còn có nội nghĩa và ngoại nghĩa. Nội nghĩa là khất pháp nơi Đức Phật để nuôi dưỡng huệ mạng, ngoại nghĩa là khất cầu nơi đàn việt (thí chủ) để duy trì sắc thân.

b. Phá ác:

Phá là trừ diệt, Ác là kiến hoặc, tư hoặc phiền não. Như vậy, “phá ác” là diệt ác pháp phiền não, diệt ác nhân sanh tử trong tam giới.

c. Bố ma:

Hễ có người phát tâm xuất gia, Ma vương nghe biết rất sợ hãi, chỉ sợ người ấy thành đạo xuất thế khiến ma chúng bị giảm bớt. Vì thế, gọi là Bố Ma (làm cho ma sợ hãi).

d. Trì tịnh giới.

e. Tịnh mạng:

Đã thọ giới nên những hành vi, ngôn ngữ, ý niệm chẳng còn phát khởi từ tham tâm nữa cũng như chẳng dùng những phương cách dâm tà để nuôi sống thân mình.

“Tăng” gọi đủ là Tăng Già, dịch là Hòa Hợp Chúng. Hòa Hợp có hai nghĩa Lý Hòa và Sự Hòa:

- Đồng chứng vô vi giải thoát là Lý Hòa.

- Sự Hòa gồm sáu điều: Thân hòa đồng trụ (thân hòa hợp cùng trụ một chỗ), khẩu hòa vô tranh (miệng hòa hợp không tranh cãi), ý hòa đồng duyệt (ý hòa hợp vui vẻ cùng nhau), kiến hòa đồng giải (cùng hòa hợp chia sẻ kiến giải với nhau), giới hòa đồng tu (cùng hòa hợp giữ giới với nhau), lợi hòa đồng quân (hòa hợp chia xẻ lợi dưỡng đồng đều cho nhau). Đủ sáu điều hòa hợp như thế mới đáng gọi là Tăng.

“Một ngàn hai trăm năm mươi người”:Khi Đức Phật mới thành đạo, độ năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển (năm vị này có quan hệ huyết thống với Phật. Mã Thắng, Tiểu Hiền, Ma Ha Nam là anh em họ bên nội; Thập Lực Ca Diếp, Kiều Trần Như là anh em họ bên ngoại). Tiếp đó, độ con trai của trưởng giả Da Xá và bạn bè (Da Xá đây là con trai của một vị trưởng giả họ Câu Lê ở thành Tỳ Xá Ly thuộc nước Ba La Nại, nên gọi là Da Xá trưởng giả tử), tổng cộng là năm mươi lăm người.

Tiếp đó, ở rừng Mộc Qua, độ thầy trò Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tất cả là năm trăm người. Độ thầy trò Già Da Ca Diếp ở núi Tượng Đầu và thầy trò Na Đề Ca Diếp bên sông Ni Liên Thiền, tổng cộng là 500 người (Ca Diếp là họ, Ưu Lâu Tần Loa là rừng Mộc Qua, Già Da là núi Đầu Voi, Na Đề tức là tên gọi khác của sông Ni Liên Thiền. Ba anh em nhà này cùng theo ngoại đạo thờ lửa, tên đặt theo chỗ ở. Đức Thế Tôn độ họ sau khi Ngài đã thành đạo được ba năm).

Kế tiếp hóa độ thầy trò của các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên gồm hai trăm người.

Tính chung lại tất cả gồm một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Ở đây chỉ kể “một ngàn hai trăm năm mươi người” là tính tròn.

Hỏi: Phật độ vô lượng chúng sanh, sao lại chỉ nêu tên một chúng này?

Vì nhiều lý do: họ là những người quy hướng Phật giáo trước tiên, được chứng đắc thánh quả trước tiên, vì họ thường theo hầu Phật.

“Câu”là cùng lúc họp lại.

1.3.1.2. Biểu vị thán đức(nêu địa vị, khen ngợi đức)

Chánh kinh:

Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức.

(Đều là đại A La Hán, [đức hạnh, nhân phẩm, đạo học của họ đều] được mọi người hay biết (công nhận)).

Giải:

Câu “Đại A La Hán”là nêu địa vị, câu “chúng sở tri thức”nhằm tán thán đức của các vị ấy.

Chữ “giai thị”ngụ ý: một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo trên đây, không vị nào chẳng phải là Đại A La Hán.

Quả vị của chúng Thanh Văn gồm có bốn bậc:

- Sơ Quả Tu Đà Hoàn (Hán dịch là Dự Lưu), vừa mới dự vào dòng thánh.

- Nhị Quả Tư Đà Hàm (Hán dịch là Nhất Vãng Lai hay Nhất Sanh): trong chín phẩm Tư Hoặc của Dục Giới, mới chỉ đoạn được sáu hoặc nên còn phải thọ sanh trong nhân gian hay cõi trời một lần nữa.

- Tam Quả A Na Hàm (Hán dịch Bất Lai): đã đoạn sạch chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới, chẳng cần phải tái sanh trong Dục Giới nữa.

- Tứ Quả A La Hán (Hán dịch là Vô Sanh): không còn bị thọ sanh trong tam giới nữa.

Muốn chứng Tứ Quả thì phải đoạn bốn địa vị trong Sắc Giới, bốn địa vị trong Vô Sắc Giới. Mỗi địa vị có 9 phẩm Tư Hoặc, tổng cộng là phải đoạn 72 phẩm Tư Hoặc, và phải đoạn cả 88 Sử (Kiến Hoặc) ở Dục Giới mới chứng đắc Tứ Quả. Kiến Hoặc và Tư Hoặc chính là căn bản để thọ sanh trong tam giới nên phải đoạn sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc thì mới khỏi phải sanh trong tam giới nữa.

Từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả đều gọi là Thanh Văn. Thanh Văn là những vị nghe giáo pháp Tứ Đế mà nhập đạo. Những thánh chúng Thanh Văn hiện diện trong pháp hội này đều là bậc Tứ Quả, tức là đạt địa vị tối cực trong chúng Thanh Văn nên gọi là Đại.

A La Hán có hai loại:

- Định tánh A La Hán: khăng khăng bảo thủ Chân Không, chìm đắm trong tịch diệt, đắc quả chút ít đã cho là đủ thì gọi là Định Tánh, là tiểu căn.

- Hồi tâm A La Hán: nếu hồi tiểu hướng đại, phát Bồ Đề tâm, chẳng cầu tự lợi thì gọi là hồi tâm A La Hán.

Chúng A La Hán trong pháp hội này toàn là bậc hồi tâm A La Hán nên gọi là Đại.

Thêm nữa, lại có ba loại A La Hán:

- Huệ giải thoát: tu Tánh Niệm Xứ, chỉ duyên theo chân lý, chỉ chứng địa vị vô học, đắc Diệt Tận Định.

- Câu giải thoát: tu Cộng Niệm Xứ, kiêm tu sự tướng, đắc Diệt Tận Định, đầy đủ tam minh, bát giải thoát).

- Vô ngại giải thoát: Tu Duyên Niệm Xứ, duyên theo Phật pháp trong Tam Tạng, thông đạt kinh điển thế gian, xuất thế gian một cách vô ngại.

Bậc A La Hán trong pháp hội đây đều là bậc Vô Ngại Giải Thoát nên gọi là Đại.

“A La Hán”là tiếng Phạn, gồm có ba nghĩa:

a. Ứng Cúng:

Ứng có nghĩa là tương ứng, hoặc xứng đáng nhận lãnh. Cúng là cúng dường. A La Hán là bậc phạm hạnh đã lập, siêu xuất tam giới, đáng thọ lãnh sự cúng dường, tôn kính của trời người, nên gọi là Ứng Cúng. Vì sao trong mười danh hiệu của Phật cũng có danh xưng Ứng Cúng? Đó là vì Phật là bậc đáng được hết thảy thế gian: trời, người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cúng dường. Phật là bậc Đại Ứng Cúng, A La Hán chỉ là Tiểu Ứng Cúng.

b. Sát Tặc:

Sát là giết chết, đoạn diệt. Tặc là trộm cướp. Dùng trộm cướp để ví cho Kiến Hoặc, Tư Hoặc thường cướp đoạt pháp tài công đức của chúng sanh, khiến họ vĩnh viễn trầm luân trong sanh tử luân hồi. Bậc A La Hán đã đoạn sạch phiền não Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nên gọi là Sát Tặc.

c. Vô Sanh:

Việc làm (tức sự nghiệp đoạn trừ phiền não) đã xong, đã thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, nên gọi là Vô Sanh.

Tỳ kheo là nhân, A La Hán là quả. Do nhân khất sĩ, tịnh mạng, tịnh giới nên được Ứng Cúng. Chống cự lại phiền não (Phá Ác), đạo đã thành, ác đã phá, là nhân của Sát Tặc. Xuất gia thọ giới có nhân Bố Ma nên nay đạo thành, chứng đắc địa vị La Hán, nên được quả Vô Sanh.

“Chúng sở tri thức”:Chúng tức là đại chúng trời, người. Hai chữ “tri thức” có nhiều cách giải thích:

- Nghe danh ngưỡng mộ đức là Tri; gặp tận mặt, nghe dạy dỗ là Thức.

- Nghe danh gặp mặt là Tri, hiểu tâm rõ tánh là Thức.

- Biết mặt là Tri, biết đức là Thức.

- Nếu chỉ nghe danh mà chưa gặp mặt thì mới là Tri, chưa phải là Thức. Tuy gặp mặt mà chẳng nghe danh thì mới là Thức, chứ chưa phải là Tri. Nếu do nghe danh mà ngưỡng đức, đã gặp mặt lại nghe dạy dỗ, lại còn biết rõ tâm tánh của người ấy thì gọi là Tri Thức.

Đây là những cách giải thích dựa trên phương diện đại chúng mà luận. Lại còn có cách giải thích chữ “tri thức” ở một mức độ cao hơn như sau:

“Hiểu sâu chân lý là Tri, thông đạt pháp tướng một cách sâu rộng là Thức”.

Như vậy, những bậc A La Hán được nêu ở đây đều là những vị đức cao trọng vọng, kham làm tròng mắt cho trời - người, hỗ trợ Đức Phật giáo hóa chúng sanh, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi, là bậc được khắp đại chúng hay biết, nên gọi là “chúng sở tri thức”.

Nếu luận về Lý của câu kinh này thì:

Đại tỳ kheo Tăng là lý trí nhất như (tức là ý nghĩa “hòa hợp”). Một ngàn hai trăm năm mươi người cùng nhóm là các công đức đều tụ tập lại. Đại A La Hán biểu thị: tự tánh tùy duyên (tức là ý nghĩa Ứng Cúng), tâm nguyên vốn vắng lặng (tức là ý nghĩa Sát Tặc), tự tánh bất biến (tức là ý nghĩa Vô Sanh). Tri thức biểu thị tự tánh chẳng mê, tâm nguyên vốn sáng ngời.

1.3.1.3. Lệ danh thượng thủ(nêu tên các vị thượng thủ)

Chánh kinh:

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà.

Giải:

“Trưởng lão”:Đức cao, học rộng là Trưởng, tuổi tác cao là Lão. như vậy, Trưởng Lão là tiếng để tôn xưng bậc đức hạnh lẫn tuổi tác đều cao. Có bốn loại trưởng lão:

a. Pháp lạp trưởng lão là hạng xuất gia lâu năm (pháp lạp là tuổi xuất gia. Cứ mỗi một năm xuất gia tính là một lạp. Hạ lạp là tuổi tính theo mỗi lần an cư kiết hạ. Nay thường đồng nhất hai tuổi này)

b. Học đức trưởng lão là bậc học vấn sâu xa, rộng rãi.

c. Pháp tánh trưởng lão là bậc đạo quả cao siêu.

d. Niên kỷ trưởng lão là bậc xuất gia tuổi đời đã cao.

Trong kinh này, dù là bậc đức trọng tuổi cao hoặc bậc đức trọng nhưng tuổi đời còn trẻ đều dùng hai tiếng “trưởng lão” để tôn xưng.

Mười sáu vị tôn giả được nêu tên trên đây đều xứng đáng gọi là “trưởng lão”, chứ chẳng phải mình Ngài Xá Lợi Phất đáng được gọi như vậy.

1) Xá Lợi Phất(đọc đủ là Xá Lợi Phất Đát La):

Ngài là người Nam Thiên Trúc, con của bà la môn Đề Xá. Tên thật là Ưu Ba Đề Xá, gọi theo họ mẹ là Xá Lợi Phất. Xá Lợi là tên một loài chim, Tàu dịch là Thu Lộ, Phất là con. Xá Lợi Phất nghĩa là con bà Xá Lợi (Tàu thường dịch nghĩa chữ Xá Lợi Phất thành Thu Tử hoặc Thân Tử. Gọi là Thân vì bà mẹ Ngài hình dung yểu điệu, xinh đẹp phi thường. Gọi là Thu vì mắt bà đẹp và trong suốt, long lanh như mắt chim Thu Lộ). Ấn Độ thường gọi tên con theo tên mẹ để biểu thị lòng tôn kính cùng cực, không gọi thẳng tên thật ra.

Tôn giả trí huệ phi thường, khi còn trong thai mẹ đã khiến mẹ tranh biện giỏi hơn người. Ông anh Câu Hy La mỗi khi tranh luận với bà luôn bị thua cuộc. Cha Ngài Xá Lợi Phất là hạng giàu có, học rộng, không kinh sách nào không tham cứu. Khi cấn thai Ngài, bà Xá Lợi mộng thấy có một dị nhân, thân mặc giáp trụ, tay cầm kim cang xử, đập nát các ngọn núi, rồi đứng dưới một ngọn núi khác. Cha Ngài Xá Lợi Phất giải mộng: “Bà sẽ sanh ra một đứa con trai, trí huệ học vấn đứng đầu thế gian, ngôn ngữ không úng tắc”.

Năm lên tám tuổi Ngài đã thông suốt tất cả sách vở thuộc hệ thống Tứ Vi Đà, từng chiết phục các luận sư khắp mười sáu nước. Vừa xuất gia bảy ngày đã thông đạt hết các Phật pháp.

Thuở trẻ, tôn giả là đệ tử của học giả San Xà Na, là bạn đồng học thân thiết nhất của Ngài Mục Liên. Sau khi thầy mất, Ngài cùng tu với Mục Liên trong vùng rừng núi phụ cận thành Vương Xá. Nghe danh đức Thế Tôn đã lâu, Ngài từng muốn đến thân cận, nhưng chưa được ai tiến dẫn. Một ngày nọ Ngài gặp tỳ kheo Mã Thắng dung nghi siêu tục, liền hỏi: “Thầy Ngài là ai?” Mã Thắng đáp: “Thích Ca Thế Tôn”.

Xá Lợi Phất nghe vậy rất vui, liền bảo: “Thường nghe nói đến Thế Tôn đức hạnh cao dày, khéo nói diệu pháp, Ngài có thể vì tôi nhắc lại vài câu diệu pháp chăng?” Đáp: “Tôi tuổi còn trẻ, theo học Phật chưa lâu, làm sao dám thuật lại những nghĩa uyên áo của Đức Phật đã nói được”. Xá Lợi Phất kèo nài: “Xin hãy từ bi lược nói pháp yếu”. Mã Thắng liền đọc bài kệ:

Các pháp từ duyên sanh,

Các pháp theo duyên diệt,

Đức Phật đại sa môn,

Thường nói như thế đấy.

Nghe xong, Xá Lợi Phất cảm ngộ sâu xa, tâm sanh hoan hỷ, khen ngợi không ngớt, về thuật cùng Mục Liên, bèn cùng các đệ tử đến chỗ Phật xuất gia.

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc trí huệ đệ nhất. Kinh A Hàm chép: “Trong Phật pháp của ta, người trí huệ vô cùng, dứt sạch các mối nghi thì ông Xá Lợi Phất là bậc nhất”.Trong kinh này chỉ nêu một đức, chứ không phải Ngài Xá Lợi Phất không đủ các đức khác. Cũng không phải các vị khác không có trí huệ, kinh chỉ nêu lên những điểm sở trường, sở hảo của các vị mà thôi. Nay Phật thuyết giảng pháp môn Tịnh Độ khó tin bậc nhất, nếu chẳng phải là hạng đại trí huệ thì làm sao có thể tin tưởng sâu xa vô ngại được. Kinh nêu tên Ngài Xá Lợi Phật đầu tiên để biểu thị lấy trí huệ làm đầu vậy.

2) Ma Ha Mục Kiền Liên:

Ngài Mục Liên là người nước Xá Vệ, con của phụ tướng đại thần. Ma Ha dịch là Đại. Mục Kiền Liên dịch là Thái Thúc Thị, đó là họ của Ngài. Tổ tiên Ngài ẩn trong núi tu đạo, lấy bắp (Ngài Khuy Cơ bảo là đậu xanh) làm thức ăn nên thành họ. Tên thật của Ngài là Câu Luật Đà (tên một loài cây, dịch là Vô Tiết Thọ: cây không có lóng; cha mẹ Ngài cầu con nơi thần cây ấy mà được nên đặt tên ấy). Dòng họ này có rất nhiều người xuất gia nên thêm chữ Đại trước họ để phân biệt.

Ngài là người thần thông bậc nhất trong các đệ tử Phật, từng hàng phục rồng độc, đem năm trăm người họ Thích giấu lên cung trời khi vua Tỳ Lưu Ly sát hại dòng họ Thích v.v... Kinh A Hàm chép: “[Trong những] bậc thần thông lẹ làng nhất trong Phật pháp của ta, bay đến mười phương thì Mục Kiền Liên bậc nhất”. Ngài là bậc hiếu thuận vô song, từng vào U Minh cứu mẹ, tiến độ mẹ sanh thiên, phát khởi Vu Lan thắng hội. Luận Trí Độ ví Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị đại tướng quân chầu chực bên Phật. Xá Lợi Phất là mẹ đẻ của chúng sanh, Mục Kiền Liên là mẹ nuôi.

3) Ma Ha Ca Diếp:

Tàu dịch là Đại Quy Thị, tức là họ Đại Quy. Chữ Ca Diếp còn được dịch là Ẩm Quang vì thân Ngài thường phóng quang minh sáng rực, lấp mất các ánh sáng khác. Thuở xưa kia, cách đây 91 kiếp, trong đời Phật Tỳ Bà Thi; sau khi Đức Phật nhập diệt, tứ chúng đệ tử lập tháp thất bảo. Lúc ấy, Ngài Ca Diếp làm thợ bạc. Lâu ngày, vàng thếp pho tượng Phật ấy bị tróc lở. Có một nữ nhân bần cùng đến nỗi cơm không đủ ăn, thường lui tới chiêm lễ tượng Phật. Trong khi lễ bái, cô thấy vàng trên mặt tượng đã bị tróc hết; cô thầm nguyện: “Nếu tôi có tiền, nhất định tôi sẽ thếp vàng lại tượng”.

Một ngày nọ, cô nhặt được một đồng vàng trên đường. Cô vội đem đồng tiền ấy đến nhờ anh thợ bạc thếp tượng. Người thợ bạc ngạc nhiên hỏi: “Sao cô không dùng tiền vàng này mua y phục, thức ăn sẽ được rất nhiều, mua cả nhà cửa cũng được mà”. Cô gái đáp: “Tôi từng phát nguyện sẽ thếp vàng tượng Phật. Tiền này tôi chẳng dám dùng đâu, chỉ cần ông giúp tôi thếp vàng tượng Phật là tôi đã mãn nguyện rồi!”

Người thợ bạc quá cảm động trước tấm lòng thành của cô nên tình nguyện thếp vàng tượng Phật chẳng lấy công; lại nguyện đời đời thường làm vợ chồng, thân sáng như vàng ròng, luôn hưởng thọ sự vui thù thắng, đồng tu phạm hạnh. Do nhân lành ấy, họ đời đời được thân ánh sáng vàng ròng, lại còn có quang minh sáng hơn cả ánh sáng mặt trời. Đến khi Đức Phật giáng thế, cả hai cùng được xuất gia trong Phật pháp. Người nam là Ngài Đại Ca Diếp, người nữ chính là Ca Diếp tỳ kheo ni.

Trong các chùa Trung Hoa thường tạc hình hai vị thị giả đứng hầu bên Phật Thích Ca. Vị trẻ tuổi là Ngài A Nan. Vị già cả, mặt nhân, râu tóc bạc phơ là Ngài Ca Diếp. Tượng Ngài thường tạc ôm tay thành quyền, chứ không chắp tay, vì tương truyền, thân Ngài có quang minh chói rực, đặc biệt là mười đầu ngón tay càng chói sáng hơn hết. Nếu Ngài chắp tay, ánh sáng từ mười đầu ngón tay túa ra sẽ làm lóa mắt người đến lễ Phật khiến họ không mở mắt ra được. Vì thế, Phật khai phương tiện, cho phép Ngài ôm quyền chứ không cần phải chắp tay khi đứng hầu.

Ngài là người nước Ma Kiệt Đà, con của trưởng giả Ni Luật Đà, gia tư giàu có không ai hơn. Vợ chồng ông Ni Luật Đà, giàu có nhưng không con. Nghe đồn, thần cây Tất Đa La rất thiêng nên đến cầu nguyện nơi cây ấy bao năm vẫn không thấy linh ứng gì. Bực tức, họ giận dữ bảo: “Nay chúng ta sẽ tận lực thờ cúng trong vòng bảy ngày, nếu không có linh nghiệm gì sẽ đốt tiêu cây này”. Thần cây hoảng sợ cầu cứu lên Phạm Vương. Phạm vương xem khắp thế giới này không thấy ai đáng làm con ông ta cả. Nhân thấy có một Phạm thiên (là thân đời thứ 91 của Ngài Ca Diếp) sắp mạng chung, liền khuyên nên đầu thai vào nhà ông Ni Luật Đà. Do vậy, khi sinh Ngài cha mẹ đặt tên là Tất Đa La vì từng cầu con nơi thần cây ấy.

Trong đệ tử Phật, Ngài là bậc Đầu Đà đệ nhất. Đến tuổi già vẫn tinh tấn, Phật thương Ngài già cả, bảo hãy xả hạnh Đầu Đà, Ngài chỉ cười rồi vẫn thực hành như cũ. Đức Phật khen ngợi: “Vẫn còn người hành hạnh Đầu Đà thì pháp của ta sẽ tồn tại lâu dài”.

Chữ Đầu Đà dịch nghĩa là Đẩu Thấu, tức là dùng mười hai khổ hạnh để đãi sạch, gột sạch trần lao:

a. Ở a-lan-nhã (nơi tịch tịnh, không ồn náo).

b. Thường hành khất thực.

c. Khất thực theo thứ tự (không phân biệt chọn lựa nhà để khất thực).

d. Ngày chỉ ăn một bữa.

e. Ăn có chừng mực, ăn ít.

f. Sau giờ ngọ không uống các thứ tương (nước trái cây ép).

g. Mặc y phấn tảo.

h. Chỉ có ba y.

i. Ngồi nơi mồ mả.

j. Ngủ dưới gốc cây.

k. Ngồi nơi đất trống.

l. Chỉ ngồi không nằm.

Tam Tạng kinh điển còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Ngài: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài Ca Diếp bèn triệu tập thánh chúng, kết tập kinh điển. Hiện Ngài còn đang nhập định trong núi Kê Túc, chờ khi Đức Phật Di Lặc đản sanh trong nhân gian sẽ dâng y tử kim của Đức Phật Thích Ca lên Phật Di Lặc, rồi mới dùng Hỏa Quang tam muội thiêu thân, nhập Vô Dư Niết Bàn.

Theo kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi, Đại Phạm thiên vương đến Linh Sơn, dâng hoa Ưu Bát La sắc vàng lên Phật, thỉnh Phật vì chúng sanh thuyết pháp. Đức Thế Tôn lên tòa, giơ cành hoa cho đại chúng xem, trăm vạn nhân thiên đều ngơ ngác, chỉ mình Kim Sắc Đầu Đà (Ngài Ca Diếp) mỉm cười. Thế Tôn bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tàng, Niết Bàn diệu mạng, Thật Tướng Vô Tướng nay giao phó cho Ma Ha Ca Diếp”.Vì thế, Ngài là Sơ Tổ lãnh thọ tâm ấn của Phật.

d) Ma Ha Ca Chiên Diên

Còn phiên là Ma Ha Ca Đa Diễn Na, Hán dịch là Văn Sức, ý nói lời lẽ bóng bảy. Vị tôn giả này dung mạo đoan chánh hơn người, giỏi biện luận, sở trường về luận nghị. Mở miệng thốt ra câu nào cũng bóng bảy văn nhã, óng chuốt phi thường khiến cho thính giả ưa thích, khâm phục. Đức Thế Tôn từng khen ngợi: “Trong những người thuyết pháp, ông Ca Diên đúng là bậc nhất”.Trong các đệ tử Phật, Ngài được tôn xưng là bậc Luận Nghị đệ nhất.

Ngài từng bị kẻ ngoại đạo theo thuyết Vô Thần Luận cật vấn: “Kẻ ác chết đi thọ khổ theo lẽ phải trở về báo lại. Nay chết đi không thấy trở về, cứ suy theo đó thì không có cái lý thọ sanh đời sau vậy”. Tôn giả bảo: “Như người mắc tội trong đời, bị giam trong ngục tối, gông xiềng, trói xích, có trốn về được không?”

Ngoại đạo lại hỏi: “Nếu vậy thì người thiện chết đi thì được sanh lên trời, sao cũng chẳng thấy trở về?” Tôn giả đáp: “Như người rớt xuống hầm xí, có chịu trở xuống nữa hay không? Ông phải biết là thế gian ác trược, muốn thoát ra đã chẳng phải là dễ dàng gì, đã lên trời rồi còn ai muốn trở xuống nữa chứ?” Qua đó, có thể thấy tài biện luận của tôn giả như thế, vì vậy, kinh Tăng Nhất A Hàm tán dương: “Người khéo phân biệt nghĩa, phu diễn đạo giáo chính là ông Ca Chiên Diên vậy!”

e) Ma Ha Câu Hy La:

Còn phiên là Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, Hán dịch là Đại Tất (đầu gối to), vì đầu gối Ngài rất lớn. Tôn giả chính là cậu ruột Ngài Xá Lợi Phất, thường ngày tranh luận với em gái thường thắng, nhưng khi bà này có mang Ngài Xá Lợi Phất, ông nhiều phen thua cuộc ê chề. Do vậy, phát phẫn tự nghĩ: “Cháu mình còn trong thai đã khiến mẹ nó giỏi đến thế thì khi ra đời, mình làm sao cãi thắng được, chẳng thẹn thùng lắm ư?” Ông bèn bỏ về Nam Thiên Trúc, suốt mười tám năm học tụng kinh điển Vệ Đà, không rảnh để cắt tóc, cắt móng tay, nên còn được gọi là Trường Trảo Phạm Chí (đạo sĩ móng tay dài).

Mãi đến khi thành tài, về lại quê hương thì cháu đã xuất gia. Ông bảo: “Cù Đàm có đức hạnh gì mà dám làm thầy của cháu ta?” Ông bèn đầu đội chậu lửa, mình khoác lá sắt, tóc rũ chấm đất, móng tay dài cả thước dư, xông vào Phật hội, kiếm Phật tranh luận đòi cháu. Lòng hiu hiu tự đắc không coi ai ra gì. Chợt thấy Thế Tôn, ông liền hoạnh họe: “Thu phục được cháu ta, ngươi dùng pháp gì để dạy dỗ vậy, hãy lôi ra tranh biện xem sao?”

Phật hỏi: “Ông lấy gì làm tông?” Câu Hy La đáp: “Ta lấy việc chẳng thọ hết thảy pháp làm tông”. Đức Phật bảo: “Ông lấy ‘chẳng thọ hết thảy pháp làm tông’ thì là đã thọ rồi”. Ông bị thua nhưng vẫn kiêu mạn, Đức Phật liền hiện thần lực khiến lá sắt bó chặt lấy ông, chậu lửa thiêu đảnh. Ông ngất đi tỉnh lại mới phục, dốc lòng sám tạ, xin xuất gia với Phật. Phật bảo: “Thiện lai tỳ kheo!” liền thành Tăng tướng. Tôn giả do ngộ lý Không mà đắc đạo quả, nên còn hiệu là Ngộ Không.

Sau khi xuất gia, chỉ trong vòng ba năm, tôn giả thông đạt pháp tạng. Vì tôn giả học rộng mọi thứ, xem khắp các sách vở, biện tài thao thao như sóng cuộn, vấn đáp lanh lợi nên được tôn là bậc Vấn Đáp đệ nhất.

f) Ly Bà Đa:

Hán dịch là Tinh Tú, hoặc Thất Tinh (sao Thất), hoặc Tuệ Tinh. Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài còn có tên là Giả Hòa Hợp. Nguyên nhân là do một đêm kia, Ngài trú tại một ngôi đình vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến. Chốc sau lại có một con quỷ lớn khác đi đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành giật rầm rĩ mãi. Tiểu quỷ bất đắc dĩ nhờ Ngài Ly Bà Đa phán xử. Ngài cứ tình thật phán xử. Đại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay chân của tử thi thế vào.

Đến sáng, Ngài Ly Bà Đa sanh phiền não sâu nặng, tự nghĩ thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là của ta thì chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay chân mình ăn mất rồi. Lại nghĩ: nếu thật là thân của người khác, thì sao tay chân này vẫn hành động theo ý mình. Vì thế bèn hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi chăng?” Có một vị tỳ kheo nghĩ người này dễ độ, bèn đọc bài kệ:

Vốn thân người khác thế,

Tạm giả hòa hợp dùng.

Ngài Ly Bà Đa liền giải ngộ nghĩa lý tứ đại giả hợp, nhận thức hết thảy sự lý một cách rõ ràng, liền theo tỳ kheo đó về chỗ Phật cầu xuất gia. Trong các đệ tử, Ngài được xưng tụng là bậc Vô Đảo Loạn bậc nhất vì những Phật pháp mà Ngài nói ra, quyết định là chính xác, không lầm loạn. Ngài cũng là bậc Tri Huyễn đệ nhất.

g) Châu Lợi Bàn Đà Dà:

Còn phiên là Châu Lỵ Bàn Đặc, Hán dịch là Kế Đạo hoặc Lộ Biên Sanh (đẻ bên đường). Anh Ngài tên Bàn Đà Già (dịch là Đại Lộ Biên), em tên là Châu Lợi Bàn Đà Già. Phong tục ở Tây Vực là khi sắp sanh, sản phụ thường về nhà bố mẹ ruột. Khi đang trở về, giữa đường bà mẹ Ngài chuyển dạ sanh ra hai Ngài nên đặt tên như thế.

Theo kinh Tăng Nhất, anh Ngài đã theo Phật xuất gia từ trước, đắc thánh quả. Khi cha mẹ mất, Kế Đạo bèn cũng theo đi xuất gia, nhưng tánh Ngài cực kỳ ngu độn. Xuất gia đã nửa năm, cả năm trăm vị La Hán xúm vào dạy dỗ, Ngài vẫn không thể trì tụng nổi nửa bài kệ sau:

Thủ khẩu nhiếp ý thân mạc phạm,

Như thị hành giả đắc độ thế.

Chánh niệm quán thời dục cảnh không,

Vô ích chi khổ đương viễn ly.

(Giữ miệng, thâu ý, thân đừng phạm,

Người hành như thế, độ được đời.

Lúc chánh niệm quán, dục cảnh rỗng,

Sẽ xa lìa được khổ vô ích)

Học suốt cả ba năm vẫn chưa thuộc nổi, nhớ câu trước quên câu sau, nhớ được câu sau liền quên ngay câu trước. Người anh bực quá, quở trách, buộc em hoàn tục. Do thiện căn thâm hậu, lúc đương khóc lóc ngoài cửa, bịn rịn chẳng đi, gặp đức Thế Tôn lân mẫn dạy niệm hai chữ “tảo chửu” (quét dọn). Thế mà vẫn cứ nhớ chữ này quên chữ kia. Nhưng nhờ Ngài vẫn cứ siêng gắng, chẳng lười, nên lâu ngày hốt nhiên chứng ngộ: “Tảo Chửu nghĩa là trừ dơ khiến cho sạch. Như vậy là đức Thế Tôn muốn ta đoạn trừ những dơ bẩn phiền não trong thân”. Nhờ thế, đắc quả A La Hán.

Theo kinh Ngũ Bách Đệ Tử Bản Khởi, tôn giả trong đời trước do xua lợn qua sông, dùng dây buộc chặt miệng nó khiến hơi thở không thông, con lợn bị chết ngộp giữa giòng. Vì thế, Ngài bị quả báo ám muội. Thêm nữa, trong thời Phật Ca Diếp, Ngài là một vị Tam Tạng Pháp Sư, do tiếc pháp chẳng hóa độ chúng nên cảm ác báo ấy. Ác nghiệp đời trước mãi đến đời này mới hết, do chứng ngộ được công dụng của việc quét dọn tịnh thất, giải ngộ nguyên nhân của thân nên đoạn ngu, phát huệ.

Trong kinh Lăng Nghiêm, tôn giả tự bạch: “Con thiếu tụng trì, không có tánh Đa Văn, nghe pháp xuất gia, nhớ giữ một câu kệ của Như Lai. Trong một trăm ngày, nhớ được câu trước quên câu sau. Phật thương con ngu si, dạy con ở yên, điều hòa hơi thở ra vào. Khi ấy, con quán sát hơi thở một cách vi tế, hiểu cùng tận, sanh trụ, dị diệt, các hành, sát na. Tâm con đột nhiên được được đại vô nghi, cho đến lậu tận, thành A LaHán”.Như thế, tu hành đừng sợ độn căn, chỉ e chẳng thể phát tâm kiên trì tu tập.

Trong các đệ tử, Ngài là bậc Nghĩa Trì bậc nhất.

h) Nan Đà:

Còn gọi là Tôn Đà La Nan Đà, Hán dịch là Hoan Hỷ. Thật ra, Tôn Đà La (Hán dịch là Diễm: đẹp đẽ) chỉ là tên vợ. Gọi Ngài như vậy để phân biệt với ông Phóng Ngưu Nan Đà. Nan Đà là em ruột Đức Phật, con của bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di). Ngài có ba mươi tướng hảo, hình mạo gần tương tự như Đức Phật, nhưng thấp hơn Đức Phật chừng bốn ngón tay, thân cũng sắc vàng.

Trong lễ cưới của Ngài, Đức Phật biết thời cơ Nan Đà được hóa độ đã đến, bèn đến vương cung khất thực. Khi thọ trai xong, Ngài trao bát cho Nan Đà cầm. Vì kính mộ Phật, Ngài Nan Đà bưng bát hầu Phật về đến tinh xá. Đức Phật dạy Ngài xuất gia, Nan Đà cũng đành tuân theo.

Tuy đã xuất gia, nhưng tâm ông vẫn tưởng nhớ đến người vợ xinh đẹp khôn nguôi, chẳng thể chuyên tâm nhập định được. Đức Phật liền thị hiện thần thông đưa ông lên cung trời xem các thiên nữ để trừ dẹp tâm niệm tham luyến sắc đẹp phàm phu của Tôn Đà La, cũng như đưa xuống địa ngục, chỉ cho ông thấy những gông cùm đang chờ sẵn đó. Vì thế, Ngài Nan Đà giác ngộ tham dục là nguồn gốc chiêu cảm khổ báo.

Tuy thế, tập khí tham dục vẫn chưa thể trừ bỏ ngay được. Đức Phật dạy Ngài pháp quán chú mục nhìn vào chót mũi có vết trắng để nhiếp tâm. Kinh Lăng Nghiêm chép lời Ngài tự nói: “Lúc đầu, tôi quán sát kỹ trong hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như làn khói, thân tâm sáng suốt bên trong, thấu suốt trọn vẹn khắp cả thế giới đều rỗng rang, thanh tịnh hệt như lưu ly. Tướng khói dần tiêu, hơi thở thành màu trắng, tâm khai lậu tận, các hơi thở ra vào biến thành quang minh, chiếu mười phương cõi, đắc A La Hán”.

Đương thời, có một ngoại đạo lõa thể trứ danh trong xứ Ma Kiệt Đà, thường tranh luận đạo pháp với Ngài Xá Lợi Phất, kính mộ sự huyền diệu của Phật pháp, đã sẵn mang ý niệm xuất gia. Một ngày nọ, gặp phải Ngài Nan Đà, bèn thốt lên: “Vị tỳ kheo loắt choắt mà còn thâm trí bác học đến thế, huống hồ là người tướng mạo đường đường đến thế này” (Ngài Xá Lợi Phất thân hình thấp bé). Do đó, kẻ ngoại đạo bèn theo đi xuất gia.

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc Nghi Dung đệ nhất.

i) A Nan Đà:

Còn phiên âm là A Nan, Át Nan, Hán dịch là Khánh Hỷ. Ngài là em con chú của Phật, nghĩa là: Ngài A Nan là con thứ hai của Bạch Phạn Vương (còn phiên âm là Hộc Phạn Vương). Lúc vua Tịnh Phạn được tin Đức Phật đã thành đạo, đồng thời nghe tin em mình là vua Bạch Phạn cũng sanh được một hoàng tử, cho sứ sang nhờ anh đặt tên. Vua Tịnh Phạn vui mừng nên đặt tên cho hoàng tử mới sinh là A Nan.

Năm 20 tuổi, Ngài theo Phật xuất gia. Khi được chọn làm thị giả, Ngài bèn cầu thỉnh Phật đem hết những pháp môn đã giảng trong 20 năm vì mình trùng tuyên lại một lượt. Nghe xong, Ngài A Nan ghi nhớ trọn vẹn. Vì thế tôn giả Ca Diếp nói: “Nước trong biển cả Phật pháp rót hết vào trong tâm A Nan”.Lúc Phật nhập diệt rồi, Ngài bèn chủ trì công cuộc kết tập Kinh Tạng. Vì thế, trong hàng đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Đa Văn đệ nhất.

Trong đời quá khứ, Ngài từng làm một vị trưởng giả giàu có lớn. Nhân thấy một sa di vì hóa duyên nên không thể tụng đọc nhiều bài kệ được, Ngài bèn phát tâm ủng hộ cúng thí thực phẩm, thức ăn để vị sa di ấy rảnh rỗi chuyên tâm học tập kinh điển. Trưởng giả còn phát nguyện: “Nguyện khi chú tiểu này thành Phật, tôi sẽ làm vị đệ tử đa văn của Ngài, tất cả giáo pháp Ngài đã thuyết ra tôi đều có thể nhớ kỹ”. Do vậy, trong kiếp này, Ngài được thỏa nguyện.

Tên Ngài đôi khi còn được dịch là Vô Nhiễm, vì những khi theo hầu Phật vào thiên cung, long cung v.v... thuyết pháp, tâm Ngài không hề nhiễm trước nơi sắc cảnh. Nữ giới được Đức Phật chấp thuận cho xuất gia làm ni cũng nhờ Ngài đặc biệt thỉnh cầu. Đức Phật chế ra Bát Kính Pháp, khi bà Kiều Đàm Di và đồ chúng chấp thọ pháp ấy, Phật mới hứa khả cho họ được làm tỳ kheo ni. Trong các ni viện Trung Hoa, thường thờ Ngài A Nan và Ngài Kiều Đàm Di tại Tổ Đường để tưởng niệm ân đức là vì lẽ đó.

Ngài A Nan được coi là tổ truyền tâm ấn thứ hai của Thiền Tông. Vua A Xà Thế rất sùng bái Ngài, từng ước định khi nào Ngài nhập diệt, phải cho người đến báo với vua. Khi Ngài A Nan sắp nhập diệt, cho người đến báo tin, nhằm lúc vua đang ngủ trưa, kẻ hầu chẳng dám đánh thức. A Nan chờ mãi không được, bèn vọt thân lên hư không, hiện nhiều tướng thần thông biến hóa, rồi dùng lửa tam muội thiêu thân. Xá lợi rơi xuống lất phất như mưa, rải khắp hai bờ sông Hằng. Nguyên thời ấy mọi người rất tín phụng xá lợi, thường tranh giành nhau, thậm chí dấy động can qua. Vì thế, Ngài nhập diệt, lưu xá lợi trên không cho rơi đều xuống hai bên sông Hằng để ai cũng có cơ hội nhặt được xá lợi. A Xà Thế ngủ dậy, nghe báo tin, vội vã chạy đến sông Hằng, thấy Ngài đã nhập diệt, nghẹn ngào kêu khóc, cơ hồ muốn ngất xỉu, rồi đành lễ bái, thu thập xá lợi, trở về nước dựng tháp cúng dường.

j) La Hầu La

Còn phiên âm là La Vân, La Hỗ La, Hán dịch là Chấp Nhật hoặc Phú Chướng (ngăn che), hàm nghĩa:

- Chướng tự: đời quá khứ, La Hầu La làm một vị lão tăng tu hành, gần chỗ Ngài tu luyện có một cái hang chuột. Mỗi lúc vị lão tăng tịnh tọa, con chuột thường chạy ra, chạy vào lăng xăng khiến vị lão tăng không thể yên tâm tịnh tọa được. Bực quá, nhưng không thể phạm sát giới, Ngài bèn dùng tấm da dày bịt kín hang chuột, khiến chuột bị kẹt trong đó suốt sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, sợ chuột chết đói, Ngài lại dở tấm da ra cho chuột được ra ngoài như cũ nên đời này phải ở trong thai sáu năm mới sanh.

- Chướng Phật: Lúc Phật còn là Thái Tử, phụ vương chẳng chấp thuận cho Ngài đi xuất gia, Thái Tử bảo: “Nếu đạt được ba điều chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, con sẽ không đi xuất gia”. Tịnh Phạn Vương không biết làm sao, bảo: “Nếu ngươi có con, ta sẽ cho ngươi đi xuất gia”. Tương truyền, Thái Tử từng lấy tay xoa bụng bà Da Du Đà La, ước nguyện: “Hãy chóng có con!” Bà Da Du liền cấn thai. Nhờ vậy, Thái Tử mới được xuất gia. Nhân vì Phật bị chướng ngại như thế chẳng sớm được xuất gia nên mới gọi là “chướng Phật”.

- Chướng mẫu: Sau khi Đức Phật xuất gia đã sáu năm rồi, Ngài La Hầu La mới được sanh ra, Tịnh Phạn Vương nghi ngờ bà Da Du đã lén làm điều bất chánh nên phẫn nộ toan giết chết. Da Du tự tin mình trong trắng, nhưng oan uổng khó phân, bèn xin được nhảy vào hầm lửa tự sát. Khi ấy, bà bồng con, ngửa mặt lên trời phát đại thệ: “Nếu tôi làm điều sai quấy, mẹ con tôi cùng bị lửa thiêu, chết chẳng hối. Nếu đúng là con Thái Tử, xin trời làm chứng”. Nói rồi, bồng con nhảy xuống hầm lửa. Thật là chẳng thể nghĩ bàn, lửa đỏ hóa thành sen hồng, lại có thiên nhân đỡ lấy thân bà Da Du, hai mẹ con không bị tổn hại gì. Khi ấy, Tịnh Phạn Vương và toàn dòng họ Thích chính mắt trông thấy việc ấy, nên mới tin là thực. Người trong nước cũng thôi xì xào. Vì thế, gọi là “chướng mẫu”.

Trong quá khứ, có hai vương tử, anh tên Nhật, em tên Nguyệt. Sau khi phụ vương băng hà, anh lên nối ngôi, sau nhàm chán vinh hoa, phú quý, nhường ngôi lại cho vương tử Nguyệt, theo Phật xuất gia, tinh trì cấm giới, không chút thiếu sót. Một ngày nọ, do đêm tối, dùng lộn tịnh bình của người khác, bèn đánh chuông nhóm Tăng sám hối. Chúng Tăng thấy lỗi ấy quá nhẹ nên chẳng chịu cho ông tác pháp sám tạ. Ông càng ưu sầu hơn nữa, bèn vào cung bẩm với Nguyệt vương, xin sám hối tội trộm cắp. Nguyệt vương chẳng muốn trái ý anh nên sai tả hữu giam anh vào một căn phòng. Khổ nỗi vua ham mê dục lạc, quên bẵng chuyện ấy, cả sáu tháng không xử đến. Kiếp này, Nguyệt vương thành Ngài La Hầu La, do tội báo trên, cảm quả phải ở trong thai sáu năm.

Theo Ngài Khuy Cơ, Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ vào bụng vợ, vợ liền có mang, biểu thị đứa con sanh ra sẽ khác phàm chúng, là tướng linh dị đặc biệt. Sáu năm trong thai biểu thị sanh ra thể chất khác lạ. Quốc vương nghi báng, quần thần gièm pha, mẹ con gieo mình vào lửa không cháy, lửa đó hóa ao sen, vua tôi mới biết đức Thích Ca đã lìa nhiễm dục từ lâu, hiển thị La Hầu La ngầm tu mật hạnh.

Năm lên 9 tuổi, Phật sai Ngài Mục Liên về đón La Hầu La cho thí phát xuất gia làm sa di. Ngoài mặt, La Hầu La làm ra vẻ như một vị vương tử quen thói nuông chiều, bướng bỉnh, nhưng trong thì dụng công tinh tấn tu hạnh Bồ Tát không ai bằng, chứng đắc Tứ Quả rất sớm. Bởi thế, Ngài được ca ngợi là vị thánh tăng Mật Hạnh bậc nhất. Đức Phật từng tán thán: “Mật hạnh của La Hầu La chỉ mình đức Phật biết nổi, người khác chẳng biết được”.

k) Kiều Phạm Ba Đề:

Còn phiên là Cấp Phòng Bát Để, Hán dịch là Ngưu Ty (trâu nhơi) hoặc Ngưu Tướng. Do trong đời quá khứ, Ngài làm một tiểu sa di, nhân thấy một vị lão tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu đang nhai cỏ. Lão tăng ấy đã chứng quả A La Hán, liền bảo sa-di phải chí tâm sám hối. Tuy lúc ấy, sa-di đã chí tâm sám hối, nhưng vẫn bị mắc quả báo làm trâu năm trăm đời. Dù phải làm thân trâu, nhưng nhờ sức trì giới, tu phước nên luôn làm trâu chúa. Nay tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp nhép như trâu nhơi nên mang tên ấy.

Đức Phật sợ đại chúng chỉ thấy tướng xấu ấy, không biết đến đức của Ngài mà khinh bỡn, cười ghẹo, phải mang lấy tội khiên, nên bảo tôn giả ngự trên cõi trời Đao Lợi, ở trong vườn Thi Lợi Sa tu tập Thiền Định, thọ sự kính phụng của chư Thiên. Vì vậy, trong các đại đệ tử của Phật, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề là bậc Thọ Thiên Cúng bậc nhất.

Khi tôn giả Ca Diếp triệu tập thánh tăng kiết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài sai một A La Hán trẻ tuổi lên cung trời, thỉnh Ngài Kiều Phạm Ba Đề trở xuống nhân gian tham gia hội nghị kiết tập. Tôn giả nghe Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất đều đã nhập diệt, bèn hóa một dòng nước tuôn từ cõi trời chảy xuống hạ giới. Trong nước, vang ra tiếng nói:

Kiều Phạm Ba Đề xin kính lễ,

Thập phương thánh chúng đại đức Tăng

Voi chúa đi rồi, voi con theo,

Thế Tôn nhập diệt, tôi cũng tịch.

Nói xong, liền bay lên hư không hiện thần thông, nhập Hỏa Quang tam muội mà tịch diệt. Xá lợi từ trên không rơi xuống, chư thiên nhặt lấy dựng tháp cúng dường.

l) Tân Đầu Lô Phả La Đọa:

Tân Đầu Lô dịch là Bất Động, Phả La Đọa dịch là Lợi Căn. Bất Động là tên, Lợi Căn là họ. Nhân vì có đến mười tám họ cùng tên Lợi Căn, nên lấy tên Ngài đặt trước họ để phân biệt. Tôn giả căn tánh thông lợi bậc nhất, chẳng bị ngoại cảnh lay động nên có tên Bất Động.

Luật Tỳ Nại Da chép:

“Trưởng giả Thọ Đề lấy cái bát bằng gỗ chiên đàn đặt trên đầu một cột phướn cao chót vót, thách mọi người rằng: ‘Ai dùng thần lực lấy được bát ấy thì sẽ dâng tặng’. Tôn giả liền hiện thần thông lấy được bát xuống. Ngài bị đức Phật quở trách, vì Phật đã cấm dùng thần thông bừa bãi để mê hoặc chúng sanh. Vì thế, Phật cấm tôn giả nhập diệt, phải lưu thân trong thế gian để thọ cúng dường hòng làm ruộng phước rộng lớn cho người, trời”.

Tôn giả tuân lời Phật răn, chẳng nhập Niết Bàn, hằng trụ tích trong núi Ma Lợi Chi; hễ ai thành kính thiết trai, tôn giả sẽ ngầm đến ứng cúng. Vì thế, trong các đệ tử Phật, tôn giả Tân Đầu Lô Phả La Đọa là bậc Phước Điền đệ nhất.

Trong bộ tượng 18 La Hán thờ tại các chùa miếu lớn, Ngài Tân Đầu Lô thường được tạc thành hình một vị lão tăng rất gầy, lông mày bạc trắng dài rủ xuống quá đầu gối. Tương truyền, thời Ngũ Đại, Ngô Việt Vương Tiền Lưu tin Phật pháp rất mực, thiết trai ngàn vị Tăng, để trống ghế ở vị trí chủ tọa để đợi hàng thánh giả giáng hạ. Quả nhiên Ngài Tân Đầu Lô tóc bạc mày dài từ trên hư không hạ xuống, thọ cúng dường.

Theo Luật Tứ Phần, Ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di. Vị này sớm đã quy y với Đức Phật, làm vị tại gia đệ tử từ lâu. Vua Ưu Điền rất tín phụng Phật pháp nên đồng ý cho Ngài Tân Đầu Lô xuất gia. Lúc tiễn đưa, vua quỳ gối thỉnh tôn giả hãy chuyên tâm nhất ý tu hành. Không lâu sau, Ngài đã chứng đắc quả A La Hán.

Vua Ưu Điền càng thêm kính trọng tôn giả, thường lui tới cúng dường. Ngài Tân Đầu Lô theo đúng pháp nhà Phật, không ra nghênh đón, cũng không hoàn lễ, cũng không tiếp đãi, mời mọc các quan theo hầu vua. Họ bèn dùng lời lẽ gièm xiểm, bảo tôn giả là hạng chẳng biết đến quân thần, xui vua tìm cách giết đi. Vua tín tâm chưa triệt để nên cũng ôm lòng căm tức.

Một ngày nọ, vua lại thống lãnh quần thần đến tham bái tôn giả. Tôn giả nhảy xuống khỏi thiền sàng, cười toe toét tiếp đón vua. Vua càng bực bội hỏi tôn giả: “Đại đức vốn khó động, sao hôm nay lại ra nghênh đón ta vậy?” Tôn giả bảo: “Trong quá khứ, hoàng thượng do tín tâm mà đến, nên tôi dùng lễ nghi nhà Phật tiếp đón. Hôm nay vua ôm lòng ác tìm đến. Nếu tôi chẳng tiếp đón, vua ắt sẽ giết tôi, khiến vua tội ác càng tăng vậy”. Vua Ưu Điền thẹn thùng, kinh ngạc, bèn thưa: “Lành thay! Đệ tử ngu độn, lầm nhận lời tiểu nhân, chẳng biết phàm thánh. Kính xin tôn giả cho con được sám hối!”

Tôn giả đáp: “Lành thay! Vua thoát khỏi tội địa ngục, nhưng nỗi khổ mất nước thật khó tránh khỏi!” Quả nhiên, ít lâu sau, vua cùng lân quốc giao tranh bị thất bại, thân bị giặc bắt cầm tù cả mười hai năm.

m) Ca Lưu Đà Di:

Hán dịch là Hắc Quang hoặc Hắc Diệu do thân hình Ngài thô đen, mặt đen ngòm, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả báo thuở xưa để mình trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Do để mình trần nên thân thô đen; do thắp đèn cúng nên thân có ánh sáng.

Tôn giả thân đen đúa, có ánh sáng, đi đêm không cần thắp đèn, khiến ai gặp phải cũng kinh hãi. Nhân tôn giả tướng trạng quái lạ, nhiều người sợ không dám cúng dường nên thường không đủ no. Có lần, tôn giả đến một nhà nọ khất thực vào buổi tối. Người con dâu đang mang thai mang cơm rau ra cúng dường. Lúc ánh chớp vừa lóe lên, thấy hình trạng tôn giả đen đúa, to thô lại tỏa sáng, cô ta sợ quá tưởng gặp quỷ, ngã lăn ra ngất xỉu, đến nỗi bị sẩy thai. Vì lẽ đó, Phật cấm các đệ tử không được đi đêm.

Tôn giả là sứ giả của Phật, rất khéo giáo hóa, nên Ngài Ca Lưu Đà Di được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.

n) Ma Ha Kiếp Tân Na

Hán dịch là Phòng Tú (sao Phòng). Phòng là ngôi sao thứ tư trong Nhị Thập Bát Tú (Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm...) Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài cũng thông hiểu thiên văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.

Có thuyết nói: khi chưa xuất gia, Ngài đi đường gặp mưa phải đụt mưa trong nhà người thợ gốm. Đức Phật biết tôn giả căn cơ đã thuần thục, bèn hóa thành một vị Tăng đến xin ngủ nhờ. Đêm ấy Phật vì tôn giả thuyết pháp, tôn giả bèn xin theo Phật xuất gia, chứng quả La Hán. Nhân vì ngủ đêm tại nhà người thợ gốm, gặp Phật nhập đạo, nên gọi tên là Phòng Tú (Tú còn có nghĩa là ngủ đêm).

o) Bạc Câu La:

Hán dịch là Thiện Dung. Tôn giả vẻ mặt nghiêm túc, đoan chánh, do bố thí mà được quả báo như thế. Trong Bạc Câu La Kinh, Ngài từng nói: “Ta từ lúc vào trong Chánh Pháp học đạo đến nay, suốt tám mươi năm chưa từng mắc bệnh gì dù chỉ là bị nhức đầu trong khoảng khảy ngón tay. Chưa từng bao giờ nghĩ đến uống thuốc, dù chỉ là dùng một miếng quả Ha Lê Lặc”.Trong thời Tỳ Bà Thi Phật, Ngài làm một người nghèo, cúng một quả Ha Lê Lặc cho vị Tăng đang bị nhức đầu hành hạ khiến bệnh được lành, nên cảm được quả báo ngũ bất tử. Ngũ bất tử là:

Lúc sơ sinh hiện ra hình tướng quái lạ là một khối thịt. Cha mẹ kinh hãi cho là quái vật bèn bỏ vào nồi rang cho chết, vẫn không sao. Lại bỏ vào nồi luộc lên vẫn không chết. Lại quăng xuống nước cho chết ngộp vẫn không chết. Lại bị cá nuốt vào bụng vẫn không chết. Khi con cá ấy bị bắt, đem mổ bụng cá, đứa bé hiện ra, chẳng bị dao cắt phải. Đó là ngũ bất tử. Ông chài bèn nuôi Ngài đến khi khôn lớn, theo Phật xuất gia.

Trong quá khứ, Ngài làm một vị tỳ kheo, từng phát nguyện: chẳng nhìn mặt nữ nhân, chẳng nhận y do nữ nhân may, chẳng nhận cơm từ tay nữ nhân. Mẹ Ngài nhớ con tha thiết, bèn vào chùa thăm. Vị tăng chẳng vui, sai người đưa mẹ ra khỏi chùa. Bà mẹ căm tức, cho là đứa con phạm tội ngũ nghịch, bèn phát ác nguyện: “Nguyện đời sau tôi làm mẹ nó hành hạ đủ thứ”. Quả nhiên, ứng vào lời nguyện này, Ngài bị năm thứ hành hạ khổ sở.

Tôn giả Bạc Câu La là bậc thiểu dục tri túc. Nơi tháp tự nhiên vọt ra một đồng tiền, Ngài chẳng đoái hoài. Thân không bao giờ khoác y dày, thế mà không bao giờ bệnh tật. Lại do quá khứ Ngài nghiêm trì giới bất sát nên cảm được chín mươi mốt kiếp trường thọ. Trong đời này, Ngài thọ được 160 tuổi. Trong các đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Thọ Mạng đệ nhất.

p) A Nậu Lâu Đà:

Còn phiên là A Na Luật Đà, A Nê Luật, A Nê Lâu Đậu, Hán dịch là Vô Bần, Như Ý hay Vô Diệt. Do trong đời quá khứ, vào lúc đói kém nặng nề, Ngài dâng bát cơm nấu bằng hột cỏ Bại (một thứ cỏ, hột gần giống hột Cao Lương) cúng dường một vị Bích Chi Phật tên là Phi Lật Tra nên cảm được quả báo bảy lần sanh lên trời làm thiên vương, bảy lần sanh trong nhân gian làm đế vương. Tiếp đó, trong kiếp nào cũng được sở cầu như ý, của cải không bao giờ thiếu thốn. Trong suốt cả chín mươi mốt kiếp chẳng bao giờ phải chịu cảnh nghèo cùng nên có tên là Vô Bần.

Tôn giả Vô Bần là em họ của Phật, tánh ham ngủ. Mỗi khi nghe Phật thuyết pháp, Ngài thường hôn trầm ngủ gật. Đức Phật muốn cảnh tỉnh nên quở trách nặng nề:

Ô hay sao lại ngủ?

Giống ốc, hến, trai, nghêu

Ngủ một giấc ngàn năm,

Chẳng nghe danh hiệu Phật!

Tôn giả bị quở trách liền phát phẫn, tinh tấn, suốt cả bảy ngày đêm tinh tấn, mắt chẳng tạm nhắm, nên mù cả hai mắt. Đức Phật từ bi dạy Ngài tu tập pháp Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội. Chẳng bao lâu tôn giả chứng đắc Thiên Nhãn Thông, xem cõi tam thiên đại thiên thế giới rõ ràng như trái Am Ma La đang đặt trong lòng bàn tay (Am Ma La là một thứ trái ở Ấn Độ, dịch nghĩa là Vô Cấu Thanh Tịnh, hình dáng từa tựa trái cau, ăn vào trừ được chứng phong lãnh, người Ấn Độ thích cầm trái này trong tay).

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm một người thợ săn toan trộm viên ngọc gắn trên bạch hào của tượng Phật. Người thợ săn dùng mũi tên khêu đèn cho cháy sáng hơn, nhưng chợt thấy tướng hảo của Phật, bèn phát tâm thù thắng, vứt bỏ cung tên, thề chẳng hại mạng. Do sức thiện căn khêu đèn ấy nên nay đắc Thiên Nhãn Thông.

Ngài được xưng tụng là bậc Thiên Nhãn đệ nhất.

1.3.1.4. Tiểu kết:

Chánh kinh:

Như thị đẳng chư đại đệ tử.

(Mười sáu vị tôn giả và mỗi mỗi vị trong số 1250 vị tỳ kheo không nêu rõ tên đều là đại đệ tử của Phật)

Giải:

Chữ “như thị”chỉ mười sáu vị tôn giả vừa được nêu tên ở phần trên. Chữ “đẳng”chỉ những vị còn lại. “Chư”nghĩa là chẳng phải một.

“Đại”ý nói các vị này bổn nguyện lớn, phát đại tâm, thần thông lớn lao, tu hành lớn lao, chứng quả lớn lao. Đúng như kinh Pháp Hoa chép:

“Đạo Bồ Tát tu hành,

Do khéo học phương tiện,

Chẳng thể nghĩ bàn nổi.

Biết chúng ưa tiểu pháp,

Lòng sợ hãi đại trí,

Vì thế, các Bồ Tát,

Làm Thanh Văn, Duyên Giác,

Hóa hiện có tam độc,

Lại hiện tướng tà kiến,

Đệ tử ta thế đó:

Phương tiện độ chúng sanh”.

Cũng như lời nguyện dũng mãnh của tôn giả A Nan trong kinh Lăng Nghiêm:

Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập,

Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn

(Đời ác ngũ trược con thề sanh vào đó trước hết, ở trong đấy vĩnh viễn chẳng nhập Niết Bàn).

“Đệ tử”:học vấn kém hơn thầy là Đệ, kiến giải do thầy phát sanh nên gọi là Tử. Dùng ý anh em, cha con trước sau để biểu thị ý tiên giác, hậu giác. Hết thảy trí huệ, đạo pháp đều do Phật chỉ bày, nuôi dưỡng nên coi Phật như cha. Làm đệ tử Phật tức là nguyện làm người tiếp nối dòng Phật. Những vị A La Hán đây “nội bí Bồ Tát hạnh, ngoại hiện Thanh Văn thân” (trong ngầm tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn), chẳng phải là hạng căn cơ nhỏ kém, số lượng chẳng phải là chỉ có một hai vị, cho nên kinh mới chép: “Chư đại đệ tử”.

1.3.2. Chư Bồ Tát chúng

1.3.2.1. Minh loại(nêu rõ thứ loại)

Chánh kinh:

Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát.

(cùng các vị Bồ Tát Ma Ha Tát)

Giải:

Chữ Tinh có nghĩa là “cùng với”, ý nói: ngoài các vị Thanh Văn tham dự pháp hội, còn có các Bồ Tát cũng cùng đến nghe pháp.

“Bồ Tát”: nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là Giác Hữu Tình. Giác là giác ngộ, Hữu Tình là tiếng để gọi chung lục đạo chúng sanh. Bất cứ loại sanh mạng nào có tri giác, tình cảm, ý thức, có sự hoạt động tinh thần đều gọi là “hữu tình”. Sở chứng giống như Phật nên gọi là Giác. Vô minh chưa đoạn trừ sạch nên gọi là Hữu Tình.

Nếu xét trên phương diện tự lợi và lợi tha thì:

- Bản thân mình là chúng sanh đã chứng được giác đạo, đó là tự lợi.

- Đem giác đạo mình đã chứng ấy để giác ngộ hết thảy chúng sanh, đó là lợi tha.

- Thượng cầu Phật đạo (Phật là Giác), hạ hóa chúng sanh (chúng sanh là hữu tình). Đó là tự lợi lẫn lợi tha.

Bồ Tát đã chứng được một phần giác ngộ của Như Lai, nhưng vẫn còn một phần vô minh chưa sạch. Nghĩa là trong tám thức điền của bậc Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sanh tướng vô minh chưa phá được, đối với Trung Đạo hãy còn một phần chưa chứng ngộ trọn vẹn, vì thế gọi là Giác Hữu Tình.

Lại nữa, Bồ Tát bi trí song vận, tự tha kiêm lợi, dùng trí để trên cầu sự giác ngộ của Phật đạo, dưới dùng lòng bi để hóa độ hết thảy chúng sanh. Cầu chứng Phật đạo là tự lợi, hóa độ hữu tình là lợi tha.

Bồ Tát là bậc trọn đại từ bi, hàng Thanh Văn, Độc Giác chỉ riêng cầu sự an lạc giác ngộ cho chính mình nên không thể nào sánh bằng Bồ Tát. Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh trong đại địa như con đỏ, coi nỗi khổ của chúng sanh là nỗi khổ của chính mình, bình đẳng tế độ, chẳng phân biệt là ta hay người, chẳng lựa thân sơ, phổ nguyện hết thảy chúng sanh đều được thoát khổ, cùng được giải thoát, nên thường y theo Tứ Thánh Đế để phát nguyện. Tu trọn Lục Độ vạn hạnh để chứng thành Phật quả.

“Ma Ha Tát”:Ma Ha là Đại, Tát tức là Bồ Tát. Nói cách khác, Ma Ha Tát là các vị đại Bồ Tát, chẳng phải là hàng tiểu Bồ Tát thuộc Quyền Giáo Tiểu Thừa, mà là hàng đại Bồ Tát trong Thật Giáo đã phá vô minh, thấy được Pháp Thân. Hơn nữa, các Ngài là những vị đại căn cơ, có đại trí, tin đại pháp, thấu hiểu đại lý, tu đại hạnh, trải bao đại kiếp, chứng đại quả. Phải đủ cả bảy điều như thế mới đáng gọi là Đại Bồ Tát.

Hai chữ Bồ Tát đôi khi còn dịch là Đại Đạo Tâm Chúng Sanh, nghĩa là bậc phát đại tâm Bồ Đề, cứu độ chúng sanh.

1.3.2.2. Tiêu danh(nêu tên)

Chánh kinh:

Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

Giải:

a) “Văn Thù Sư Lợi”:

Đôi khi còn phiên là Mạn Thù Thất Lợi, dịch nghĩa là Diệu Đức vì Ngài đã chứng tam đức (Pháp Thân đức, Bát Nhã đức, Giải Thoát đức) vi diệu giống như Phật, từng làm thầy của bảy đức Phật. Chư kinh còn xưng tụng Ngài là “Chư Phật chi mẫu”, hàm ý: từ trí huệ thanh tịnh chứng đắc diệu quả. Hoặc còn dịch là Diệu Thủ vì trong các hàng đại Bồ Tát, Ngài được xưng tụng là đức hạnh bậc nhất.

Văn Thù Sư Lợi còn được dịch là Diệu Cát Tường: Trong ba thứ hoặc (Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần Sa hoặc) và hai thứ sanh tử (phần đoạn và biến dịch), nếu đoạn được một phần phiền não hoặc dứt được một phần sanh tử, chứng được một phần Pháp Thân thì được gọi là Cát Tường, nhưng chưa thể gọi là Diệu. Nhưng vị Bồ Tát đây đã dứt trọn vẹn tam hoặc, vĩnh viễn xóa sạch hai thứ sanh tử, thành tựu trọn vẹn ba đức, nên hiệu là Diệu Cát Tường.

Thêm nữa, những ai trông thấy hình tướng của Ngài, nghe danh hiệu Ngài, đều phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi, thật là tốt lành chẳng thể nghĩ bàn, nên Ngài hiệu là Diệu Cát Tường.

Hơn nữa, lúc Bồ Tát này đản sanh, có mười thứ điềm tốt lành xuất hiện:

- Quang minh đầy nhà.

- Cam lộ ngập sân.

- Mặt đất phun lên thất bảo.

- Thần nhân mở toang kho tàng.

- Gà đẻ ra chim phượng con.

- Heo sanh ra heo con có tướng rồng.

- Ngựa đẻ ra kỳ lân.

- Trâu sanh ra bạch trạch (bạch trạch là một con vật tượng trưng cho điềm lành).

- Thực phẩm biến thành hạt vàng.

- Voi mọc sáu ngà.

Kinh Bi Hoa thuật bổn nhân của Bồ Tát như sau: “Đối trước Bảo Tạng Phật phát hoằng thệ nguyện, được Phật thọ ký hiệu là Văn Thù”.

Nếu luận về bổn quả, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, trong quá khứ Ngài đã thành Phật hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Theo kinh Ương Quật Ma La, trong kiếp hiện tại, Ngài thành Phật trong thế giới Hoan Hỷ ở phương Bắc, hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. Nghe được danh hiệu này trừ diệt được bốn trọng tội. Theo kinh Bi Hoa và pháp hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký trong kinh Bảo Tích, Ngài sẽ thành Phật trong thế giới Ly Cấu ở phương Nam, hiệu là Phổ Hiện Như Lai. Ai nghe được danh hiệu này sẽ tiêu diệt được tội Ngũ Vô Gián.

Nay vì hỗ trợ sự nghiệp độ sanh của đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên thị hiện làm Bồ Tát. Chứ thật ra Ngài đã thành Phật từ lâu, nên mới có thể chứng trọn vẹn ba đức, đoạn trừ viên mãn ba Hoặc và hai thứ sanh tử.

“Pháp vương tử”:Nghĩa đen là con đấng Pháp Vương. Đây là một mỹ hiệu của các đại Bồ Tát. Pháp Vương tức là Đức Phật. Vương có nghĩa là người đứng đầu không ai hơn. Đức Phật là đấng thuyết pháp khắp thế gian, xuất thế gian không ai hơn nên được gọi là Pháp Vương.

Vương còn có nghĩa là Tự Tại. Kinh chép: “Ta là pháp vương, tự tại trong các pháp”.Chỉ mình Phật được gọi là Pháp Vương. Chữ “Tử” (con) chỉ Bồ Tát. Theo Phật Địa Luận: “Từ miệng Chánh Pháp của Phật sanh ra, tiếp nối thân Phật chẳng đoạn tuyệt, nên gọi là Pháp Vương Tử”.

Hơn nữa, Tử có hai nghĩa:

- Sở sanh (được sanh bởi): trí huệ, đạo quả của Bồ Tát được phát sanh bởi Đức Phật. Kinh chép: “Từ Phật hóa sanh, sanh ra từ miệng Phật”.

- Kế thừa: công nghiệp cha sáng lập, con kế thừa, phát triển. Hết thảy Bồ Tát có trách nhiệm gánh vác Chánh Pháp của Như Lai, kế thừa gia nghiệp của Đức Phật. Sự nghiệp của Phật chính là sự nghiệp thuyết pháp độ sanh.

Bồ Tát địa vị gần với Diệu Giác giống như con trưởng của Phật, khác nào hoàng thái tử sẽ kế vị ngôi vua nên gọi là Pháp Vương Tử. Theo Kinh Khê đại sư: “Trong các vị pháp vương tử, Ngài Văn Thù đức cao tột nên các kinh đều gọi Ngài là Thượng Thủ”.

Hơn nữa, bản thân Ngài đã là Phật, thị hiện thân Bồ Tát độ sanh, như vậy là “bổn tích xứng hợp”, nên gọi là Pháp Vương Tử.

Trong kinh Hoa Nghiêm Ngài là Căn Bản Sư; trong kinh Pháp Hoa, Ngài là Chư Phật Sư, trong kinh Lăng Nghiêm Ngài là Trạch Pháp Sư (vị thầy chọn lựa pháp cho tứ chúng tu tập), trong kinh này Ngài là Ảnh Hưởng Chúng (thánh chúng tham dự pháp hội để chứng tín, tạo ảnh hưởng, khiến cho pháp môn này được hoằng truyền rộng rãi). Ngài là bậc Trí Huệ đệ nhất trong hàng đại Bồ Tát.

Không phải ngẫu nhiên hai vị Xá Lợi Phất và Văn Thù được nêu đầu tiên trong hàng thính chúng. Pháp môn trì danh niệm Phật này rất khó tin, khó lãnh hội. Nếu chẳng phải là bậc đại trí huệ thì chẳng thể nào tín ngưỡng, tuân hành nổi.

b) A Dật Đa Bồ Tát:

Tức là Di Lặc Bồ Tát, lẽ ra phải gọi đủ là A Dật Đa Di Đa La Bồ Tát. A Dật Đa là tên, Di Lặc là họ. Di Lặc dịch là Từ Thị (họ Từ), A Dật Đa dịch là Vô Năng Thắng (không ai thắng nổi, không ai hơn). Tuy vậy, có thuyết nói A Dật Đa là họ, Từ Thị mới là tên.

Quá khứ, Bồ Tát được gặp Đại Từ Như Lai, phát tâm xuất gia, chứng đắc Từ Tâm tam muội, nên được hiệu là Từ Thị. Cho đến khi thành Phật, Ngài vẫn dùng danh hiệu này.

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm vua từng làm vị quốc vương từ ái tên là Đàm Ma Lưu Chi, từ tâm cứu thế, nên được dân chúng tôn xưng là Từ Thị. Từ đấy đến nay, Ngài thường được gọi là Từ Thị.

Ngoài ra, trong quá khứ, Ngài từng làm một vị Bà La Môn, tên là Nhất Thiết Trí, trong tám ngàn năm tu tập hạnh Từ.

Trong đời Phật Phất Sa, Ngài cùng đức Thích Ca cùng phát Bồ Đề tâm, thường tu tập Từ định.

Theo kinh Bi Hoa, Từ Thị Bồ Tát phát nguyện trong kiếp đao binh thường ủng hộ chúng sanh, đấy là lòng Từ tột bực của Bồ Tát, không ai hơn được nổi, nên Ngài hiệu là Vô Năng Thắng.

Trong đời hiện tại, khi Ngài sanh ra đã có đủ ba mươi tướng đại trượng phu, thân như vàng tía, phong thái đoan nghiêm. Bà mẹ Ngài tánh tình nóng nảy, cáu kỉnh, nhưng từ khi mang thai Ngài trở nên từ tâm lợi vật, từ ái khoan hòa. Thầy bói bảo: “Đấy là nhờ đức của đứa con”. Vì thế, Ngài được đặt tên là Di Lặc. Hiện Di Lặc Bồ Tát đang ở trong nội viện trên cung trời Đâu Suất, làm một vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong tương lai sẽ kế vị đức Phật Thích Ca Mâu Ni, làm vị Phật thứ năm trong ngàn Đức Phật của Hiền kiếp.

Hiện tại nay Đức Phật Thích Ca thành Phật khi tuổi thọ con người trăm tuổi. Cứ một trăm năm, con người giảm một tuổi thọ, giảm như thế cho đến khi con người chỉ còn thọ 10 tuổi. Nhân loại khi đó tánh tình cực ác, dù nhánh cây hay cọng cỏ lọt vào tay đều thành vũ khí giết hại nhau. Do quá cực khổ, con người bèn hướng thiện, nên tuổi thọ lại tăng dần. Cứ một trăm năm, tuổi thọ lại tăng thêm một năm.

Tăng đến khi con người thọ được tám vạn năm, Ngài sẽ hạ sanh trong nhân gian, thành đạo dưới cội cây Long Hoa trong vườn Long Hoa (Cây ấy có hình dáng như rồng cuộn, khi đức Thế Tôn thành đạo, cây mới trổ hoa nên gọi là Long Hoa). Sáng ngồi đạo tràng, tối đã thành Phật; ba lượt chuyển pháp luân, độ chúng sanh khắp ba căn nên gọi là “Long Hoa tam hội”. Những người đã từng gieo căn lành sâu dày trong pháp của Đức Phật Thích Ca mới được dự các hội thuyết pháp ấy.

Tương truyền, thời Lương Võ Đế, Ngài từng hóa hiện làm Phó Đại Sĩ, được hoàng đế tôn kính tột bậc. Vào thời Ngũ Đại, Ngài từng thị hiện ở huyện Phụng Hóa tỉnh Triết Giang, xước hiệu là Bố Đại hòa thượng (hòa thượng túi vải), tai to, bụng lớn, tay cầm chiếc túi vải, gặp ai cũng khuyến hóa, xin được thứ gì đều bỏ trong chiếc túi vải. Ngài thường ngâm:

Phi thị tắng ái thế thiên đa,

Tồn tế tư lương nại ngã hà?

Khoan khước đỗ bì tu nhẫn nhục,

Hoát khai tâm địa nhậm tùng tha

(Nào phải người đời lắm ghét ưa,

Nghĩ suy cho kỹ Ngã đâu là?

Chiếc bụng to đùng nên nhẫn nhục,

Rỗng rang tâm địa bởi đâu mà!)

Lại nói:

Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân thiên bách ức,

Thời thời thị chư nhân,

Thời nhân tự bất thức.

(Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân ngàn trăm ức,

Luôn luôn dạy mọi người,

Mà ai nào hay biết)

Như vậy, Ngài Di Lặc thường thị hiện trong thế gian độ sanh mà phàm phu nhục nhãn chẳng nhận biết được Ngài.

c) Càn Đà Ha Đề Bồ Tát:

Dịch là Bất Hưu Tức (chẳng thôi nghỉ). Phật đạo sâu xa, chẳng phải là hàng tiểu căn, tiểu hạnh có thể đạt đến mục đích nổi, mà phải là hạng bao kiếp siêng năng, gắng công chẳng ngừng, chẳng nghỉ mới có thể thượng thành Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.

Vị Bồ Tát này thường tu vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, trải hằng hà sa kiếp chưa từng ngừng nghỉ. Kinh Tư Ích chép: “Lấy hằng hà sa kiếp làm một ngày, lấy 30 ngày làm một tháng, lấy mười hai tháng làm một năm, qua một trăm mười vạn ức kiếp mới được gặp gỡ một Đức Phật. Gặp gỡ hằng hà sa Đức Phật như thế, hành các phạm hạnh, tu tập các công đức, sau đó mới được thọ ký, tâm chẳng ngơi nghỉ nên hiệu làCàn Đà Ha Đề”.

d) Thường Tinh Tấn Bồ Tát:

Thường là thường hằng (chẳng gián đoạn), Tinh là tinh cần (siêng năng, chuyên ròng), Tấn là tiến lên. Thuần nhất chẳng tạp là Tinh, hướng đến trước chẳng lui sụt là Tấn, rốt ráo tinh tấn. Vị Bồ Tát này bao kiếp tu phạm hạnh phổ độ chúng sanh, một dạ tấn tu chẳng thay đổi, nên gọi là Thường Tinh Tấn.

Kinh Đại Bảo Tích chép: “Vị Bồ Tát này vì một chúng sanh trải qua vô lượng kiếp khuyến hóa chẳng bỏ. Nếu như người ấy vẫn chưa lãnh thọ sự giáo hóa thì chưa từng có một niệm buông bỏ người ấy”.

Các vị Bồ Tát tham dự pháp hội rất đông, vì sao chỉ nêu tên bốn vị Bồ Tát này? Ấy là do pháp môn Tịnh Độ là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, không là bậc đại trí không thể nào lãnh ngộ nổi, nên nêu tên Bồ Tát Văn Thù đầu tiên (Văn Thù là Thật Trí, Xá Lợi Phất là Quyền Trí). Pháp môn Niệm Phật này là pháp yếu để độ sanh, cần phải được lưu truyền rộng rãi trong muôn kiếp. Thế nên, Di Lặc Bồ Tát đương lai hạ sanh cũng tham dự pháp hội này để trong tương lai, nơi Long Hoa tam hội, sẽ lại trùng tuyên pháp yếu để pháp này được lưu truyền vô tận.

Pháp môn Trì Danh này chẳng có yếu quyết nào khác ngoài việc buông xuống vạn duyên, giữ mỗi một niệm chấp trì danh hiệu, trong mười hai thời thường siêng tinh tấn, trọn chẳng ngưng nghỉ, thì tự nhiên công phu sẽ được thuần thục, lâm chung quyết định vãng sanh. Vì thế, nêu tên hai vị Bất Hưu Tức, Thường Tinh Tấn.

Các vị đại sĩ đã đạt địa vị Đẳng Giác hoặc Diệu Giác như thế còn thân cận Phật A Di Đà, hâm mộ pháp môn Tịnh Độ; cớ sao bọn phàm phu chúng ta lại dám chê bỏ, lộng ngôn là pháp dành cho kẻ căn cơ hạ liệt, ngu phu ngu phụ thực hành, múa mép khua lưỡi bài xích để đến nỗi rước lấy tội ương, hoặc chẳng chịu phát nguyện, thọ trì, đánh mất lợi ích lớn? Đáng tiếc quá lẽ!

Nếu xét về Lý, Diệu Thủ (Văn Thù) chính là Tín, Tín làm đầu trong vạn hạnh (Tín phát xuất từ Trí, chứ không phải là lòng tin mù quáng, mê muội). Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tín là nguồn đạo, là mẹ công đức”.Cầu sanh Tịnh Độ ắt phải lấy Tín làm đầu. Từ Thị tượng trưng cho Nguyện, nguyện trong kiếp đao binh luôn ủng hộ chúng sanh. Thường Tinh Tấn và Bất Hưu Tức tượng trưng cho Hạnh. Tinh là chẳng tạp, tức là “nhất tâm bất loạn”, một dạ trì danh chẳng tạp tu các pháp môn khác. Tấn là chẳng lui sụt, tức là “bất thoái chuyển”. Bất Hưu Tức và Thường Tinh Tấn ý nghĩa tương đồng.

1.3.2.3. Tiểu kết

Chánh kinh:

Dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát.

(Cùng với các vị đại Bồ Tát giống như thế đó).

Giải:

“Dữ” là cùng với. Hai chữ “như thị” chỉ bốn vị Bồ Tát vừa nêu trên.Ngoài những vị ấy ra còn có vô lượng những vị Bồ Tát khác dự hội nhưng chẳng nêu tên, nên dùng chữ “đẳng”.

1.4. Thiên nhân chúng(đại chúng trời, người)

Chánh kinh:

Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu.

(Cùng với Thích Đề Hoàn Nhân, vô lượng chư thiên đại chúng cùng tụ họp).

Giải:

Đoạn kinh này minh thị ngoài hai chúng Thanh Văn và Bồ Tát, còn có vô lượng hết thảy đại chúng trời, người cùng đến dự hội, biểu thị pháp môn Tịnh Độ quảng đại viên mãn, không căn cơ nào chẳng được thâu nhiếp.

“Thích Đề Hoàn Nhân”:gọi đủ theo tiếng Phạn là Thích Ca Đề Bà Nhân Đạt La, Hán dịch là Năng Thiên Chủ hoặc Năng Vi Chủ. Thích Ca là họ, Đề Bà là trời (Đề Bà đôi khi phiên âm thành Đề Hoàn), Nhân Đạt La là chúa, là đế vương.

Ông này là vua cõi trời Đao Lợi, thường gọi tắt là Đế Thích. Trời Đao Lợi thường dịch là Tam Thập Tam thiên, tức là tầng trời thứ hai trong sáu cõi trời trong Dục Giới. Cõi trời này nằm ngay trên đảnh núi Tu Di, rộng tám vạn do tuần, chính giữa là thành Thiện Kiến, là chỗ đặt cung điện của Đế Thích (thường gọi là Thiện Pháp Đường thiên). Bốn phía, bốn góc mỗi nơi có bốn vị trời. Bốn lần tám thành ba mươi hai, cộng chung với vua Đế Thích thành 33 vị trời nên gọi là Tam Thập Tam Thiên.

Trong quá khứ, trong thời Phật Ca Diếp, Đế Thích là một vị bần nữ, thấy tháp Phật Ca Diếp hư nát bèn phát tâm tu bổ tháp tượng cho thật cao rộng trang nghiêm, dốc sạch của cải để tận lực kiến tạo, vẫn chưa đủ. Bà bèn khuyến hóa 32 người khác cùng phát tâm hỗ trợ. Do bởi thắng phước ấy, đạt được quả báo thù thắng, sanh làm Đao Lợi thiên chúa, 32 người kia làm thiên chúa trong ba mươi hai cõi trời phụ.

Trong tương lai, Đế Thích sẽ thành Phật hiệu là Vô Trước Tôn Như Lai.

“Đẳng”:dưới thì tính đến chư thiên trời Tứ Thiên Vương, trên thì tính đến chư thiên các tầng trời Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại v.v... Thậm chí các vị trời ở Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, cùng tất cả chư thiên trong các thế giới khác nhiều như vi trần trong mười phương. Số lượng quá nhiều nên bảo là “vô lượng chư thiên”.

Cần lưu ý: trong Phật giáo, Thiên (trời) chỉ là một trong sáu loại chúng sanh, có nhiều phước báo, tự nhiên hóa sanh, không cần cha mẹ sanh dưỡng, có sanh mạng, thọ mạng dài lâu nhưng có hạn định nhất định, còn lệ thuộc trong sanh tử luân hồi.

“Đại chúng”là chữ để phiếm chỉ: Từ những hạng thính chúng như trên đã kể: đại tỳ kheo tăng, đại Bồ Tát, vô lượng chư thiên cho đến tứ chúng, trời, rồng tám bộ trong mười phương.

Thanh Văn chúng thường theo hầu Phật nên được nêu trước, Bồ Tát chúng thực hành Trung Đạo nên nêu ở giữa, chư thiên là ngoại hộ của Phật còn thuộc về địa vị phàm phu nên kể sau cùng.

Hơn nữa, nêu trước Thanh Văn rồi đến Bồ Tát là để đối ứng giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa. La Hán, Bồ Tát và chư thiên đại chúng là nêu sự đối ứng giữa thánh và phàm. Hai điều này biểu thị pháp môn Tịnh Độ nhiếp thọ trọn ba căn, không sót một ai.

Phần Ba

1. BIỆT TỰ(Phát khởi tự)

Chánh kinh:

Nhĩ thời Phật cáo trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.

(Lúc bấy giờ, Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất:

- Từ đây [đi về] phương Tây qua khỏi mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Cõi ấy có một vị Phật hiệu là A Di Đà nay hiện đang thuyết pháp)

Giải:

Các bộ kinh khác phải đợi thỉnh Phật mới giảng thuyết. Còn trong kinh này, vì Cực Lạc là chỗ nương về của chúng sanh trong cửu giới, hồng danh Di Đà chính phương tiện nhiệm mầu nhất để liễu thoát sanh tử. Nhị Thừa mấy khi được nghe, lục đạo chúng sanh chẳng hề hay biết. Bởi lẽ đó, đức Thích Tôn quán sát nay đã đến lúc căn cơ chúng sanh nhờ nghe pháp Tịnh Độ mà được giải thoát, nên Phật ứng cơ, vận dụng lòng Vô Duyên Từ, không ai hỏi tự giảng ra pháp môn Trì Danh Niệm Phật.

Chữ “nhĩ thời”chỉ thời thành tựu trong sáu thứ thành tựu, tức là trong lúc Phật sắp thuyết giảng kinh này.

“Cáo”:kẻ trên bảo người dưới là Cáo. Kẻ dưới thưa cùng người trên gọi là “bạch”, nhằm biểu thị sự tôn kính.

Vì sao Đức Phật không ai hỏi lại tự nói kinh này? Đó là vì pháp môn này viên diệu chẳng thể nghĩ bàn, mấy ai biết đến, nên không ai có thể phát khởi thỉnh vấn được. Đức Thế Tôn mẫn niệm chúng sanh vô cực, Phật trí soi xét căn cơ chúng sanh chẳng lầm, đại chúng do nghe pháp này sẽ đạt lợi ích lớn lao. Đức Phật cũng sẵn biết chúng sanh đời mạt sẽ nhờ pháp này mà được độ thoát nên chẳng đợi ai cầu thỉnh, bèn giảng ngay vào y báo, chánh báo của cõi Tịnh Độ. Vì thế kinh này được xếp vào thể loại Vô Vấn Tự Thuyết trong mười hai bộ loại kinh vậy.

Các đệ tử của Phật hiện diện trong pháp hội rất nhiều, vì sao Phật lại chỉ gọi Ngài Xá Lợi Phất để dạy? Ấy là vì Xá Lợi Phất là bậc đương cơ của kinh này. Xét ở mức độ sâu hơn thì là vì:

a) Pháp môn Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn, rất khó tin, chẳng phải bậc đại trí huệ sẽ không thể nào tin nhận, không chút nghi ngờ.

Vì thế, Đức Phật gọi ngay Ngài Xá Lợi Phất để dạy. Cũng như trong hội Bát Nhã, Ngài Tu Bồ Đề là bậc Giải Không đệ nhất, nên Phật gọi Tu Bồ Đề để dạy. Hơn nữa, Đức Phật nói với bậc đương cơ để dạy chung tất cả đại chúng chứ không phải chỉ giảng riêng cho mình Ngài Xá Lợi Phất.

Người tu pháp môn Tịnh Độ nếu dùng Trí để phát khởi lòng tin thì lòng tin ấy là Chánh Tín; nếu dùng Trí để phát nguyện thì nguyện ấy sẽ thành hoằng nguyện, nếu dùng Trí để khởi hạnh thì hạnh ấy chính là diệu hạnh. Bởi Trí trọng yếu như thế, nên Phật mới đặc biệt gọi Ngài Xá Lợi Phất để giảng pháp môn này.

b)Để trọn đủ Tứ Tất Đàn:

Tất nghĩa là phổ cập, Đàn là Đàn Na, tức bố thí. Phật dùng bốn pháp để thí cho khắp tất cả, nên gọi là Tứ Tất Đàn.

- Xá Lợi Phất là đại đệ tử của Phật, thường được nhắc đến đầu tiên trong các kinh; nên đương nhiên phải gọi Ngài giảng dạy để đại chúng đều hoan hỷ. Đó là Thế Giới Tất Đàn.

- Xá Lợi Phất là bậc trí huệ đệ nhất, đại chúng cùng khâm ngưỡng. Ngài Xá Lợi Phất tin tưởng pháp này thì đương nhiên đại chúng cũng sẽ tín phụng, khiến họ được lợi ích sanh khởi thiện pháp. Đấy là Nhân Tất Đàn.

- Phật dạy Ngài Xá Lợi Phất là để khiến cho những kẻ chẳng tin vào Tịnh Độ nẩy lòng hổ thẹn, vứt bỏ tà kiến, khiến họ được lợi ích diệt ác. Đấy là Đối Trị Tất Đàn.

- Vì sách tấn kẻ tu tập tiểu pháp, khiến cho họ hồi tiểu hướng đại, cầu sanh Tịnh Độ, rốt ráo thành Phật. Đó là làm cho họ được lợi ích nhập lý. Đấy chính là Đệ Nhất Nghĩa Đế Tất Đàn vậy.

Câu “tùng thị Tây Phương”chỉ rõ xứ sở. Tùng là do, chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà này. Do Cực Lạc ở phương Tây nên gọi là Tây Phương. Câu “quá thập vạn ức Phật độ”chỉ rõ khoảng cách. Quá là trải qua, đi qua. Vạn là mười ngàn. Mười vạn là một Ức.

Mỗi thế giới Phật nhỏ lớn không đồng, nhỏ nhất là một tam thiên đại thiên thế giới. Chẳng hạn, cõi Sa Bà này chỉ gồm một tam thiên đại thiên thế giới.

Thế nào là một tam thiên đại thiên thế giới?

Trong thế gian, ngọn núi cao nhất là núi Tu Di (Tàu dịch là Diệu Cao). Núi này cao hơn mặt biển tám vạn do tuần (một do-tuần thường được hiểu là bốn mươi dặm) và phần ngập trong nước biển cũng là tám vạn do tuần. Vì thế gọi là Cao. Núi này thuần do các thứ báu hợp thành nên gọi là Diệu.

Quanh bốn phía núi Tu Di có bốn đại hải, gọi là Hương Thủy Hải. Bao quanh đại hải lại có núi thuần bằng vàng gọi là Kim Sơn. Bọc lấy những núi ấy là những biển chứa đầy nước mặn. Bọc lấy những biển nước mặn ấy là những rặng núi lớn, gọi là Đại Thiết Vi sơn. Phía Đông núi ấy có Đông Thắng Thần Châu, phía Tây có Tây Ngưu Hóa Châu. Phía Nam có Nam Thiệm Bộ Châu. Phía Bắc có Bắc Câu Lô Châu. Quả địa cầu ta đang ở đây thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu. Bốn châu, núi Thiết Vi, Kim Sơn, Hương Thủy Hải, biển nước mặn thuộc phạm vi soi sáng của một mặt trời, mặt trăng.

Gộp cả chín núi, bốn biển, bốn đại bộ châu cùng các cõi trời lên đến tầng trời Lục Dục Thiên là một tiểu thế giới. Một ngàn tiểu thế giới và tính lên đến trời Nhị Thiền là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới và tính gộp lên đến trời Tam Thiền là một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới và tính lên đến trời Tứ Thiền là một đại thiên thế giới. Do ba lần lũy tính, mỗi lần là 1.000, nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên thế giới.

Từ thế giới Sa Bà này đi thẳng về phương Tây, qua khỏi mười vạn ức thế giới Phật như thế sẽ đến thế giới Cực Lạc. Thế giới ấy y báo, chánh báo thù thắng trang nghiêm khôn sánh, vĩnh viễn thoát khỏi các nỗi khổ, an lạc bậc nhất, hết thảy sự vui trong cảnh trời, cõi người không thể nào sánh bằng sự vui trong cõi Phật ấy nên gọi là Cực Lạc.

Hơn nữa, mười phương cõi Phật, cõi nào cũng có bốn cõi (Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang), đều phân ra tịnh uế sai biệt. Riêng cõi Cực Lạc cả bốn cõi đều tịnh. Cõi Cực Lạc là do công đức hạnh nguyện xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà tạo thành, khắp cả mười phương cõi Phật không có cõi nào giống như thế, là cõi nhiệm mầu độc nhất vô nhị như thế nên gọi là Cực Lạc.

Phải qua mười vạn ức cõi Phật mới đến được Cực Lạc, như vậy có phải là xa quá hay chăng?

Ước về Sự, tuy cách xa mười vạn ức cõi, nhưng cứ như kinh Pháp Hoa đã thuyết minh: Nếu dùng một bụi nhỏ để đánh dấu những cõi Phật đã đi qua thì con số mười vạn ức cõi Phật có thấm vào đâu!

Lại theo kinh Hoa Nghiêm, Hoa Tạng thế giới có hình dạng như cái tháp báu úp ngược, phía trên to, phía dưới nhỏ, gồm tất cả 20 tầng. Mỗi tầng lại có vô số thế giới Phật nhiều như vi trần. Cõi Sa Bà đây của chúng ta nằm ngay trong tầng 13 của Hoa Tạng thế giới, thật chỉ là một mảy trần trong vi trần sát độ thế giới Phật. Cực Lạc và Sa Bà cùng nằm trong tầng thứ 13. Cứ so sánh với số vi trần sát độ thì Cực Lạc chỉ cách Sa Bà mười vạn ức cõi, chẳng đáng coi là xa xôi chi cả! Cực Lạc chỉ là thế giới vui sướng nằm trong Hoa Tạng thế giới, Sa Bà cũng chỉ là một thế giới khổ sở thuộc trong Hoa Tạng mà thôi!

Ước về Lý, Cực Lạc nào cách tấc gang. Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta xét về chiều dọc thì tột cùng ba đời, theo chiều ngang thì trùm khắp mười phương. Mười phương hư không vi trần cõi nước vốn chỉ là cảnh được hiện trong một niệm tâm của ta. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Hư không sanh trong đại giác như một bọt nước trong biển cả”.Vi trần cõi nước hữu lậu đều nương vào hư không mà sanh. Hư không vốn đã là không, huống hồ là các cõi? Do pháp giới duy tâm nên tự tâm vốn sẵn đủ Cực Lạc, vậy thì cần chi phải lo ngại là gần hay xa nữa ư?

Chỉ vì chúng ta chấp trước điên đảo đến nỗi vọng tưởng che lấp nên chẳng thể chứng đắc. Nếu có thể phát khởi một niệm chân tâm niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, chứng đắc bổn tâm thì sẽ phát sanh được cõi Cực Lạc ngay nơi tự tâm, thấy được đức Di Đà ngay nơi tự tánh. Cực Lạc vốn chẳng lìa tự tâm, đúng như chư Tổ thường nói: “Toàn sự tức là Lý, toàn vọng chính là chân, tánh - tu bất nhị, tự - tha viên dung”,nào còn phải so đo là gần hay xa chi nữa!

Đối với nhục nhãn của phàm phu, mười vạn cõi Phật chừng như quá xa, nhưng một khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc lâm chung tâm được định thì ngay trước mắt liền thấy Cực Lạc. Cổ đức nói: “Lâm chung cảnh Tây phương, rõ ràng ngay trước mắt”,chính là ý này vậy.

Hơn nữa, người chưa đủ tín căn sâu xa, đối với câu kinh “quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới danh viết Cực Lạc” khó lòng chẳng thể sanh nghi, phân vân: sao biết được qua khỏi mười vạn ức cõi Phật có thế giới Cực Lạc? Nay xin tạm lấy chuyện trước mắt để phá nghi: Trước khi ngành hàng hải, hàng không phát triển, khi nghe nói có năm châu, bốn biển, không ít kẻ cho đó là chuyện hư huyễn!

Nghe Đức Phật nói có vô lượng thế giới, mắt ta nào thấy. Nay nhờ thiên văn học phát triển, ta mới biết cứ mỗi một tinh tú là một thế giới. Mắt trần của chúng ta có thấy được vi trùng hay không nếu không dùng đến kính hiển vi, có thấy được những tinh cầu nếu không dùng đến viễn vọng kính hay không? Cứ lý đó mà suy, trong vô lượng thế giới mười phương ắt phải có một thế giới Cực Lạc, nhưng mắt tục phàm phu không thấy được, chỉ có Phật nhãn mới thấy biết rõ ràng mà thôi!

Đức Phật vốn đủ Nhất Thiết Chủng Trí, hiểu rõ chân lý vũ trụ, dù là pháp xuất thế hay thế gian, không pháp nào Ngài chẳng hiểu rõ. Khắp mười phương thế giới, Phật nhãn nhìn thấu suốt tất cả, huống hồ chỉ có mười vạn ức cõi Phật, Ngài lại chẳng nhìn thấy rõ hay sao?

Câu “kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà”nêu rõ chánh báo (Chánh báo là chỉ về thân, mỗi chúng sanh đều thọ thân sai khác, đó gọi là Chánh. Tùy theo nghiệp lực mỗi người mà thọ thân thù thắng hay hèn kém nên gọi là Báo). Đức Thế Tôn tự xướng lên danh hiệu Phật A Di Đà để phát khởi, nghĩa là: xác quyết thật có chánh báo như vậy hòng phát khởi lòng tin chân xác nơi chúng sanh, khiến họ chuyên ròng, chân thành niệm Phật.

Chữ “kỳ độ”chỉ thế giới Cực Lạc. Đã có thế giới, ắt phải có Đức Phật hóa độ trong ấy nên bảo là “hữu Phật”.

“Hiệu A Di Đà”:xưng tên căn cứ theo đức thì gọi là “hiệu”. Câu này nêu rõ vạn đức hồng danh của đức giáo chủ cõi Cực Lạc.

“Kim hiện tại thuyết pháp”:Đây chính là phong cách độ sanh. “Kim” nghĩa là ngay hiện thời, ngụ ý: ngay trong lúc Đức Phật Thích Ca đang thuyết pháp đây. Nói “hiện tại” để phân biệt với quá khứ, vị lai, hàm nghĩa: ngay trong lúc Thích Ca Mâu Ni Phật đang giảng kinh này, Phật A Di Đà cũng đang thuyết pháp ngay trong cõi Cực Lạc. Bởi thế mới nói là “kim hiện tại thuyết pháp”.

Hơn nữa, chữ “hiện tại” đây không phải chỉ riêng lúc đức Thích Ca đang thuyết pháp mới bảo là hiện tại, mà ngay cả trước khi đức Bổn Sư xuất thế (10 kiếp trước), vẫn gọi là “hiện tại”; bởi lẽ trước khi Đức Phật Thích Ca giáng thế, Phật A Di Đà đã ngày ngày thuyết pháp trong cõi Cực Lạc. Dù đức Thích Ca đã diệt độ, cho đến nay và cho đến tột cùng đời vị lai, Đức Phật Di Đà vẫn đang ngày ngày thuyết pháp bên cõi kia, nên vẫn bảo là “hiện tại”. Như vậy, hai chữ “hiện tại” thông cả quá khứ lẫn vị lai. Chẳng những mình Đức Phật Di Đà thuyết pháp mà nước, chim, cây cũng đều rộng diễn diệu pháp.

Lại nữa, trong thế giới Sa Bà, cõi nước có những kiếp thành, trụ, hoại, không, chúng sanh có tướng sanh diệt. Trong cõi Cực Lạc, về y báo thì cõi nước bất hoại, về chánh báo thì thọ mạng vô lượng, không lúc nào A Di Đà Phật chẳng vì chúng sanh thuyết pháp. Nay Phật đã nhập diệt, đức Di Lặc chưa ra đời, thắng duyên Tịnh Độ khó gặp, nay được gặp thật là hãn hữu, chúng ta phải nên phát nguyện cầu sanh hòng mau chứng Bồ Đề, khỏi phụ bạc tấm lòng đau đáu tha thiết của hai đấng Từ Phụ.

Theo Ngài Khuy Cơ, chữ Pháp trong “thuyết pháp” có thể hiểu là riêng chỉ pháp môn Trì Danh Niệm Phật.

Kinh này lấy Tín Nguyện Hạnh làm tông chỉ, nên trong đoạn kinh nào cũng phô bày rõ tông chỉ ấy. Ngay trong phần Phát Khởi Tự đây, cũng lấy ý Khuyến Tín, Khuyến Nguyện, Khuyến Hạnh để phát khởi:

- Câu “hữu thế giới danh viết Cực Lạc, hữu Phật hiệu A Di Đà” là lời Đức Phật đích thân nói ra, phải nên tin tưởng, đừng hồ nghi. Ấy là Khuyến Tín.

- Phật nói đến cõi “Cực Lạc” là ý muốn chỉ bày cõi Tịnh Độ nhiệm mầu hòng người nghe phát nguyện cầu sanh. Ấy là Khuyến Nguyện.

- Nêu danh hiệu A Di Đà chính là chỉ rõ vạn đức hồng danh, ngõ hầu người nghe phát tâm xưng niệm. Ấy là Khuyến Hạnh.

Vì sao Đức Phật lại chọn Thanh Văn làm đương cơ để giảng pháp này? Ấy là vì Bồ Tát đã dứt trừ hạt giống phiền não, vị nào cũng đều đã an trụ trong các cõi tịnh (dù ở trong uế độ, tâm vẫn không phân biệt nên cõi các Ngài trụ dù là uế cũng thành tịnh), nhưng Thanh Văn do vẫn còn phân biệt nên thấy cõi có tịnh, uế sai khác. Để sanh lòng hâm mộ, ưa thích cõi Tịnh cho Thanh Văn, Phật bèn giảng cho Thanh Văn pháp này.

Nếu luận về mặt Lý của đoạn kinh này thì:

- Chữ “nhĩ thời” biểu thị thể - dụng ngầm khế hợp nhau. “Phật cáo Xá Lợi Phất” là từ thể khởi dụng. Chữ “tùng thị” ám chỉ thân ngũ uẩn (chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà, mà Sa Bà có ngũ trược, cũng đồng như sắc thân ngũ uẩn), “Tây phương” ám chỉ tâm thanh tịnh kiên cố (phương Tây thuộc hành Kim, thể tánh của Kim là kiên cố).

- “Quá thập vạn ức Phật độ” nghĩa là đoạn trừ mười vạn ức phiền não (“quốc độ” hàm nghĩa chướng ngại, Cực Lạc cách xa mười vạn ức cõi Phật vì chúng sanh bị mười vạn ức phiền não che lấp. Đoạn trừ mười vạn ức phiền não là thành Phật).

- “Hữu thế giới” biểu thị tự tánh tột cùng chiều dọc, bao trọn chiều ngang (Thế có nghĩa là cùng tột ba đời, Giới là bao trọn mười phương).

- Câu “danh viết Cực Lạc” ám chỉ cứu cánh Niết Bàn (lìa khổ sanh tử được hưởng niềm vui giải thoát tột bực, ấy chính là Niết Bàn).

Như vậy, từ nơi thân Ngũ Uẩn này, phát khởi một niệm tâm kiên cố thanh tịnh để tu pháp Niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, công phu đến mức rốt ráo, đoạn trừ được hết thảy phiền não, chướng ngại, thì tự nhiên chứng được lý bất sanh bất diệt của tự tánh. Đấy chính là đại an lạc Niết Bàn rốt ráo.

Câu “kỳ độ hữu Phật” biểu thị trong sắc thân Ngũ Uẩn này có một vị chủ nhân ông (chân tánh), Độ là sắc thân, Phật là chân tánh. “Hiệu A Di Đà”: chân tánh ấy chính là Pháp Thân.

Câu “kim hiện tại thuyết pháp” biểu thị Pháp Thân tùy duyên diệu dụng, thời thời hiển hiện, chưa hề có khoảnh khắc nào xa lìa đúng như thường nói: “Thấy sắc - thanh, đại dụng hiện tiền”.Mặc áo ăn cơm, những hành vi thường ngày như biết lạnh biết đói, thậm chí trong hết thảy sự, có chỗ nào lìa khỏi chân tánh này đâu! Thế nhưng ta nào có nhận thức được chân tánh pháp thân này. Đáng tiếc thay!

Đã hiểu được lý như vậy, thì càng nên dũng mãnh tinh tấn tu hành Tịnh nghiệp, đừng ta thán:

Phật tại thế thời ngã trầm luân,

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ!

(Phật còn tại đời, ta trầm luân,

Nay được thân người, Phật đã diệt)

Mà phải tâm niệm:

Thử thân bất hướng kim sanh độ,

Tiện đãi hà thời độ thử thân?

(Kiếp này chẳng độ thân này được,

Đợi đến khi nào mới độ đây?)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn