Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương hai: Thắp Sáng Hiện Hữu

03/09/201102:43(Xem: 2214)
Chương hai: Thắp Sáng Hiện Hữu

THỰC TẠI VÀ CHÍ ĐẠO
Phổ Nguyệt, Ph.D.

PHẦN HAI
GIẢI THOÁT TRI KIẾN

CHƯƠNG HAI
THẮP SÁNG HIỆN HỮU

Đã giải thoát tri kiến tức là tháo gỡ gánh nặng của thực tại giả lập hay sự vật quá khứ, thì tâm hiện tại trong sáng.

Cuộc sống không quá khứ, không tương lai đó là đầu đề khá phức tạp đến những lý luận sao cho hợp lý. Không quá khứ làm sao có hiện tại, không toan tính tương lai làm sao ổn định được cuộc sống? Quá khứ đầy đau khổ ta giải thoát nó đi. Huân tập hiện tại là nhân tương lai. Nhưng hướng đi và chủ đích của hành giả--khi nhận thức được sự đau khổ--là thực hiện con đường đi đến hạnh phúc vĩnh cữu tức là con đường tri thức đúng thực tướng của sự vật--tất không màng suy nghĩ thêm nữa, không toan tính thêm nữa cái đã qua, cũng như cái sẽ tới, thì cái gì ảnh hưởng đến tâm đạo của mình?

Thắp sáng hiện hữu là hành trình thực hiện lối sống đơn giản xảy ra hàng ngày, tâm tâm vật vật không tạo ra dây oan trái nghiệp thức chồng chất. Tôi thấy đói thì ăn, mệt thì ngủ, ngoài ra không cần suy nghĩ gì nữa. Tâm không vương tình không động. Đó là tâm trạng ung dung tự tại. Thấy bằng trí đơn nhất, đừng sanh tình. Tôi thấy cô gái, biết thấy cô gái. Thôi đủ rồi. Tánh thấy của Phật và chúng sanh đều đồng. Phật cũng thấy, thánh nhân cũng thấy nhưng không sanh lòng. Còn phàm phu chúng ta thấy cô gái thì động lòng trắc ẩn sắc dục, cái thích thú tham cầu từ muôn kiếp, nên cảm xúc tương tư, tìm gặp, thoả mãn ước muốn chiếm hữu cho được cô gái dù trong vọng tưởng. Cái thấy ấy vương vấn tình cảm sẽ mê loạn thân tâm. Giải thoát tri kiến, định thức tâm lý là dẹp bỏ mối oan trái, bậc tu hành đem trí tuệ thắp sáng hiện hữu.

Thấy cô gái thôi rồi, tôi biết tôi thấy, rồi tôi đọc sách, tôi biết tôi đọc sách. Cái biết đơn thuần ấy trong hiện hữu của mỗi hoạt động là ta sống trong tĩnh thức.

Hiện hữu ta ghi nhận bằng một tâm hồn thanh thản, không dấy động. Cái hiện sinh, hiện hữu ấy là đưa ta đến một tâm thức nhẹ nhàng, hồn nhiên như trẻ thơ, cải lão hoàn đồng. Biến những mặc cảm tội lỗi, kiếp sống từng trải lão luyện, tri thức hổn tạp của kiếp người qua thời gian năm tháng khổ ải, cải thành những tâm hồn tươi trẻ, tâm hồn trong trắng không còn vướng thêm một mãi bụi trần, không chút lo âu, không toan tính điều lợi hại, chỉ sống bằng hiện thực. Cái thực tại của mỗi bản thể luôn luôn nằm trong trạng thái hiện tại hay khoảnh khắc hiện tại. Muốn tri giác cái hiện tại, ta phải chụp lấy cái hiện tại đang sống. Như thế có nghĩa là ta phải làm cho Tâm ta luôn luôn chăm chú vào hiện tại, hoặc nữa làm cho ta luôn luôn sống trong hiện tại.

I.- MINH SÁT TUỆ: (Theo Thiền Minh Sát của Phật Giáo Nguyên Thủy) Thông thường tâm không trụ vào một nơi mà tách rời thân, chu du đó đây đến tận những nơi xa xôi, lắm khi cũng đi vào vị lai hay trở lại quá khứ theo dòng tư tưởng và trong giấc mơ.

Tâm phóng như vậy vì thiếu niệm và thiếu giác tĩnh và do đó trở thành chỗ nương tựa của ba căn bất thiện là Tham Sân Si.

Để diệt trừ ba ô nhiễm đó, trên thực tế ta dùng đến trí tuệ rất ít. Thông suốt toàn thể pháp học vẫn chưa phải là đường đưa đến Niết Bàn kể cả phép suy luận. Đường đến Niết Bàn chỉ có thể thành đạt được bằng pháp hành.
Pháp hành là gì?

Theo Minh Sát Tuệ, lối thiền của Phật Giáo Nguyên Thủy cũng là lối Thắp Sáng Hiện Hữu hữu hiệu nhất. Là thực hành tâm niệm và giác tĩnh. Chỉ bằng cách không để tâm phóng dật vào quá khứ hay tương lai mà phải chăm chú vào hiện tại, ta có thể vượt ra ngoài mọi ưa thích hay ghét bỏ và si mê. Nói cách khác ta phải luôn luôn giác tĩnh và không mơ mộng.

Trước tiên ta phải có ít pháp học vừa đủ để biết cử động nào của thân hay tri giác nào có thể là nguồn phát sinh ra ưa ghét tham hay sân và ghi nhận tất cả luôn luôn giác tĩnh. Pháp thực hành của Thiền Minh Sát Tuệ là tập cho tâm an trụ và giác tĩnh. Bỏ lỡ không ghi nhận là Không Biết là Si và kết quả sẽ là để cho tâm bối rối quấn quít trong sự ưa thích và ghét bỏ tức là Tham và Sân, nguyên nhân của mọi đau khổ, sầu muộn, thất vọng và bất toại nguyện mà chúng ta đã chịu.

Giá Trị Sinh Lý của Minh Sát: trong thực tế, pháp hành nầy là là một lối luyện tập liên quan đến hơi thở và tâm, cùng một lúc. Thí dụ, trong khi hành, chú tâm vào sự phồng lên xọp xuống của cái bụng và ghi nhận các tri giác. Trước tiên, hơi thở của hành giả bị xáo trộn và nhiều hiện tượng tinh thần cũng như vật chất sẽ phát sanh đến tâm và thân của hành giả; kế đó hơi thở dần dần đều đặn trở lại. Trong khi thực hành như vậy, máu lên não rất ít hơn, do đó thân cần dùng khí oxy ít hơn. Hơi thở ngắn hơn. Trong khi nằm và ngồi, hành giả cũng thở bằng bụng. Pháp hành nầy làm cho thân cần dùng không khí rất ít và như vậy thân sẽ được nghỉ ngơi phần nào. khi oxy lên não ít hơn sẽ loại trừ những hình ảnh trong tâm và như thế tâm cũng được nghỉ ngơi. Vậy cả thân lẫn tâm được yên nghỉ trong pháp hành Minh Sát và sự yên nghỉ này tốt hơn một giấc ngủ ngon, vì trong giấc ngủ bộ não vẫn làm việc tích cực như khi nằm mộng.

Khi hành giả đạt đến mức cùng tột, chỉ có ít oxy vào não. Đó là điều kiện sinh lý để hành giả vào trạng thái nhập định có thể trọn 24 giờ. Chỉ có những vị A-Na-Hàm--A La Hán mới có thể nhập định đến bảy ngày trọn, không cần phải ăn uống gì. Và điều nầy chỉ thực hiện được vì hành giả không cho những hình ảnh tâm linh hay tư tưởng phát sanh trong tâm. Nói cách khác, vì hành giả có thể dập tắt tất cả ô nhiễm. Không có ô nhiễm, không có hình ảnh (thức) tâm linh, Tâm trở thành rõ ràng và trong sạch, quang minh và thanh tịnh, và chỉ cần rất ít không khí trong hơi thở cũng đủ. Do đó. không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà yogi có thể đóng kín, như trong một quan tài chôn dướI đất trong một thờI gian, điều mà ta nghe kể hoặc qua báo chí. Cũng do đó, trong khi thực hành qua pháp này, nếu có tâm ô nhiễm phát sinh, hành giả sẽ thở vô nhiều hơi hơn để lấy oxy nuôi dưỡng những tế bào của não bộ đang tích cực hoạt động. Pháp hành Minh Sát tiêu trừ sự mệt mỏi của tâm linh và thể xác, chấm dứt sự lo âu, thắc mắc sầu muộn và thất vọng, và có thể trị mhiều chứng bịnh tinh thần.

Lối thiền nầy, xét theo Duy Thức, là tri thức đúng cái tri thức của cảm giác (chủ khách), ở giai đoạn đầu,tức là tự tánh giả lập. Cứu cánh của phương pháp hay chí đạo của pháp môn là đạt đến quả A La Hán.

II.- QUÁN TỨ NIỆM XỨ:

Đó là luôn nhớ tưởng Thân Tâm Thọ Pháp bằng cách quán sát thường xuyên, theo thiền nguyên thủy:
1. Quán Thân bất tịnh là thân đầy uế trược;
2. Quán Thọ thị khổ là cảm thọ thì khổ;
3. Quán Tâm vô thường vì tâm thức giả lập, hay biến đổi, không chơn thật;
4. Quán Pháp vô ngã là pháp thế gian cũng chỉ là thực tại giả lập, nó không có thực thể. Chỉ có các pháp vô lậu xuất thế gian mới chơn thật vì phát xuất từ Chơn Ngã.
Do cái trí quán sát đối tượng như thế đó chỉ là Trí Phân Tích mà thôi, nó chỉ là dùng pháp đối trị các bịnh như Tham Dục hoặc Sân Si.

Đến lúc Phật sắp viên tịch, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Ngài di huấn khuyến cáo các đệ tử tinh tấn hành Tứ Niệm Xứ của Đại Thừa :
1. Quán Thân như thân là tánh và tướng của thân vốn là không;
2. Quán Thọ như thọ vì cảm thọ của giác quan không thật nên tánh của thọ là không;
3. Quán Tâm như tâm vì tâm là một thực tại giả lập nên tánh của tâm là không;
4. Quán Pháp như pháp vì pháp thiện hay pháp bất thiện đều bất khả đắc, nó vốn có sẳn nơi chơn tâm, tánh không.
Quán tứ niệm xứ ở giai đoạn trên, theo thiền nguyên thủy, thì đạt quả thanh văn; quán tứ niệm xứ theo tánh Không thì quả sẽ cao hơn, như tu theo Đại Thừa.

III. QUÁN ÂM THANH VÀ ÁNH SÁNG:

Nói đến thực tại của Bản Chất tâm linh được các nhà Phật học Tây Tạng định nghĩa như là Ánh Sáng và Âm Thanh cùng tính chất tối sơ của Hư Không. Vì hư không hòa tan với ánh sáng và âm thanh. Theo quan niệm của họ, khi người ta chết thì phải trải qua giai đoạn trung gian hay gọi là trạng thái Trung Ấm, thì người chết phải đối diện với bản chất thật của mình. Trong sách TỬ THƯ TÂY TẠNG, theo Bardo Thodol, cái chết có liên quan với hành động của chúng ta. Vậy thì cái chết đến là không phải do lỗi các vị thần (thoái hóa, nhầm lẩn) mà chính do các sự sai lầm của con người. Ngoài lập luận trên đây, chúng ta còn tìm thấy trong cốt lõi của Bardo Thodol một điều mà các huyền thoại đã từng nhắc đến: Đó là con người thật sự được che chở bao bọc trong lòng của thần linh đầy ánh sáng, nơi đó con người được dự phần vào Chân Lý Tự Tại, chính nhờ vào bản chất tâm linh của mình. Con người phát triển cả một quá trình siêu hình của tư tưởng, trong đó Bản Chất tâm linh của Ánh Sáng của con người là một cái gì đó không thể cầm nắm được, yên lặng và sáng rực, nó vang lên trong Tâm của mỗi người khi mà mỗi mối suy tưởng của chúng ta đều bị cắt đứt, tất cả mọi ham muốn, tất cả mọi mối quan hệ của chúng ta với mọi vật đều chấm dứt. Đó chính là Tâm Thanh Tịnh. Bản Chất Tâm linh Ánh Sáng đó không thể cầm nắm hay diễn tả được, nó có thể có được chứng nghiệm một cách đột biến trong cơn thiền định sâu sắc, sau một quá trình tu tập và phát triển tâm linh lâu dài. Cái bản chất tâm linh Ánh Sáng ấy là bản chất vốn có của con người. Thông qua nó, con người trong tinh hoa của mình được hợp nhất với tất cả chư Phật, với tất cả chúng sinh. Cái đó gọi là Phật tính hay Mầm của Như Lai. (tr 40, 41)

Trạng thái trung gian đầu tiên trực tiếp đến ngay sau khi chết kéo dài lâu hay chóng tùy thuộc vào trình độ tâm linh của con người trước khi chết. Con người càng chìm ngập sâu trong những ảo tưởng và phiền não thì thời gian chuyển sang trạng thái Trung Gian càng ngắn, và Ánh Sáng cơ bản cũng vẩn đục hơn. Con người nầy sẽ bỏ qua dịp may ngàn năm để nhận biết Ánh Sáng cơ bản, tức là bản chất thâm sâu của trí tuệ.

Người nào lúc còn sống luôn luôn tinh tấn thực hành một trong nhiều phương pháp Thiền Định về Ánh Sáng thì lúc chết sẽ có khả năng nhận biết (trong trạng thái Trung Gian) cái tinh hoa tối thượng của của trí tuệ vô sinh, dưới dạng Ánh Sáng bừng lên, là bản chất của Phật, là Hư Không. Cái nhìn sâu sắc ấy đem lại tự do : Người đó đạt được đến sự giác ngộ cao nhất và trở thành một vị Phật (tr 115,116)

Tóm lại thực tại của Ánh Sáng và Âm Thanh được diễn đạt đầy đủ trong bài thơ Kính Tặng (tr103) sau đây:

Kính Tặng
Om! Lạt Ma tôn kính là Tam Thân.
Thân Hư Không (Pháp Thân) tôn kính
Là Trí Tuệ sáng suốt
Bao dung và thâm nhập tất cả
Là Đức Di Đà, Phật Vô lượng Quang!

Báo Thân tôn kính
Là các thần linh Yên Tĩnh và Giận Dữ
Của hệ Hoa sen.
Hóa Thân tôn kính
Là Padma Sambhava
Cứu tinh của muôn loài chúng sinh!

Đại giáo huấn về sự Giải Thoát tự nhiên tức thì
Bằng Tính Nghe và Cái Nhìn sâu sắc
Được tặng cho hành giả.
Như một phương tiện giải thoát
Khi trải qua Trạng Thái Trung Gian (Bardo)

Khi quán Âm Thanh, hành giả tạo âm thanh từ trong nội thân, quán sát bằng tâm thức, tức là thực hiện tánh nghe ở phần trên bộ đầu. Có chủ thể nghe và đối tượng (âm thanh) tức là tạo được tánh biết (nghe). Tánh năng tri ấy thường hằng, hành giả cố gắng huân tập (thiền) thói quen theo lối sống thường hằng ấy để một khi thuần thục rồi, thì xuất thần chứng nghiệm được thể tánh của mình, hoặc giả khi chết, thần thức tiêm nhiễm thể của âm thanh hay tánh nghe nhiều hay ít tùy công phu mà hoà nhập với hư không theo mức độ giảm ít nhiều tính vẩn đục. Thế giới hư không giác ngộ niết bàn là pháp giới của Chư Phật hoàn toàn trong sáng thanh tịnh.

Quán Ánh Sáng cũng tương tự như thế, có đằng là quan sát ở mắt trí tuệ (ám chỉ) cho tâm thức tri nhận tánh thấy.

Dù quán Âm Thanh hay Ánh Sáng, hành giả dùng ý thức (chủ thể) để quán đối tượng (âm thanh, ánh sáng), thì vẫn còn đối đãi chủ khách, dù nếu chỉ chú ý đến chủ khách, không gì ngoài chủ khách, thì cũng loại bỏ tất cả vọng tưởng khác. Cho nên muốn giải thoát khỏi những tri thức sai lầm đó (chủ khách), hành giả nên dùng tâm (trực giác) để thể nhận ngay tánh không của Âm Thanh Ánh Sáng hay đối tượng, tức là biến nhị nguyên thành nhứt nguyên. Vì tâm Không trực nhận thể Không của đối tượng; đó là nhứt tướng hay tướng không, thì pháp tánh sẽ trong sáng thanh tịnh, và đồng pháp tính của chư Phật. Một cách cụ thể hơn, hành giả chỉ cần khi nghe âm thanh hay ánh sáng hiện ra trong đầu, thì hành giả biết (nghe, thấy) có tiếng, có ánh sáng-khi không có âm thanh hay ánh sáng thì biết (nghe,thấy) không có âm thanh hay ánh sáng. Đó là thể hiện cách sống với tánh Biết, tức là năng sở song vong.

IV. NIỆM PHẬT:

Muốn vào nhà Như Lai (thế giới chư Phật), hành giả nên tu theo pháp môn Niệm Phật. Theo tập Tu niệm Phật Tam Muội, phương tiện Đàm, lý giải như sau:
Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy: Vào nhà Như lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai.

Nhà Như Lai là Nhà Đại Bi. Y Như Lai là y nhu hòa nhẫn nhục. Tòa Như Lai là tòa tất cả các Pháp Không. Hành giả tu niệm Phật Tam Muội, phải kiết thất kỳ (mỗi kỳ nhập thất 7 ngày). Nên phải hiểu rõ được lý giải trước khi nhập thất.

Vào nhà Như Lai thì thệ nguyện từ đây về sau chẳng bỏ tâm đại từ bi. Mặc y Như Lai thì thệ nguyện từ đây về sau chẳng rời y nhu hòa nhẫn nhục. Ngồi tòa Như Lai nguyện từ đây về sau mỗi niệm, mỗi niệm trong pháp Không rất rõ ràng. Người tu hành được ba môn Giới học, Định học, Huệ học nầy tinh tấn không thôi, thì chính ngay nhứt niệm của mình thẳng đến mười phương ba đời chư Phật không hai không khác. Lấy tâm nầy mà niệm Phật thì gọi tâm nầy là tâm Phật. Lấy tâm đó quán tưởng Phật thì gọi đó là tâm làm Phật. Chính đây là cơ sở tu niệm Phật Tam Muội, cứu cánh vào được chánh định niệm Phật (niệm Phật Tam Muội).

Thế nên không có gì ngoài tâm đây vậy.

Quán Niệm :

Như trước đã nói lập được cơ sở niệm nầy rồi thì phải quan sát. Một niệm từ tâm phát khởi ra hay từ miệng phát ra. Nếu từ miệng phát khởi ra thì các tượng bằng gổ đất vv... có miệng đều niệm được. Trái lại, các tượng đó không niệm được. Thế mới biết niệm nầy không thể từ miệng mà niệm, còn nói từ tâm phát khởi niệm nầy, vậy nếu miệng và lưỡi không cử động chắc không thể thành tiếng. Bởi vậy, nên biết là niệm Phật ban sơ từ tâm khởi niệm rồi truyền nhanh ra miệng, lưỡi phát động thành âm thanh, mới hoàn thành một niệm. Lại quán sát niệm nầy từ tâm phát khởi thì ban sơ phải từ tâm khởi niệm và truyền nhanh đến miệng, như sóng biển dù lượng sóng có ngàn vạn mà thể nước chỉ là một. Cũng vậy, niệm của tâm dù một hay mười niệm, cho đến ngàn vạn niệm mà niệm nầy cũng chỉ là một thôi. Huống chi là lúc khởi niệm như vậy là hòa hợp sắc tâm liên kết phận vị giả lập mà thôi.

Một niệm phát xuất lúc đó thì niệm ấy tích trữ cho đến ngàn vạn năm chúng đều không khác gì nhau, cho nên nói rằng nhứt niệm vạn niên. Lại niệm ấy cứ tiếp tục ngàn vạn năm dù có nhiều cho đến bất khả tư nghì cũng giống số lượng nước biển bất khả tư nghì vậy. Nghĩa là lượng sóng biển tuy nhiều mà thể nước không sai khác. Cũng vậy, niệm số tuy nhiều mà niệm sau không khác gì niệm trước, gọi đó là vạn niên nhứt niệm. Liễu ngộ đươc nhứt niệm vạn niên thì biết rõ ràng một tiếng niệm Phật chắc chắn diệt trừ được tám vạn ức kiếp sanh tử trọng tội. Liễu ngộ vạn niên nhứt niệm thì biết được hàng hà sa số kiếp, hàng hà sa số vọng niệm ta khởi ra chìm nổi ba cõi sáu đường, đem so sánh số lượng niệm Phật ngày nay của ta phát khởi từ sơ niệm cho đến hậu niệm thành Phật đều chẳng lìa một niệm ban sơ.

Hành giả chỉ triệt ngộ từ niệm nầy, trân trọng một niệm này, biết gìn giữ một niệm này như gà ấp trứng hơi nóng xông ướp với nhau không lúc nào gián đoạn. Đem so sánh công phu niệm Phật tối sơ nhứt niệm cho đến vị lai không ngần mé, niệm niệm không dứt, nối nhau không bao giờ gián đoạn vậy.

Truy Đảnh Niệm Phật :

Đời nhà Minh Ngài Hán Nguyệt Đại Sư phát huy pháp môn Truy Đảnh Niệm Phật.

Cách thức niệm : Cần phải nỗ lực trì Phật danh bốn chữ A Di Đà Phật, niệm cho thành khẩn, cứ một chữ vói theo một chữ, mỗi câu vói theo mỗi câu gấp lại gấp, mạnh lại mạnh, ngăn lại niệm quá khứ, chặn lại ý niệm vị lai, chẳng duyên cảnh giới hiện tại, ba tâm (tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai) chẳng khuấy động được mình, như thế ba tâm đều đoạn tuyệt, khoảng cách thời gian chẳng hiện ra, coi như ta thẳng đến chí điểm: nghiền nát cả hư không đại địa đều bình trầm (phẳng lặng). Ta với cảnh vật đồng tiêu, không còn pháp nào dựng lập trong ý tưởng. Trước mặt hiện toàn thân tại viên cảnh trí. Gương sáng trí tuệ bao trùm khắp cả vũ trụ không còn phân biệt vọng tưởng dẫy đầy đại thiên xum la, vạn tượng rõ rõ ràng ràng nào có quái ngại gì đâu, cảnh giới ấy gọi là nhất tâm bất loạn (không có tâm nào có thể loạn hại được), pháp thức tu này là phải niệm Phật cho đến cùng cực, niệm một ngày, nếu một ngày không thành tựu, thì cứ ngưng ngày ấy lại coi như ta chưa niệm, mà phải tái niệm liên tục ngày thứ hai, ngày thứ ba, thứ tư cho đến bảy ngày, hoặc mỗi tháng một ngày, hai ngày, hoặc một thất, hai thất. Nếu như chỗ niệm không thành khẩn thì phải điều dưỡng tinh thần rồi lại tiến tu mãnh liệt một ngày, hai ngày, một thất, hai thất. Như thế trước sau gì cũng đạt cảnh giới nhứt tâm bất loạn.
Phản Văn Niệm Phật :

Đây là phương thức niệm của Ngài Tĩnh Am Đại Sư đời nhà Thanh.
Đem cái nghe để nghe niệm Phật. Phương thức nầy là niệm Phật ra tiếng, tiếng từ miệng ra, rồi thâu tiếng niệm ấy vào tai thẳng đến cả thân đều là Phật, không còn năng niệm sở niệm. Sáu căn đều thâu nhiếp hết trở thành một tấm băng thanh tịnh. Như thế chẳng đợi lúc lâm chung, mà chính lúc ấy ta đã tọa vị trên Liên Đài chín phẩm.

Tu pháp nầy trước phải phát tâm Bồ Đề rồi sau đem cái tâm ấy niệm Phật tinh tấn không gián đoạn. Bất luận đi đứng nằm ngồi vẫn nắm lấy câu A Di Đà Phật đương niệm. Mỗi chữ mỗi cho rõ ràng, cho đến từ câu từ câu phân minh khoáng đạt, cho đến lúc không tác niệm mà vẫn cứ niệm, không chú tâm nghe mà vẫn cứ nghe. Niệm đến chỗ chí cực chí thành, thì tình tiêu ý vong, thân tâm không tịch không ngần mé, ngày ngày niệm như vậy, năm năm niệm như vậy thì quyết định được cảnh giới Tịch Quang Tịnh Độ hiện tiền.

Phát Tâm Bồ Đề là phát tâm: Thành Phật độ chúng sanh giải thoát.

Mục đích chính yếu của pháp môn niệm Phật dầu quán niệm, niệm bốn chữ, dầu dùng những phương tiện gì đều làm cho chúng sanh tiến tu Thánh Đạo, không còn phiền não để thoát khỏi bể khổ sanh tử bước lên Bờ Giác, ngõ hầu họa căn đoạn được, tạo khí thế hòa bình cho thế giới. (Theo trước tác của Bồ Tát giới học giả: Đường Đại Viên Trích lục theo Hải Triều Âm ,do Việt dịch: Tỳ kheo Thích Ấn Nghiêm).

Theo Duy Thức, thì phương thức Phản Văn Niệm Phật tức là Đem cái nghe để nghe niệm Phật có vẻ như là năng sở song vong. Tuy nhiên, nếu dùng cái nghe của chủ thể do giác quan để nghe đối tượng tiếng niệm Phật thì vẫn còn chủ khách đối đãi nhị nguyên. Nếu dùng Tâm Không tức là cái Biết (không qua trung gian của căn nhĩ) trực nhận tánh nghe của tiếng niệm Phật (tức là tánh không của đối tượng) thì lúc đó cái nghe (năng tri) và niệm Phật (sở tri) mới song vong. Một cách khác, khi ta niệm Phật niệm ra tiếng, ta biết (do Tâm) nghe (chủ thể, năng tri hay tánh nghe thường hằng) có tiếng niệm hay không có tiếng niệm (sở tri, vô thường). Như vậy một cách đơn giản là khi ta niệm Phật, Biết nghe có tiếng hay khi không niệm Phật, Biết nghe không có tiếng, thì trong tứ oai nghi mới liên tục hành trì trong tinh thần tĩnh giác. Tuy rằng niệm Phật là dùng một đối tượng giả lập mà hành giả vay mượn (nhân quả) để nương tựa nơi tha lực, nhưng pháp niệm Phật vẫn đạt đến cứu cánh là Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà vì lẻ khi hành giả niệm danh hiệu Ngài tất nhiên dùng những âm thanh lưu lại trong ký ức, lâu ngày chầy tháng, các âm thanh ấy quyện lại thành một khối, là nhân trong tàng thức, thì ắt có quả sẽ trổ theo tư tưởng của mình.

V.-NIỆM CHÚ:

Chúng ta cần tìm hiểu hai thần chú nổi tiếng nhất của Tây Tạng là thần chú Padmasambhava, gọi là thần chú kim cang thượng sư (Vajra Guru Mantra):

OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIĐDNI HUM, và thần chú của Quán Thế Âm, vị Phật của lòng bi mẫn, OM MANI PADME HUM. Hai thần chú nầy cũng như phần đông thần chú, đều bằng phạn ngữ, cổ ngữ thiêng liêng của Ấn Độ. (Trích trong Tạng thư Sống Chết, tr 522-528)

Thần Chú Kim Cang Thượng Sư:

Thần chú nầy được giải thích căn cứ lời giảng dạy của hai ngài Dudjom Rinpoche và Dilgo Rinpoche.

OM AH HUM - Những âm Om Ah Hum có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy, Om đều tiêu biểu cho thân. Ah lời và Hum là ý. Cả ba âm tiêu biểu năng lực ân sủng của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.

Theo nghĩa ngoài, Om tịnh hóa mọi ác nghiệp của nhân, Ah của thân, Ah của lời, và Hum của ý. Nhờ tịnh hóa thân,lời,ý, Om Ah Hum đem lại ân sủng của thân,lời,ý chư Phật... Khi đọc thần chú này, là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như bản thân và những người ở trong đó.

Theo nghĩa trong, Om tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, Ah tịnh hóa nội phong hay khí lực, và Hum tịnh hóa chất sáng tạo.

Ở tầng mức sâu hơn, Om Ah Hum biểu trưng ba thân của Liên Hoa Bộ. Om là Pháp thân, Phật A Di Đà, Đức Phật của ánh sáng vô lượng;Ah là Báo thân, Quán Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi; và Hum là ứng hóa thân, Liên Hoa Sanh. Điều nầy có nghĩa, trong trường hợp thần chú này, cả ba thân đều thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh. VAJRA GURU PADMA Vajra được ví như kim cương, đá quí nhất và cứng nhất. Cũng như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính nó thì không gì phá hủy được, cũng thế trí tuệ bất nhị bất biến của chư Phật không bao giờ bị hoại hay bị phá hủy bởi vô minh, và có thể cắt được mọi vọng tưởng chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời, ý của chư Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng lực sắc bén vô ngại như kim cương. Và cũng như kim cương không tì vết, năng lực sáng chói của nó tuôn phát từ sự chứng ngộ bản chất pháp thân của thực tại, bản chất của Phật A Di Đà.

Guru có nghĩa là sức nặng, chỉ một người tràn đầy đức tin kỳ diệu, thể hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương tiện thiện xão. Cũng như vàng ròng là loại kim nặng nhất quí nhất, cũng thế những đức không lỗi, không thể nghĩ bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua được, thù thắng hơn tất cả. Guru tương đương với Báo thân và Quán Thế Âm, vị Phật của Tâm Đại Bi. Lại nữa, về Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) giảng dạy con đường mật tông, biểu tượng là Kim Cương và nhờ thực hành mật tông mà Ngài đạt giác ngộ tối thượng, cho nên Ngài được biết dưới danh hiệu là Kim Cương Thượng Sư.

Padma hoa sen, có nghĩa là Liên Hoa Bộ trong ngũ bộ và nhứt là khía cạnh ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là dòng họ Phật mà con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là ứng thân trực tiếp của Phật A Di Đà, vị Phật nguyên ủy của Liên hoa bộ, nên Ngài được gọi là Padma, hoa sen. Danh hiệu Liên Hoa Sanh của Ngài kỳ thực ám chỉ câu chuyện Ngài sinh ra trên một đóa sen nở. Khi những âm thanh Vajra Guru Padma đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh túy và ân sủng của Kiến, Thiền, Hành. Vajra nghĩa là tinh chất của chân lý bất khả hoại, bất biến, cũng chắc như kim cương, mà chúng ta cầu mong thực hiện được trong Kiến của chúng ta. Guru tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao quí của giác ngộ, mà ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình. Padma tiêu biểu bi mẩn, mà chúng ta cầu thể hiện trong Hành Động của chúng ta.

Vậy nhờ tụng đọc thần chú nầy mà ta nhận được ân sủng của tâm giác ngộ, những đức cao quí và lòng bi mẩn của Padmasambhava và tất cả chư Phật.

SIĐDHI HUM Siđdhi là thành tựu, đạt đến,ân sủng và chứng ngộ. Có hai thứ thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận được ân sủng tương đối, tất cả chướng ngại trong đời như bịnh tật tiêu trừ, mọi thứ nguyện tốt được thành tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và mọi hoàn cảnh đều được tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa Sanh, để tự lợi và lợi tha. Bởi thế nhờ nhớ đến và cầu nguyện với những năng lực thân, lời, ý của Ngài, mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối và tuyệt đối. Siđdhi Hum được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng, như nam châm hút sắt. Hum tiêu biểu tâm giác ngộ của chư Phật, và là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như tuyên bố lên quyền năng và chân lý của thần chú: Hãy là như vậy! Ý nghĩa cốt yếu của bài là chú là: Con triệu thỉnh Ngài, đấng Kim Cang Thượng Sư, với ân sủng của Ngài, xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất thế gian.

Dilgo Khientse Rinpoche giải thích:

Mười hai âm Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siđdhi Hum mang tất cả ân sủng của mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám mươi bốn ngàn pháp môn. Bởi thế tụng một lần thần chú Kim Cang Thượng Sư cũng có phước như là đã đọc mười hai bộ kinh điển và thực hành các pháp môn khác. Mười hai bộ kinh điển là phương thức giải cứu chúng ta khỏi mười hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Mười hai móc xích nầy là guồng máy của luân hồi sanh tử làm cho luân hồi tiếp nối. Nhờ tụng mười hai âm nầy của thần chú Kim Cang Thượng Sư, mười hai nhân duyên được tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và giải thoát sanh tử.

Mặc dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác ngộ của Ngài đã thể hiện dướI hình thức thần chú này, thần chú này có được toàn thể ân sủng của Ngài, Bởi thế khi bạn kêu Ngài bằng cách tụng đọc mười hai âm thần chú này, thì bạn sẽ được ân sủng và công đức vô lượng.

THẦN CHÚ CỦA ĐẠI BI TÂM : OM MANI PADME HUM.-

Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé hung. Thần chú nầy tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ Tát, nhứt là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẩn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của Phật trong hình thức Báo Thân, và thần chú của Ngài được xem là tinh túy của lòng bi mẩn của chư Phật đối với hữu tình. Nếu Liên Hoa Sanh là bậc thầy quan trọng nhất của người Tây Tạng, thì Quán Tự Tại là vị Phật quan trọng nhứt của họ, là vị thần hộ mạng của dân tộc nầy. Có câu nói nổi tiếng là vị Phật của lòng bi mẩn đã ăn sâu vào tiềm thức Tây Tạng tới nổi một hài nhi vừa biết nói tiếng mẹ là đã biết đọc thần chú nầy, om mani padme hum.

Kalu Rinpoche viết: Một cách khác để giải thíchthần chú nầy là, Om là tính chất của thân giác ngộ. Mani Padme tiêu biểu ngữ giác ngộ; Hum tiêu biểu ý giác ngộ. Thân ngữ ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của thân lời ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng thần chú này, và phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định, thì năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng.Quả vậy, chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.

Đối với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thi Tây Tạng,ở trong cõi Trung Ấm:

Khi âm thanh của Pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu âm. Tương tự Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ... Đó là tiếng thì thầm ầm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn. Pháp niệm chú là cách quán tưởng chủ khách, dù sự kiên cố và sự bít kín tất cả các vọng tưởng khác bằng câu chú qua thân khẩu ý, dù quán tưởng biểu tượng (câu chú) như là chính biểu tượng. Đó là sự tập trung chuyên nhứt vào một đối tượng giả lập hay một biểu tượng huyễn hóa, tức là giải thoát mọi vọng tưởng, khổ ách và phiền não, để đạt đến cảnh giới cực lạc của Phật A Di Đà Vô Lượng Quang hay Đại Nhật Như Lai.

VI. THIỀN KHÁN CÔNG ÁN HAY THOẠI ĐẦU

Đây là lối tu do các Thiền sư Lâm Tế đời Tống lập ra. Khán công án hay khán thoại đầu lối dụng công cũng như nhau; chỉ công án là một câu của người xưa để lại; thoại đầu tùy thời biến chế. Phương pháp tu nầy gọi là lấy độc trị độc.Vì nó có một nghi vấn đặt trong đầu thì mọi vọng tưởng đều lặng mất. Cho nên người khán công án hay thoại đầu, phải tin tưởng tuyệt đối thầy mình đến thọ giáo, ông dạy một câu như trước khi cha mẹ sanh là gì v.v..., liền phải sống chết với câu ấy, cho đến ngày ngộ đạo mới thôi. Khi khán thoại đầu, nên đề khởi câu thoại đầu lên, sau chữ gì? Một sức mạnh nghi kéo dài im lặng, khi sức nghi yếu dần liền đề khởi nữa, cứ thế mãi. Câu nói đặt thành nghi vấn là thoại, cái nghi kéo dài im lặng gọi là đầu. Hay nói khác, trước khi chưa đặt nghi vấn dấy lên là đầu, nghi vấn dấy lên là thoại. Chủ yếu dùng cái nghi đập chết mọi vọng tưởng. Khi cái nghi đã thành khối, khỏi cần đề khởi mà lúc nào cũng nghi, gọi là nghi tình. Một khi khối nghi tan vỡ ra là ngộ đạo. Thế nên nói đa nghi đa ngộ. Song tu khán thoại đầu phải gan dạ, chết sống với câu mình nhận nơi thầy, cho đến ngộ đạo, không được đọc kinh sách hay lý luận gì cả. Tu khán thoại đầu, khi tọa thiền khán thoại đầu, lúc ra ngoài hoặc làm công tác cũng vẫn khán thoại đầu, không đổi thay pháp nào khác. (Tự Gia Bảo,tr329).

Sau đây là một bài giảng điển hình của Lão sư Bạch Vân về Thiền Công Án:
-Học viên: Tôi đã hỏi đi hỏi lại Tôi là ai? cho đến khi cảm thấy không còn câu trả lời nào cho câu hỏi.
-Lão sư: Bà sẽ không thấy thực thể nào gọi là tôi cả.
-Học viên: (nóng nảy) Thế thì tại sao tôi lại cứ phải hỏi câu hỏi ấy!
-Lão sư : Bởi vì trong tình trạng hiện tại bà không thể tự giúp mình được. Người thường thì cứ hỏi tại sao? Cái gì? hoặc Ai? Có nhiều công án trong đó có một ông tăng hỏi Phật là cái gì? hoặc Tại sao Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc? Mục đích lời đáp của ông thầy là để phá vỡ tâm mê hoặc của ông tăng có thể nhận ra câu hỏi của mình là một cái trừu tượng.
-Học viên: Tôi đang đọc bức thơ của Bạt Tụy qua bản dịch tiếng Anh như thầy đã gợi ý trong lúc giảng bài buổi sáng. Ở chỗ Bạt Tụy nói Ai là ông chủ vẫy tay?
-Lão sư: Thực không có câu trả lời cho Ai? Cái gì? hoặc Tại sao? Tại sao đường ngọt? Đường là đường. Đường!
-Học viên: Hôm trước thầy bảo tôi: Bà là bà. Đúng tôi là tôi. Tôi chấp nhận điều ấy. Thế đủ không? Tôi cần gì khác nữa? Tại sao tôi phải đãu tranh với câu hỏi ấy?
- Lão sư: Vì đối với bà cái hiểu ấy là bề ngoài bà không thực biết bà muốn nói gì qua câu Tôi là tôi Bà phải đụng đầu với câu hỏi nầy bằng sức mạnh của trái bom và phải diệt hết tất cả ý niệm, tư tưởng của bà. Cách duy nhất để giải quyết câu hỏi bà phải đi đến nhận thức bùng nổ bên trong rằng mọi sự vật (rốt ráo trở thành) là không. Nếu cái hiểu chỉ là lý thuyết, bà sẽ còn hỏi mãi Ai? Cáigì? Tại sao?
-Học viên: Trong câu hỏi Tôi là ai? Tôi đã đi đến kết luận rằng tôi là thân xác nầy, nghĩa là mắt này,chân này vv...Đồng thời tôi cũng nhận ra rằng các cơ quan nầy không hiện hữu độc lập.Nếu tôi lấy mắt tôi ra đặt trước tôi chẳng hạn, nó không thế làm nhiệm vụ của mắt được nữa. Và chân cũng không thể làm được chức năng của chân nếu nó bị tách rời khỏi thân.

Vì khi đi, chân không những chỉ cần đến thân mà cần đến đất nữa, cũng thế mắt tôi cũng cần đến đối tượng nhận thức để thực hiện hành động thấy. Hơn nữa, những gì mắt thấy và những gì chân dẫm lên đều là một phần của vũ trụ, vì vậy tôi là vũ trụ. Điều ấy có đúng không?
-Lão sư: Bà là vũ trụ, đúng rồi, nhưng những gì bà cho chúng tôi biết vẫn là trừu tượng, ấy chỉ là sự tái lập về thực tại, không phải chính thực tại. Bà phải trực tiếp nắm lấy vũ trụ.
-Học viên: Nhưng tôi phải nắm lấy bằng cách nào?
-Lão sư: Chỉ bằng cách hỏi tôi là ai? cho đến khi nào rụp một cái bà nhận ra Chân Tánh với sự rõ ràng và chắc chắn. Hãy nhớ, bà chẳng phải thân, cũng chẳng tâm. Và cũng chẳng phải thân cộng với tâm. Thế bà là cái gì? Nếu bà muốn nắm được bà chân thực và không chỉ một mảnh nhỏ, bà phải luôn luôn tự hỏi Tôi là ai? với lòng sùng mộ tuyệt đối.

-Học viên: Lần vừa qua thầy bảo tôi chẳng phải thân cũng chẳng phải tâm. Tôi hiểu. Nếu tôi không phải những cái ấy, cũng không phải tổng hợp những cái ấy, thế tôi là cái gì?
-Lão sư : Nếu hỏi một người thường anh ta là cái gì, người ấy sẽ nói, Tâm tôi hay Thân tôi hoặc Thân và Tâm tôi, nhưng cái nào đúng hết. Chúng ta còn nhiều hơn là tâm, nhiều hơn thân và cũng nhiều hơn cả hai.Chân tánh của chúng ta ở bên kia mọi phạm trù. Bất cứ cái gì bà có thể nghĩ ra hay tưởng tượng chỉ là một mảnh nhỏ của chính bà. Vì thế cái mà bà chân thực không thể tìm thấy được qua diễn dịch lý luận hay phân tích lý trí hay tưởng tượng vô tận.

Nếu tôi bị cắt mất bàn tay cái chân, cái Tôi chân thật cũng không bị suy giảm chút nào. Nói một cách nghiêm túc, thân và tâm nầy cũng là bà nhưng chỉ một phần thôi. Thể tính của nhân tánh bà không khác với thể tánh của cây gậy nầy, điều ấy đáng tin chắc đến nổi bà sẽ kêu lên, Ôi thực làm sao! Vì không những bằng trí óc mà còn bằng tất cả con người bà thâm nhập vào tri thức nầy.

-Học viên: (Bỗng kêu lên) Nhưng tôi sợ! Tôi sợ! Tôi không biết tại sao, nhưng tôi sợ!
-Lão sư: Không có gì phải sợ! Chỉ cần thâm nhập, thâm nhập hỏi cho đến khi nào tất cả những ý niệm dự tưởng về bà là ai là cái gì biến mất, và tức khắc bà sẽ nhận ra rằng toàn thể vũ trụ không khác với chính bà. Bà đang ở giai đoạn sanh tử. Đừng thối lui. Hãy tiến lên!

-Học viên: Hôm trước thầy bảo tôi không phải thân cũng chẳng phải tâm. Tôi luôn luôn suy nghĩ về mình như là thân và tâm. Nghĩ khác đi khiến tôi sợ hãi.
-Lão sư: Đúng là đa số người ta nghĩ về mình như thân và tâm, nhưng điều đó không làm cho họ ít sai lầm đi chút nào. Sự thật trong yếu tánh của tất cả chúng sanh đều siêu việt thân và tâm, thân va tâm không phải hai mà chỉ là một. Sự thất bại của con ngườI không nhận thức được chân lý nền tảng nầy là nguyên nhân của đau khổ. Như tôi đã nói trong bài nói sáng nay, con ngườI cứ mãi tìm kiếm và nắm bắt. Tại sao vậy? Vì một cách trực giác, con người mãi bắt thế giới là nó muốn tác hợp với thế giới mà nó đã bất hòa vì mê hoặc. Do hậu quả của sự bất hòa nầy mà chúng ta thấy ngườI mạnh lấn áp kẻ yếu và kẻ yếu chấp nhận sự nô lệ như là sự thay thế cho cái chết. Song khi không mê hoặc con người tự nhiên hướng về nhau. Những người với bản chất mạnh muốn che chở và bảo vệ người yếu, trong khi ngườI yếu muốn được ngườI mạnh che chở. Như khi chúng ta có Phật, người hùng mạnh về tinh thần, ấp ủ cho chúng ta và chúng ta cúi đầu trước Phật trong sự chấp nhận đầy biết ơn lòng từ bi vô lượng của Ngài. Giống mẹ ve vuốt đứa con thơ,ở đây không có sự ly cách mà có sự hài hòa và hợp nhất. Mọi sự vật trong bản chất đều tìm kiếm sự hợp nhất nầy. Nếu quan sát kỹ một đóa hoa sen bà sẽ thấy rằng khi các giọt mưa hay giọt sương tràn trên các cánh hoa rồi tan biến vào trong ấy.

Nhưng chúng ta tự lừa dối mình trong sự chấp nhận thực tế một cái ta vị kỷ, mà sự bất hòa và xung đột theo sau không thể tránh được. Đức Phật với sự giác ngộ đã nhận thức cái ta ấy không ở bên ngoài bản tánh nội tại của con người. Với giác ngộ đầy đủ chúng ta sẽ nhận ra mình sở hữu vũ trụ, thế thì tại sao phải nắm bắt cái mà mà nó vốn là của mình? Bà chỉ cần kiên trì hỏi: Tôi là ai? Nếu bà muốn kinh nghiệm chân lý của những gì tôi nói đây.

-Học viên: Xin cảm ơn thầy đã giải thích đầy đủ. ***
-Học viên: Mắt tôi lạ lắm. Dường như chúng không nhìn ra ngoài, mà nhìn vào trong, hỏi Tôi là Ai?
-Lão sư: Tuyệt lắm!
(Bỗng nhiên) Bà là ai?
- (Không đáp)
Bà là bà! Tôi là tôi!
Trong Bích Nham Lục có một công án ông tăng gọi là Huệ Siêu hỏi: Phật là gì? Sư đáp: Ông là Huệ Siêu. Bà hiểu không?
- (Không đáp)
Bà phải trực nhận ra điều ấy. Bà đang tiến gần hơn. Hãy tập trung hết sức.
-Học viên: Tôi có nhiều vấn đề nhưng tôi cảm thấy không muốn hỏi.
-Lão sư: Tốt lắm, trừ phi bà phiền hoặc lo vì chuyện gì đó, tốt hơn là không nên hỏi, thì hỏi thì vô cùng. Hỏi chỉ làm cho bà càng lúc càng xa Mình, trong khi câu hỏi Tôi là ai? đưa bà đến tận điểm sáng của con người bà.
-Học viên: Hiện tại tôi không có gì lo cả.
-Lão sư: Đừng xa rời Tôi là ai? Tất cả mọi câu hỏi sẽ tự trả lời một khi bà nhận ra tự tánh.
****

Riêng tham thoại đầu, thoại là lời nói, khi chưa nổi niệm muốn nói là thoại đầu, nếu đã nổi niệm muốn nói dù chưa nói ra miệng cũng là thoại vĩ rồi. Như vậy thoại đầu tức là một khi một niệm chưa sanh. Tham là nghi, nghi là không hiểu không biết. Nếu có việc gì đã hiểu đã biết thì hết nghi, hết nghi tức là không có tham.

Vậy tham thoại đầu là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh, không biết đó là cái gì. Thiền Tông gọi là nghi tình, có nghi tình mới gọi là thoại đầu. Do nghi tình, đến chỗ giác ngộ gọi là kiến tánh thành Phật.

Tóm lại, dùng công án hay thoại đầu mà nghi tình là một thực tại giả lập cho nên vẫn còn dùng pháp nhị nguyên chủ khách --mặc dù chuyên chú vàomột đối tượng duy nhứt và miên mật hành trì không có kẻ hở để vọng tưởng do nghiệp lực dẩn -- vì thế có thể vượt qua tất cả mọi vọng tưởng (chỉ còn có duy nhứt một công án hay thoại đầu tức là một thực tại giả lập) nên giải thoát mọi khổ ách cũng như các nhân duyên chằng chịt khác mà đạt đến cảnh giới cực lạc của chư Phật.

VII.-TĨNH TÂM HAY IM LẶNG THÁNH

Thông điệp của chúa Jesus là sự đang đến của vương quốc Thượng Đế, những gì con người phải làm để chuẩn bị cho nó, cứu rỗi qua niềm tin. Chúa Jesus đã từng nói Thế gian nầy chỉ là chiếc cầu bước qua nó, nhưng đừng xây nhà của ngươi trên nó. Nhưng không vì thế mà thế gian không có một giá trị cho chính nó: gia đình, hôn nhân, thiên nhiên là tác phẩm của Thượng Đế, chúng ta tôn trọng chúng vì chúng ta tôn trọng Thượng Đế. Thượng Đế là biện minh tối hậu, thiết yếu và duy nhất cho mọi giá trị. Hãy đừng nghĩ ngày mai: vì ngày mai sẽ chính tự nó lo cho nó. Chỉ có một nỗi lo sợ duy nhứt : được vào nước chúa hay không. Không có lập trường trung hòa. Hoặc là địa ngục hay là Thiên Đàng. Và sự thể lựa chọn là mệnh lệnh đạo đức. Sở dĩ tác giả muốn nhắc lại ý nghĩa thông điệp đã tham khảo ở phần trước là để triển khai nội dung sau đây.

Trước hết chúng ta phải biết Tĩnh Thức là gì? Đó là sự nhận biết một cách trung thực, là đường lối khai mở sự hiểu biết chân thật về chính mình. Nếu không biết khai mở để nhận biết Thượng Đế, chúng ta sẽ đau khổ rất nhiều. Khi ta mới bắt đầu muốn biết Thượng Đế, Ngài sẽ gửi người nào đó (như vị linh mục chẳng hạn), một người đã có kinh nghiệm để chỉ dẫn chúng ta cách thức phải làm. Sau khi biết cách thức phải làm là lúc ta khai mở nhận biết Thượng Đế. Có lẻ chúng ta chưa khai mở như đức chúa Jesus hay vị linh mục, nhưng cũng có đôi chút hiểu biết về Thượng Đế và tiếp tục tu hành. Lúc đó chúng ta sẽ hiểu biết chúa Jesus: Những gì ta làm, các con có thể làm được như vậy. Và Ta và Cha ta là Một. Chúng ta sẽ hiểu rằng tất cả chúng ta là con cái của Thượng Đế, hiểu rằng mình là ngôi giáo đường của Thượng Đế và chỉ có đức Thánh Thần ngự trong ta. Do đó chúng ta tôn trọng Thượng Đế là chúng ta tôn trọng chúng ta. Thượng Đế thương yêu tất cả nhân loại trên thế giới đồng đều (công bình và bác ái). Vậy muốn trở về Vương Quốc của Thượng Đế chúng ta phải có niềm tin tuyệt đối với Ngài và thể theo tình thương đại đồng mà sống một cuộc đời có giá trị hay có đạo đức. Có đạo đức là lối sống ngay thẳng (công bình), không làm hại người lợi mình là đã tránh làm đau khổ cho kẻ khác tức giữ giá trị quyền sống hạnh phúc của kẻ khác, cũng là thể hiện lòng bác ái. Đó là Thiên Ý. Nếu làm được như vậy, thì sự cứu rỗi chắc chắn sẽ đến với chúng ta. Ngoài việc làm tròn bổn phận với gia đình, hôn nhân, chúng ta phải biết thưởng thức thiên nhiên tức là ngoại vật trong thế gian kể cả tha nhân v.v... vì tất cả gia đình hôn nhân, cả thiên nhiên là tác phẩm của Thượng Đế. Chúng ta không những làm tròn bổn phận với gia đình bằng sự công bình (không tham lam, lợi dụng kẻ khác, làm khổ kẻ khác...) mà còn phải thương yêu hàng xớm, thương yêu và tha thứ kẻ thù (bác ái). Tình thương trong chúng ta tự nhiên phát ra ánh sáng, bao trùm chung quanh chúng ta. Chúng ta trở thành ánh sáng, thành những gì mà chúng ta cầu nguyện. Chúng ta sẽ trở thành như Thượng Đế vậy. Vì chúa Jesus, mà chúng ta thờ phụng giống như Thượng Đế. Niềm tin và sự cứu rỗi sẽ đến với chúng ta.

Trong kinh Thánh, có một vị Thánh nói rằng ông chết mỗi ngày. (St Paul, 1 Cor 15:31 ). Và xả bỏ thân xác vì linh hồn thì các con sẽ bắt đầu được sống.

- Câu đầu có nghĩa, con người mỗi ngày qua đi là con người biến đổi không còn là con người thật như ngày hôm qua nữa. Mỗi ngày qua một tuổi. Tuổi trẻ chết đi từng ngày để dần đến tuổi già. Đời người là tạm bợ như chúa Jesus đã nói cái gì của thế gian đều tạm bợ. Đó quy luật phủ định hay sanh diệt hay thời gian huyễn hóa.

- Câu Xả bỏ thân xác vì linh hồn thì các con sẽ bắt đầu được sống là muốn nói đừng bám chặt thân xác tạm bợ nầy mà vì muốn có linh hồn trong sạch trong một thể xác tinh khiết, thì đó mới là thật sống với lòng thanh thản trong niềm tin yêu Thượng Đế. Với nội dung tĩnh tâm chúng ta phải làm như thế nào?

Tĩnh Tâm gồm có hai phần:

-Phân I: là quán xét tất cả hành động, lời nói, tình cảm, tư tưởng của mình đứng trên tiêu chuẩn đạo đức, tín điều, có gì sai trái hay không.Trước hết kiểm điểm trong thời gian qua, mình đã thực hiện những ưu điểm nào và khuyết điểm nào để từ đó mình sẽ biết rõ-với trí phân biệt--những hành động nào tốt, là những hình ảnh của tư tưởng hướng thượng, và những hành động xấu do những đòi hỏi mù quáng của thể xác ngay cả tinh thần. Cho nên cần bỏ xác thân ấy, là lớp nhơ bẩn xấu xa ẩn tàng trong một xác thân giả tạo. Vì muốn linh hồn trong sạch thì xác thân bao gồm cả tư tưởng,hành động, tình cảm và lời nói phải trong sạch. Dầu trong cuộc sống ngay trong bản thân chúng ta cũng có những bất toại nguyện vì giữa dục vọng và lý tưởng đạo đức có sự mâu thẩn nhau. Do đó những dục vọng mù quáng, vô lý, làm thiệt hại kẻ khác thì cần phải loại bỏ để cho thân xác nầy không bị ô nhiểm. Từ thể hiện tốt đẹp của xác thân là nền tảng xây dựng linh hồn trong trắng, mới được thắm nhuần ân điển của Thượng Đế. Đối với chính mình phải dùng lẻ công bình (tự giác), đối với mọi người phải dùng tình bác ái vì đó là đức tính của Thượng Đế. Chúng ta phải tuân thủ ngoại tại, chấp hành theo phép tắc quy định của tín điều cũng chưa đủ; Cái chính yếu là sự tòng phục bằng trái tim và hiện thân của con người. Jeremiah đã nói, Thượng Đế đã viết nên luật của Ngài trong trái tim của con người. Chúng ta nghe những mệnh lệnh từ chúa Jesus nói lên ý muốn của Thượng Đế. Chúa Jesus đòi hỏi cách thế hiện hữu, không chỉ là hành vi ngoại thể... những gì không thể chú ý mà là nguồn gốc của tất cả ý lực. Ngay thân xác nầy kể như xóa bỏ và dâng hiến cho Thượng Đế để thực hiện theo ý của Thượng Đế bằng tất cả ý lực của mình thì linh hồn thoát khỏi mọi ràng buộc của thể xác đầy dục vọng mù quáng. Kiểm điểm những hành động quá khứ là để xóa bỏ mọi sai lầm tội lỗi đã qua. Từ đó, ngay bây giờ, trong giờ phút tĩnh lặng nầy là sự đánh thức Thượng Đế ở trong ta. Ngay khi quá khứ đã qua, là mốc điểm thời gian, là cơ hội tốt để cho chúng ta sữa soạn đường về Thiên quốc.

-Phần II : Dự phóng tương lai

Rút kinh nghiệm những sai trái lỗi lầm ở quá khứ, chúng ta phải làm một bản dự trù cho hành động ở tương lai. Loại bỏ dần những điều đã nhầm lẫn sai trái. Đó là thanh lọc xác thân là xóa bỏ các lỗi lầm của xác thân tạm bợ nầy. Những ưu điểm phải được tôn vinh nó bằng những kế hoạch thăng hoa. Niềm tin tất cả sẽ đươc cứu rỗi. Trong lúc Tĩnh Tâm là lúc chúng ta câu thông với ân điển của Thượng Đế. Đó là mục đích của Tĩnh Tâm... Tìm Thiên Quốc trong con trước, rồi tất cả những thứ khác sẽ đến. (Matt 6:33)

Mặc khác, Im Lặng Thánh cũng là lúc tâm ta tĩnh thức, liền sau buổi lễ để trong lúc lặng lẽ chúng ta có thể nghiền ngẫm học hỏi những điều trong Phúc âm hay bài giảng đạo của vị linh mục hay chức sắc. Cũngtrong Im LặngThánh, chúng ta có thể chiêm ngưỡng những hình ảnh hy sinh của chúa Jesus, bị đóng đinh trên thập tự giá. Sự hy sinh của chúa làm sống dậy lòng bái phục và kính ngưởng gương hy sinh chuộc tội cho các con chiên.

Trong yên lặng, chúng ta chỉ mất một vài giây phút để nhớ chúa và hiện thân của Thượng Đế đã chuộc tội cho thế gian. Và mỗi ngày chúng ta sẽ biết Thượng Đế thêm, thêm mãi cho tới khi thật sự nhớ lại Thượng Đế. Việc nầy không phải nghe, xem đọc mà đạt được, và nó phải đạt được trong yên lặng, chỉ một mình mình tĩnh thức. Lúc đó trí huệ của chúng ta khai mở sáng suốt nhận ra chính mình là Thiên quốc vì Vương quốc Thượng Đế ở trong ta.

Tóm lại, lối Tĩnh Tâm là phương pháp để cho tâm thức tĩnh táo quán xét tất cả những hành động sai lầm tạm bợ của thân xác để trở lại con đường tri thức đúng của linh hồn tức là con đường đưa đến Thiên Đàng.

Phương pháp Tĩnh Tâm cũng là cách thức quán đề mục. Chủ thể tri thức đối tượng giả lập, một sự tạm bợ của thân xác, một thực tại huyễn hóa của thế gian, là sự khai mở tâm thức để dọn mình và gói trọn niềm tin vào sự cứu rỗi, là cơ hội khởi sinh của một hiện hữu vĩnh cữu huy hoàng; đó là đang đi đếnThiên Đàng hay Vương Quốc của Thượng Đế vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn