Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

27. Phẩm Diệu-Trang-Nghiêm Vương bổn sự ( Ancienne méditation du roi Cubhavyuâha)

20/05/201318:56(Xem: 7832)
27. Phẩm Diệu-Trang-Nghiêm Vương bổn sự ( Ancienne méditation du roi Cubhavyuâha)

Kinh Pháp Hoa Huyền Nghĩa - Quyển VII

27. Phẩm Diệu-Trang-Nghiêm Vương bổn sự ( Ancienne méditation du roi Cubhavyuâha)

Chánh Trí Mai Thọ Truyền

Nguồn: Chánh Trí Mai Thọ Truyền

Lúc bấy giờ Phật bảo đại-chúng: "Thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên kiếp, có đức Phật hiệu Vân-Lôi-Âm Tú-Vương Hoa-Trí, tại nước Quang-Minh Trang-Nghiêm, vào kiếp có tên là Hỷ-Kiến.
Tại Pháp-hội của đức Phật đó, có một nhà vua tên là Diệu-Trang-Nghiêm, phu nhân tên là Tịnh-Đức và hai con tên là Tịnh-Tạng và Tịnh-Nhãn.
Hai người con đó có sức thần-thông lớn về phước-đức và trí-huệ, từ lâu tu tập mười phép ba-la-mật, thậm chí rành cả 37 phẩm trợ đạo, lại đặng các môn Tam-muội của Bồ-tát, như: Nhật-tinh-tú, Tịnh-quang, Tịnh-sắc, Tịnh-chiếu, Trường-trang-nghiêm, Đại-oai-đức.
Lúc đó vì muốn dẫn đường cho vua Diệu-Trang-Nghiêm và cũng vì lòng thương chúng-sanh, Phật Vân-Lôi-Âm nói Kinh Pháp-Hoa này.
Bấy giờ, Tịnh-Tạng và Tịnh-Nhãn đến chỗ mẹ ở, chắp tay thưa: "Xin mẹ đến chỗ Phật Vân-Lôi-Âm ngự, chúng con cũng sẽ theo hầu để gần gũi và cúng dường Phật. Vì sao? Vì Phật đang vì Trời, Người nói Kinh Pháp-Hoa, nên phải nghe và tin nhận".
Phu nhân bảo hai con: "Cha chúng con tin theo ngoại đạo, sâu nhiễm pháp Bà-la-môn, các con nên qua thưa với cha chúng con để cùng nhau đi".
Tịnh-Tạng, Tịnh-Nhãn thưa: "Chúng con là con của Vua-Pháp, sao lại sanh vào nhà tà-kiến?".
Phu nhân dạy: "Các con nên thương tưởng cha các con mà hiển phép thần-thông biến hoá, thấy đặng phép ấy, ắt lòng cha con thanh-tịnh, hoặc nghe lời chúng ta mà qua đến chỗ Phật ở".
Ngay lúc đó, hai người con, vì tưởng nhớ đến cha, bay vọt lên hư-không cao bằng bảy cây đa-la, hiện các món thần-thông, như đi, đứng, ngồi, nằm trong hư-không, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn choán hết hư-không rồi hiện lại nhỏ, nhỏ lại hiện ra lớn, ẩn mất trong hư-không rồi bỗng hiện ra trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất.
Thấy thần-lực của con như vậy, vua cha lòng rất vui mừng, như đặng vật chưa từng có, bèn chắp tay hướng về con mà nói rằng: "Thầy của các con là ai? Các con là đệ-tử của ai?".
Hai con thưa: "Đức Phật Lôi-Âm Tú-Vương-Hoa-Trí kia, hiện đang ngồi trên pháp-toà dưới cây bồ-đề bằng bảy báu, trong đám trời, người trên thế-gian, rộng nói Kinh Pháp-Hoa, là thầy của chúng con đó; chúng con là đệ-tử của Ngài".
Vua cha nói: "Ta nay cũng muốn ra mắt thầy các con, vậy chúng ta cùng đi".
Khi đó hai người con, từ hư-không xuống, đến chỗ mẹ ở, chắp tay thưa: "Phụ-vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát tâm Vô-thượng-giác. Chúng con đã vì cha mà làm xong Phật-sự rồi, vậy mong mẹ bằng lòng chúng con xuất gia tu hành nơi chỗ đức Phật Lôi-Âm". Nói xong, hai người con lại đọc bài kệ:
Xin mẹ cho các con,
Xuất gia làm Sa-môn,
Các Phật rất khó gặp,
Cho con theo Phật học.
Gặp hoa Ưu-đàm khó,
Gặp Phật còn khó hơn,
Khỏi các nạn cũng khó,
Nên cho con xuất gia.
Mẹ liền bảo: "Cho các con xuất gia, vì Phật khó gặp vậy".
Hai con liền thưa: "Thưa cha mẹ, như thế thì hay lắm! Chúng con xin liền qua chỗ Phật Vân-Lôi-Âm để gần gũi cúng dường. Khó cho người gặp hoa Linh-thoại, khó cho rùa một mắt gặp bộng cây nổi ([5]), gặp được Phật cũng khó như thế. Chúng ta phước đức đời trước sâu dày nên mới sanh đời này gặp Phật-pháp, bởi vậy xin cha mẹ nghe chúng con mà xuất gia. Các đức Phật khó gặp, thời kỳ gặp Phật cũng khó có".
Lúc đó, nơi hậu cung vua Diệu-Trang-Nghiêm, có 8 muôn bốn ngàn người đều có thể thọ trì được Kinh Pháp-Hoa này. Còn Bồ-tát Tịnh Nhãn và Bồ-tát Tịnh-Tạng, vì muốn làm cho tất cả chúng-sanh xa lìa các đường dữ, nên Tịnh-Nhãn đã từ lâu thông-đạt nơi "Pháp-Hoa tam-muội", và Tịnh Tạng từ vô lượng kiếp đã thông-đạt môn "Ly chư ác thú tam muội".
Phu nhân của vua đặng môn "Chư Phật Tập tam muội", năng biết tạng bí-mật của chư Phật.
Nhờ hai con dùng sức phương tiện khéo hoá độ như thế, lòng vua tin hiểu, ưa mến Phật-pháp.
Bấy giờ, nhà vua với quần thần quyến thuộc, Tịnh-Đức phu-nhân với thể nữ nơi hậu cung, hai vương-tử với 4 muôn 2 ngàn người đồng một lúc đi qua chỗ Phật Lôi-Âm ở. Đến nơi rồi, tất cả đều làm lễ rồi đứng qua một bên. Phật vì vua nói pháp, chỉ dạy điều lợi ích, vui mừng, nhà vua lấy làm vui đẹp.
Bấy giờ, vua Diệu-Trang-Nghiêm cùng phu-nhân mở chuỗi trân châu giá trị trăm ngàn đang đeo ở cổ, tung rải trên đức Phật. Trong hư-không, chuỗi ấy hoá thành đài báu bốn trụ, trên đài có giường báu lớn, trăm ngàn muôn thiên-y phủ lên, trên đó có Phật ngồi kiết-già, phóng hào quang-sáng lớn. Nhà vua mới nghĩ rằng: "Thân Phật ít có, đoan-trang, nghiêm chỉnh hết sức đặc biệt, thật là một sự thành-công vi diệu bậc nhất về mặt hình-tướng!".
Bấy giờ Phật Lôi-Âm bảo bốn chúng: "Các ngươi thấy Diệu-Trang-Nghiêm chắp tay đứng trước ta đó chăng? Nhà vua, ở trong pháp ta, làm tỳ-kheo siêng ròng tu tập các pháp trợ Phật-đạo, sẽ đặng làm Phật, hiệu là Ta-La-Thọ-Vương, nước tên Đại-Quang, kiếp tên Đại-Cao-Vương. Phật Ta-La-Thọ-Vương có vô lượng Bồ-tát và vô lượng Thanh-văn, nước đó bình chánh, công-đức như vậy".
Vua Diệu-Trang-Nghiêm tức thời giao nước cho em, rồi cùng phu nhân, hai người con và quyến thuộc, ở trong Phật-pháp xuất gia tu hành.
Xuất gia rồi, trong 8 muôn 4 ngàn năm, thường siêng tinh-tấn tu hành Kinh Diệu-Pháp, sau đó đặng tam-muội "Nhất-thế Tịnh-Công-đức Trang-Nghiêm". Đặng tam-muội xong, liền bay lên hư-không cao bảy cây đa-la mà bạch Phật: "Thế-Tôn! Hai người con của con đây đã làm Phật-sự, dùng thần-thông biến hoá, xoay tâm tà của con, khiến con an trụ trong Phật-pháp, được thấy Thế-Tôn. Hai người con ấy là thiện-tri-thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước, làm lợi ích cho con, nên đến sanh vào nhà con".
Phật Vân-Lôi-Âm bảo nhà vua: "Đúng thế! Đúng thế! Quả như lời ông nói, nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân nào trồng cội lành, thời đời đời được gặp hàng thiện-tri-thức hay làm Phật-sự, chỉ dạy cho sự lợi ích vui mừng, khiến vào đường Vô-thượng-Giác.
"Đai-vương nên biết: Nhân-duyên lớn nào mà giáo hoá, dìu dắt làm cho đặng thấy Phật, phát tâm Vô-thượng-giác, thời đó là thiện-tri-thức.
"Đại-vương! Đại-vương thấy hai người con này chăng? Hai người ấy đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm ngàn muôn ức Hằng-hà-sa đức Phật, thân cận cung kính chư Phật, nơi chỗ chư Phật ở, thọ trì Kinh Pháp-Hoa thương tưởng những chúng-sanh tà-kiến mà khiến cho họ trụ trong chánh-kiến".
Vua Diệu-Trang-Nghiêm, từ trên hư-không xuống tán thán công-đức Như-Lai xong, liền bạch Phật "Thế-Tôn! Thật là chưa từng có, Pháp của Như-Lai đầy đủ những vi-diệu công-đức xây dựng (thành-tựu) không thể nghĩ bàn, dạy răn việc làm, khiến được an ổn rất hay.Từ nay, con nguyện không còn theo "tâm-hành" của mình nữa, chẳng sanh lòng tà-kiến, ngạo-nghễ, giận-hờn".
Thưa xong, vua làm lễ rồi lui ra.
Phật bảo đại chúng: "Ý các ngươi nghĩ sao? Vua Diệu-Trang-Nghiêm đâu phải người nào lạ, chính nay là Bồ-tát Hoa-Đức hiện ở trước Phật đó. Hai người con là Bồ-tát Dược-Vương và Dược-Thượng vậy. Hai Bồ-tát này đã thành tựu các công-đức lớn như thế, ai mà biết danh tự của hai Bồ-tát đó, thời đáng cho nhân dân lễ lạy".
Lúc Phật nói phẩm "Diệu-Trang-Nghiêm Vương Bổn-Sự" này có 8 muôn bốn ngàn người xa trần lụy, rời cấu nhiễm, ở trong các pháp, đặng pháp "nhãn-tịnh".
*
* *

Huyền nghĩa

Trước xin nhắc hai lời giải của:

1.Hải-Ấn Đại-sư

Diệu-Trang-Nghiêm là Như-Lai tại triền, tiêu-biểu cho bát thức tâm vương.
Tịnh Tạng (Ý-thức), Tịnh-Nhãn (Mạt-na-thức) tiêu-biểu cho "chuyển nhiễm thành tịnh".
Phu-nhân nhu thuận nội trợ, tiêu-biểu cho "Chỉ-quán nội huân" (Tịnh trị Vô-minh, cố danh Tịnh-Đức).
Hai con xin xuất gia trước, tiêu-biểu cho điều-kiện phải bắt đầu chuyển đệ-lục và đệ-thất thức nhiên hậu mới làm cho Bổn-giác xuất triền (Cha xuất gia đi tu).
Tóm: Dùng chỉ-quán lực để đặng "vô-phân-biệt-tâm", có "vô-phân-biệt-tâm" thời cùng với chư Phật có một trí dụng tương ưng. Y-pháp-lực tu hành, Chân-như huân tập, diệt vô-minh, nên kêu là Pháp-lực-gia trì, còn phẩm trước là "thần-lực gia-trì".

2.Minh-Chánh Thiền-sư.

Khéo giữ tâm mình, biện minh tà chánh, chớ thấy được như vậy mà cho là đủ rồi sanh lười biếng. Vì vậy:
- Diệu-Trang-Nghiêm là tiêu-biểu cho tâm của người tu hành.
- Tịnh-Đức phu-nhân tiêu-biểu cho Chánh Trí-huệ.
- Tịnh-Tạng tiêu-biểu cho Chánh-Trí.
- Tịnh-Nhãn tiêu-biểu cho Chánh-kiến.
Tu hành mà năng theo Chánh-Trí-huệ, Chánh-Trí, Chánh-Kiến ấy và lấy đó làm thiện-tri-thức, thời đó là "khéo giữ tự tâm", đả phá sự che đậy của thức (Tu hành nhân năng y thử Chánh Trí-huệ, Chánh-Trí, Chánh-Kiến, dĩ vi bổn hiện thiện-tri-thức, thử giả thiện hộ tư tâm phá thức âm)
Theo lối giải từ trước tới nay của tôi và cũng theo mạch Kinh , nghĩa huyền của phẩm 27 hình như sau đây.
Kinh bảo, hồi đời lâu xưa vô cùng vô tận, tại nước Quang-Minh, có Phật hiệu Vân-Lôi-Âm Tú-Vương-Hoa-Trí. Nếu chúng ta phân-tách danh-hiệu này, chúng ta sẽ thấy có ba đoạn:
- Vân-Lôi-Âm (tiếng của mây-sấm hay của sấm chập-chồng như mây đùn).
- Tú-Vương (vua của các tinh-tú).
- Hoa-Trí (tinh-hoa của các trí: fleur desintelligences, tức "bát-nhã-trí"
Vậy, theo phương-pháp tượng-trưng, chúng ta có thể hiểu đoạn đầu của Kinh như thế này: Tâm nào (nước) có Ánh-Sáng (Quang-Minh) thời ở đấy có Tiếng Sấm liên tục (Vân-Lôi-Âm), có một vì sao chúa các tinh-tú (Tú-Vương), có Hoa Trí-Huệ(Hoa-Trí). Đó là tâm-trạng, là đời sống tinh-thần của những người tu hành đã giác-ngộ, nói đúng hơn: đã trở về với bổn-tâm, bổn-tánh của mình. Tiếng sấm tiêu-biểu cho tiếng Pháp (Voix du Dharma) hay Diệu-Âm đã nói ở phẩm trước.
Còn sau đây là nghĩa ẩn của toàn phẩm.
Người "vua" nào mà lấy cái "diệu" (spiritualité) mà trang-nghiêm thân, thời trong có đức Tịnh, mà có Tịnh, là có sanh Tịnh-tạng,Tịnh-nhãn là hai hậu quả của Thanh-tịnh. Tịnh-tạng là Phước-đức; Tịnh-nhãn là Chánh-kiến, là Trí Bát-nhã.
Nhưng chưa đủ, còn cần phải đạt đến chỗ tiếng Sấm liên hồi, tức tiếng Pháp bất tuyệt.
Và muốn nghe được tiếng Pháp ấy, phải thấy cho được cái Vô-ngại (đi đứng ngồi nằm trong hư-không), cái Biến-hoá (trên nước dưới lửa, trên lửa dưới nước) cái Vô-cùng Vô-cực (lớn hiện ra nhỏ, nhỏ hiện ra lớn) cái Ẩn-hiện vô chừng (Ẩn là Non-manifesté, Hiện là Manifesté), và cái Khắp-cùng (vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất) của cái mà Kinh, ngay ở phẩm đầu đã chỉ, gọi là "Nhất-chân-pháp-giới" bình-đẳng-L'Univers-Un-Réel-Identique; Tâm-Sắc là Một.
Cái thấy ấy, không cần học với ai hơn là học với ông Phật Vân-Lôi-Âm của mình, với Tâm-Pháp của mình. Vậy mình là đệ-tử của mình.
Có 4 điều-kiện cần thực-hiện nếu muốn đến chỗ Vân-Lôi-Âm: toàn thân (vua và quần thần phải được "diệu-trang-nghiêm" (giữ giới), toàn tâm (phu nhân và thể nữ) phải hoàn-toàn thanh-tịnh (tịnh-đức), toàn thức (ý-thức tức Tạng-thức và tiền ngũ-thức do Nhãn đại diện) phải được thanh-tịnh, và chót hết là cúng-dường tự Phật, tán thán tự Pháp. _Lễ Phật Lôi-Âm là lễ tự tâm, và muốn Giác-ngộ (thành Phật), phải ở trong Pháp-Phật (Tâm thanh-tịnh) mà tác sự, bao nhiêu việc thế đều xả (giao nước cho em), không theo những "hành" của tâm tà-kiến, ngạo-nghễ, giận hờn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn