Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

5. An cư, Tự tứ và Vu-lan

07/02/201114:09(Xem: 4148)
5. An cư, Tự tứ và Vu-lan

LÝ THUYẾTVÀ THỰC TẾ
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo TL. 2008 - PL. 2551

-5-

Ancư, Tự tứ và Vu-lan

Cóba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha Puja, và Asalha Puja. Puja nghĩalà tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúngdường. Ở đây, Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Magha,Vesakha, Asalha là tên các tháng trong lịch của Ấn độ. Sovới âm lịch Việt Nam, Magha tương ứng với tháng Giêng, Vesakhatương ứng với tháng Tư, và Asalha tương ứng với tháng Sáu.

MaghaPuja là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phậtthuyết kệ Ovada-Patimokkha, là căn bản cho các giới luật saunày. Vesakha Puja là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày TamHợp, thường được gọi là lễ Phật Đản. Asalha Puja làngày lễ Rằm tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinhChuyển Pháp Luân, và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùaAn cư kiết hạ.

Ngoàira, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngàyTự tứ (rằm tháng Chín) – kết thúc mùa An cư kiết hạ,và mùa lễ Dâng Y Kathina trong một tháng, từ ngày 16 thángChín đến ngày Rằm tháng Mười âm lịch.

1.Chuyển Pháp Luân

NgàiBồ tát Sĩ-đạt-ta rời gia đình, tìm đạo giải thoát năm29 tuổi, và thành đạo năm 35 tuổi, vào đêm trăng Rằm thángTư. Sau khi Ngài giác ngộ, có vị Phạm thiên Sahampati cung thỉnhNgài vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Đức Phật quansát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên, Ngài nghĩđến đạo sĩ Alara Kalama và đạo sĩ Uddaka Ramaputta, là haivị thầy dạy đạo cho ngài khi còn là Bồ-tát tầm sư họcđạo, nhưng chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếpđến, Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu là anh em đạosĩ Kondañña (Kiều-trần-như), Bhaddiya, Vappa, Mahānāma và Assaji,lúc trước đã cùng tu khổ hạnh với ngài, và hiện giờhọ đang ở vườn Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại.

TừBồ đề đạo tràng, nơi Ngài giác ngộ, Đức Phật đi đếnLộc Uyển, một cuộc hành trình khoảng 210 km, mất khoảng2 tháng, và đến nơi đó vào đúng ngày Rằm tháng Sáu. Thoạttiên, khi thấy Ngài, anh em Kondañña quyết định không chàohỏi, cũng không đứng lên đảnh lễ Ngài, bởi vì họ chorằng lúc trước, Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh, khôngcòn là một bậc chân tu nữa. Tuy nhiên, khi Ngài tiến đếngần, chư vị bị chinh phục trước vẻ cao quý của một bậcgiải thoát, khiến họ đối xử với Ngài vô cùng kính cẩn.Chư vị cầm lấy bình bát và thượng y của ngài, sửa soạnchỗ ngồi cho Ngài, rửa chân Ngài và gọi Ngài là "Hiền giả"(Avuso) theo thói quen. Song Đức Phật bác bỏ cách xưng hô này,và nói:

-"Nàychư vị, đừng gọi Như Lai (Tathagata) là ‘Hiền giả’ nhưmột trong các vị. Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác"- (Đại Phẩm, Tạng Luật)

Lờituyên bố đã khám phá con đường đưa đến bất tử tứccon đường giải thoát, đã giác ngộ và chứng đắc ChânLý của Ngài được năm người bạn đồng tu cũ đáp lạivới vẻ hoài nghi. Chư vị hỏi: - Làm thế nào một ngườiđã từ bỏ khổ hạnh để chọn đời sống sung túc, lạicó thể chứng đắc Chân Lý? Ðức Phật giải thích rằngNgài chẳng hề tham đắm đời sống sung túc. Để làm sángtỏ mọi việc, Ngài thuyết giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân,khởi đầu công trình hoằng pháp của Ngài. Bài kinh trìnhbày Pháp Giải Thoát là Trung Ðạo, và nêu lên Bốn Chân LýCao Quý (Tứ Diệu Đế) – như đã ghi lại trong Tạng Luậtvà trong Tương ưng bộ:

"Cóhai cực đoan, này chư vị, mà người xuất gia nên tránh. Haicực đoan đó là gì? Đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầmthường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không íchlợi, là một cực đoan. Cực đoan kia là chuyên tâm khổ hạnhép xác, gây khổ đau, không xứng đáng bậc Thánh, và cũngkhông ích lợi.

Nàychư vị, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra TrungÐạo, chính là con đường khiến cho Ta thấy và biết rõ,con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."

Ngàigiảng tiếp:

"Đâylà Chân lý về Khổ: Sanh, già, bệnh, chết là khổ; sầu,bi, ưu, não là khổ; thân cận những gì ta không thích là khổ;xa lìa những gì ta thích là khổ; cầu không được là khổ;tóm lại, ngũ thủ uẩn là khổ.

Đâylà Chân lý về Nguồn gốc của Khổ: Ðó chính là khát áiđưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm thấy lạcthú chỗ này chỗ kia: đó là Dục ái, Hữu ái và Phi hữuái.

Đâylà Chân lý về Khổ Diệt: Đó chính là sự đoạn trừ, diệttận hoàn toàn khát ái đó, quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xảly nó, không chấp thủ nó.

Đâylà Chân lý về Con Ðường Diệt Khổ: Ðó là Thánh Ðạo TámNgành, tức là Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp,Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, và Chánh Ðịnh." -(Đại Phẩm, Tạng Luật; Tương Ưng Bộ)

Nămvị tôn giả hết sức chú tâm lắng nghe lời Ngài. Khi Ngàithuyết giảng, tôn giả Kondañña quán triệt: "Những gì cósinh khởi đều phải chịu qui luật hoại diệt", và đắcquả Dự lưu. Sau đó, tôn giả liền xin Đức Phật nhận làmđệ tử. Đức Phật nói: "Ðến đây, này tỳ khưu, Giáo Phápđã được khéo giảng, hãy sống đời phạm hạnh để đoạntận khổ đau" và nhận tôn giả làm đệ tử tỳ khưu. Nhưvậy, tôn giả Kondañña là vị đệ tử tỳ khưu đầu tiêntrong lịch sử Phật giáo, đánh dấu khởi điểm sự thànhlập Tăng đoàn, tồn tại cho đến ngày nay.

Chẳngbao lâu, lời dạy của Đức Phật đã giúp cho tôn giả Vappavà Bhaddiya hiểu Pháp và hai vị cũng được nhận làm đệtử tỳ khưu. Trong lúc các ngài Kondañña, Vappa và Bhaddiyađi khất thực để cung cấp thức ăn cho cả nhóm, Đức Phậtthuyết giảng riêng cho tôn giả Mahānāma và Assaji. Sau đó,hai vị nầy đắc quả bậc Nhập lưu, và xin làm đệ tử.Như vậy, lúc đó có sáu vị tỳ khưu trên thế gian: ĐứcPhật và năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài.

Vàingày sau, Đức Phật dạy bài pháp về Vô Ngã – ghi lại trongbài kinh Vô Ngã Tướng, Tương Ưng Bộ. Khi năm vị đệ tửtỳ khưu nghe lời thuyết giảng này của Đức Phật, tâm củachư vị thoát khỏi mọi lậu hoặc, và trở thành bậc ThánhA-la-hán giải thoát.

*

2.An cư kiết hạ

Mộtngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phậtgiáo Nam tông bắt đầu mùa An cư kiết hạ.

TrongChương "Vào Mùa Mưa", Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

ĐứcThế Tôn ngự tại Trúc Lâm, thành Vương Xá. Lúc bấy giờ,việc an cư mùa mưa chưa được Đức Thế Tôn quy định chocác tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đi du hành trong mùa lạnh, trongmùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phêphán, chê bai rằng:

-"Vìsao các sa môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trongmùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoạiđạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cốđịnh một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khilàm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa.Còn các sa môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh,trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đangdẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sốngcủa loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giếthại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi."

Cáctỳ khưu nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,chê bai. Vì thế, các vị ấy trình sự việc lên Đức ThếTôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các tỳ khưu rằng:

-"Nàycác tỳ khưu, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thờiđiểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn thángAsalha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau."

Tínhtheo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thờiđiểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16tháng 7. Ngài dạy tiếp:

-"Nàycác tỳ khưu, không nên ra đi du hành trong mùa an cư ba tháng.Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata)."

Tuynhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vịtỳ khưu được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá7 ngày. Đức Phật dạy:

-"Nàycác tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với côngviệc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi,nếu không được thỉnh mời."

Suốtthời kỳ gió mùa ở miền bắc Ấn Độ, từ tháng Sáu đếntháng Mười, chư Tăng sống một nơi cố định trong 3 thángan cư. Chư vị có thể lựa chọn cách tự mình xây một amthất trú mưa, hay ở trong một tinh xá sẵn có.

Mùaan cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Asalha (rằm tháng Sáu).Tuy nhiên, Đức Phật cũng cho phép bất kỳ một tỳ khưu nàokhởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy, gọilà "hậu An cư". Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngàyrằm tháng Chín (Assina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn mộttháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattika). Chư Tăng tổchức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễTự tứ (Pavarana), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, cáctỳ khưu công bố hoàn tất các phận sự trong Giới Luật,rời nơi an cư, và bắt đầu du hành truyền đạo.

Tậptục an cư mùa mưa không chỉ có lý do cổ truyền, mà còncó lý do thực tiễn nữa. Khi trời đổ mưa ào ạt và cáccon sông chảy tràn bờ, khi đường xá chìm trong bùn lầy,và những mảnh đất không ngập nước làm thành nơi trú ẩncho rắn rết, bọ cạp, việc du hành và cắm lều ngoài trờihầu như không thể thực hiện được. Hơn nữa, khí ẩm bốchơi trong thời gió mùa tạo ra những tai hại khác cho sứckhỏe; và nếu một tỳ khưu bị bệnh, chư Tăng dễ săn sócvị ấy tại một tinh xá hơn là lúc di chuyển.

Tụclệ an cư mùa mưa còn có lợi cho Tăng chúng theo nhiều cách.Trong suốt những tháng du hành theo ý riêng của mỗi người,có thể là một vài tỳ khưu nào đó trở thành buông lungtrong nếp sinh hoạt. Trong mùa an cư, các tỳ khưu chung sốngsinh hoạt với nhau, nên phải chú tâm đến quy luật xử thếvà theo đúng nguyên tắc. Mùa an cư còn tăng cường mối đạotình trong Tăng đoàn. Cuộc sống chung ở một nơi và cùnghọc tập lời dạy của bậc Ðạo Sư, sự trao đổi kinh nghiệmvà kiến thức đưa đến sự thiết lập các mối quan hệthân hữu có giá trị giáo dục, đã được Đức Phật đánhgiá cao. Ngài nói:

"Quảthật tất cả đời sống đồng Phạm hạnh của Tăng chúngcốt yếu ở tình thân hữu giữa những người ưa thích điềuthiện, ở tình đồng đạo, đồng chí hướng. Một tỳ khưulàm bạn với điều thiện, là người bạn giao du, ngườiđồng chí hướng, có triển vọng tu tập và làm sung mãn BátChánh Ðạo, để giải thoát cho đồng bạn cũng như bản thânvị ấy."

Cólần Đức Phật thấy một tỳ khưu bị bệnh, nằm bơ vơkhông ai chăm sóc, Ngài và Trưởng lão Ananda cùng đến sănsóc vị ấy. Rồi Ngài gọi Tăng chúng đến và dạy: "Nàycác tỳ khưu, chư vị không có cha mẹ chăm sóc mình. Vậy,nếu chư vị không chăm sóc nhau, thì ai sẽ làm việc ấy?Này các tỳ khưu, bất cứ ai trong chư vị muốn chăm sóc NhưLai, thì vị ấy hãy chăm sóc người bạn đồng Phạm hạnh."

Việcan cư mùa mưa cũng quan trọng trong việc học tập của chưTăng thời đó. Chư vị tụng đọc lại các bài kinh của ĐứcPhật và học hỏi những lời dạy mới của Ngài. Việc họctập nghe kinh không chỉ giới hạn vào mùa an cư, nhưng đượcthuận lợi hơn nhờ sự chung sống suốt ba tháng của mộthội chúng tỳ khưu đông đảo tại cùng một địa điểm.Có lẽ Giáo Pháp sẽ không được truyền tụng đến thờiđại chúng ta trong hình thức chính xác như ngày nay, nếu Tăngchúng thời xưa không có cơ hội duyệt lại toàn thể lờigiáo huấn của Đức Phật trong các mùa an cư kiết hạ hằngnăm ấy.

3.An cư trong các truyền thống khác

Giớiluật tu sĩ trong các truyền thống Phật giáo, trên căn bản,rất giống nhau. Các tông phái đều tuân theo quy luật an cưkiết hạ trong ba tháng. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu vàkết thúc không giống nhau, tùy theo cách tính mùa hạ trongnăm.

Nhưđã trình bày ở trên, theo Luật Nguyên thủy (Đại phẩm,Luật tạng, Tỳ khưu Indacanda dịch), chương III (Mùa mưa):An cư bắt đầu từ ngày 16 tháng Asalha (tương ứng vớitháng Sáu âm lịch), kéo dài 3 tháng. Hậu an cư bắtđầu một tháng sau đó.

TheoLuật Hữu Bộ (Tỳ-nại-da, Căn bản thuyết nhất thếhữu bộ, Tỳ khưu Tâm Hạnh dịch), quyển An cư sự: Ancư bắt đầu từ ngày 16 tháng Năm âm lịch, kéo dài3 tháng, Hậu an cư bắt đầu một tháng sau đó.

TheoLuật Ma-ha-tăng-kỳ (Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch),quyển 27, Phép An cư: An cư bắt đầu từ ngày 16 thángTư âm lịch, kéo dài 3 tháng. Hậu an cư bắt đầu mộttháng sau đó.

TheoLuật Tứ Phần (Hòa thượng Thích Nguyên Chứng dịch),quyển 4, chương III (An cư): An cư trong 3 tháng mùa hạ, khôngthấy ghi rõ ngày tháng. Hậu an cư bắt đầu một thángsau đó.

4.Vu-lan và kinh điển nguyên thủy

Ngàynay, đa số Phật tử chúng ta thường tổ chức ngày Rằm thángBảy, theo truyền thống Bắc tông, là ngày Lễ Vu-lan, mộtngày báo hiếu công ơn của cha mẹ. Trong cùng ngày đó, chưTăng Ni Bắc tông làm lễ Tự tứ, kết thúc mùa an cư, theoLuật Ma-ha-tăng-kỳ. Lễ Vu-lan là dựa theo tích chuyện trongkinh Vu-lan-bồn (Ullambana Sutra, Đại Chánh Tạng, tập 16), trongđó, Đức Phật dạy Trưởng lão Mục-kiền-liên cúng dườngthức ăn đến chư Tăng trong ngày Tự tứ và hồi hướng phướcbáu đến mẹ là bà Thanh-đề để giúp bà thoát khỏi khổcảnh của kiếp ngạ quỷ.

Trongkinh điển nguyên thủy, không thấy đề cập đến sự tíchnêu trên. Tuy nhiên, trong quyển Ngạ quỷ sự, thuộc Tiểubộ, có ghi lại một câu chuyện tương tự. Đó là chuyệnngạ quỷ mẹ của Ngài Xá-lợi-phất (Chú giải Ngạ quỷsự, Phẩm Ubbari, Chuyện số 2, Tỳ khưu Thiện Minh dịch).Tóm tắt như sau:

Mộtngày nọ, các ngài Trưởng lão Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,A-nậu-lâu-đà và Kế-tân-na ngụ tại một khu rừng hoanggần thành Vương Xá. Một nữ ngạ quỷ với thân hình gầyốm, hình tướng gớm ghiết, đến gặp các ngài và cho biếttrong tiền kiếp, ngạ quỷ từng là mẹ của Ngài Xá-lợi-phất.Do lòng keo kiết, bủn xỉn, bà đã đối xử tàn tệ vớicác vị tu sĩ, và lại sinh ác tâm chưởi rủa mắng nhiếccác vị ấy, nên bà phải lảnh quả báo ác, sinh làm ngạquỷ trong kiếp này. Bà xin Trưởng lão Xá-lợi-phất tổ chứcbố thí cúng dường, rồi hồi hướng phước đến cho bàđể được thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ sở.

Sánghôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngàiđến gặp vua Bình-sa, và Ngài Mục-kiền-liên thuật lại câuchuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạchhứa sẽ giúp Ngài Xá-lợi-phất. Vua truyền lệnh cho các quandựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạnvật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vuachuyển toàn bộ những thứ ấy đến Ngài Xá-lợi-phất. Nhândanh mẹ, Ngài Xá-lợi-phất bố thí cúng dường đến ĐứcPhật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báuđến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời PhạmThiên.

Mặcdù vài chi tiết trong câu chuyện này không giống như chuyệnghi trong kinh Vu-lan-bồn, việc cúng dường đến chư Tăng, rồihồi hướng phước báu đến cha mẹ đã qua đời, có mộtý nghĩa rất rõ ràng, tương hợp trong cả hai truyền thốngchính của Phật giáo.

Perth,Tây Úc,
Tháng8-2007

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn